<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=%C4%90%C3%A1m_m%C3%A2y_Oort</id>
	<title>Đám mây Oort - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=%C4%90%C3%A1m_m%C3%A2y_Oort"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=%C4%90%C3%A1m_m%C3%A2y_Oort&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-07T12:36:05Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=%C4%90%C3%A1m_m%C3%A2y_Oort&amp;diff=24434&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;InternetArchiveBot: Add 1 book for Wikipedia:Thông tin kiểm chứng được (20260723sim)) #IABot (v2.0.9.5) (GreenC bot</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=%C4%90%C3%A1m_m%C3%A2y_Oort&amp;diff=24434&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-07-24T13:05:14Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Add 1 book for &lt;a href=&quot;/index.php?title=Wikipedia:Th%C3%B4ng_tin_ki%E1%BB%83m_ch%E1%BB%A9ng_%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1&quot; class=&quot;new&quot; title=&quot;Wikipedia:Thông tin kiểm chứng được (trang không tồn tại)&quot;&gt;Wikipedia:Thông tin kiểm chứng được&lt;/a&gt; (20260723sim)) #IABot (v2.0.9.5) (&lt;a href=&quot;/index.php?title=Th%C3%A0nh_vi%C3%AAn:GreenC_bot&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1&quot; class=&quot;new&quot; title=&quot;Thành viên:GreenC bot (trang không tồn tại)&quot;&gt;GreenC bot&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{{About|đám mây Oort bên ngoài|đám mây Oort bên trong|đám mây Hills}}&lt;br /&gt;
{{multiple image&lt;br /&gt;
 |direction = vertical&lt;br /&gt;
 |align = right&lt;br /&gt;
 |width = 300&lt;br /&gt;
 |image1=PIA17046 - Voyager 1 Goes Interstellar.jpg&lt;br /&gt;
 |image2=Kuiper oort-en.svg&lt;br /&gt;
 |caption1=Khoảng cách từ đám mây Oort đến vùng phía trong của Hệ Mặt Trời, và hai ngôi sao gần nhất, được tính theo [[đơn vị thiên văn]]. Tỉ lệ được [[Thang đo lôgarit|tính theo lôgarit]]; mỗi khoảng cách được thể hiện xa hơn gấp mười lần so với khoảng cách trước đó. Mũi tên đỏ chỉ vị trí của [[thăm dò không gian|tàu thăm dò]] [[Voyager 1]], con tàu này sẽ chạm tới đám mây Oort trong vòng khoảng 300 năm nữa.&lt;br /&gt;
 |caption2=Hình vẽ theo tưởng tượng của nghệ sĩ về đám mây Oort và [[Vành đai Kuiper]]; kích thước các vật thể được tăng tỉ lệ lên để dễ quan sát.&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Đám mây Oort&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; ({{IPAc-en|ɔːr|t|,_|ʊər|t}}),&amp;lt;ref&amp;gt;{{OED|Oort}}&amp;lt;/ref&amp;gt; đôi khi được gọi là &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;đám mây Öpik – Oort&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;,&amp;lt;ref name=&amp;quot;Whipple&amp;quot; /&amp;gt; là một đám mây [[Lý thuyết khoa học|giả thuyết]] chủ yếu bao gồm các [[vi thể hành tinh]] băng giá được cho là bao quanh [[Mặt Trời]] ở khoảng cách từ 2.000 đến 200.000 [[Đơn vị thiên văn|au]] (0,03 đến 3,2 [[năm ánh sáng]])&amp;lt;ref group=&amp;quot;note&amp;quot;&amp;gt;Rất khó để xác định giới hạn bên ngoài của đám mây Oort vì nó biến đổi theo [[thiên niên kỷ]] vì [[Danh sách các sao gần nhất#Tương lai và quá khứ|có những ngôi sao khác nhau di chuyển ngang qua Mặt Trời]] và do đó bị biến đổi. Các ước tính về phạm vi khoảng cách của nó nằm trong khoảng từ 50.000 đến 200.000 au.&amp;lt;/ref&amp;gt; và được nhà thiên văn học người Hà Lan [[Jan Hendrik Oort|Jan Oort]] mô tả lần đầu tiên vào năm 1950.&amp;lt;ref name=&amp;quot;SPC-20181004&amp;quot;&amp;gt;{{Chú thích báo|url=https://www.space.com/16401-oort-cloud-the-outer-solar-system-s-icy-shell.html|title=Oort Cloud: The Outer Solar System&amp;#039;s Icy Shell|last=Redd|first=Nola Taylor|date=ngày 4 tháng 10 năm 2018|work=[[Space.com]]|access-date=ngày 18 tháng 8 năm 2020}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Nó được chia thành hai vùng: đám mây Oort bên trong có [[Đĩa vũ trụ tròn|hình đĩa]] (hay [[đám mây Hills]]) và đám mây Oort bên ngoài hình cầu. Cả hai khu vực đều nằm ngoài [[nhật quyển]] và nằm trong [[Không gian ngoài thiên thể|không gian giữa các vì sao]].&amp;lt;ref name=&amp;quot;Morbidelli2006&amp;quot; /&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;jpl.PIA17046&amp;quot;&amp;gt;{{chú thích web |url=http://photojournal.jpl.nasa.gov/catalog/PIA17046 |title=Catalog Page for PIA17046 |work=Photo Journal |publisher=NASA |date= |access-date =ngày 27 tháng 4 năm 2014}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Hai hồ chứa [[thiên thể bên ngoài Sao Hải Vương]] khác là [[Vành đai Kuiper]] và [[đĩa phân tán]] có khoảng cách so với Mặt Trời lớn chưa đầy một phần nghìn so với đám mây Oort.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rìa bên ngoài của đám mây Oort xác định ranh giới vũ trụ của [[Hệ Mặt Trời]] và phạm vi của [[quyển Hill]] của Mặt Trời.&amp;lt;ref name=&amp;quot;NASA_SSE_oort&amp;quot; /&amp;gt; Đám mây Oort bên ngoài chỉ liên kết lỏng lẻo với Hệ Mặt Trời, và do đó dễ dàng bị ảnh hưởng bởi lực hấp dẫn của cả những [[Danh sách các sao gần nhất|ngôi sao đi qua]] và của chính [[Ngân Hà|Dải Ngân Hà]]. Những lực này đôi khi đánh bật [[Sao chổi|các sao chổi]] ra khỏi quỹ đạo của chúng trong đám mây và đưa chúng về phía [[Hệ Mặt Trời|bên trong Hệ Mặt Trời]].&amp;lt;ref name=Morbidelli2006 /&amp;gt; Dựa trên quỹ đạo của chúng, hầu hết các [[Sao chổi|sao chổi chu kỳ ngắn]] có thể đến từ đĩa phân tán, nhưng một số khác vẫn có thể có nguồn gốc từ đám mây Oort.&amp;lt;ref name=Morbidelli2006 /&amp;gt;&amp;lt;ref name=emel2007 /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các nhà thiên văn phỏng đoán rằng vật chất tạo nên đám mây Oort được hình thành gần Mặt Trời hơn và bị phân tán ra xa vào không gian do tác động hấp dẫn của các [[hành tinh khổng lồ]] trong [[Sự hình thành và tiến hóa của Hệ Mặt Trời|quá trình tiến hóa của Hệ Mặt Trời]].&amp;lt;ref name=Morbidelli2006 /&amp;gt; Mặc dù chưa thực hiện quan sát trực tiếp nào được xác nhận về đám mây Oort, nhưng nó có thể là nguồn gốc của tất cả các sao chổi [[Sao chổi|thời kỳ dài]] và sao chổi loại [[Sao chổi Halley|Halley]] đi vào bên trong Hệ Mặt Trời, và cũng của nhiều sao chổi thuộc họ [[Sao Mộc]] và [[Centaur (hành tinh vi hình)|centaur]].&amp;lt;ref name=&amp;quot;emel2007&amp;quot; /&amp;gt;&lt;br /&gt;
{{TNO}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Giả thuyết ==&lt;br /&gt;
Có hai loại sao chổi chính: sao chổi chu kỳ ngắn (còn gọi là sao chổi [[hoàng đạo]]) và sao chổi chu kỳ dài (còn gọi là sao chổi gần [[đẳng hướng]]). Sao chổi hoàng đạo có quỹ đạo tương đối nhỏ, dưới 10 au, và đi theo [[Hoàng đạo|mặt phẳng hoàng đạo]], cùng một mặt phẳng mà các hành tinh nằm trên. Tất cả các sao chổi chu kỳ dài đều có quỹ đạo rất lớn, xấp xỉ hàng nghìn au, và xuất hiện từ mọi hướng trên bầu trời.&amp;lt;ref name=book /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào năm 1907, AO Leuschner cho rằng nhiều sao chổi được cho là có quỹ đạo parabol và do đó chỉ ghé qua Hệ Mặt Trời một lần thì thực ra là có quỹ đạo hình elip và sẽ quay trở lại sau một thời gian rất dài.&amp;lt;ref name=&amp;quot;ley1967204&amp;quot;&amp;gt;{{Chú thích tạp chí&lt;br /&gt;
 |last=Ley&lt;br /&gt;
 |first=Willy&lt;br /&gt;
 |author=&lt;br /&gt;
 |last2=&lt;br /&gt;
 |first2=&lt;br /&gt;
 |last3=&lt;br /&gt;
 |first3=&lt;br /&gt;
 |date=April 1967&lt;br /&gt;
 |title=The Orbits of the Comets&lt;br /&gt;
 |department=For Your Information&lt;br /&gt;
 |url=https://archive.org/stream/Galaxy_v25n04_1967-04#page/n55/mode/2up&lt;br /&gt;
 |magazine=Galaxy Science Fiction|volume=25|issue=4&lt;br /&gt;
 |pages=55–63&lt;br /&gt;
 |type=&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Vào năm 1932, nhà thiên văn học [[Estonia|người Estonia]] Ernst Öpik đã công nhận rằng các sao chổi chu kỳ dài có nguồn gốc từ một đám mây quay quanh quỹ đạo ở rìa ngoài cùng của [[Hệ Mặt Trời]].&amp;lt;ref name=&amp;quot;Öpik-1932&amp;quot;&amp;gt;{{Chú thích tạp chí|last=Ernst Julius Öpik|date=1932|title=Note on Stellar Perturbations of Nearby Parabolic Orbits|journal=[[Proceedings of the American Academy of Arts and Sciences]]|volume=67|issue=6|pages=169–182|doi=10.2307/20022899|jstor=20022899}}&amp;lt;/ref&amp;gt; [[Người Hà Lan|Nhà]] thiên văn học [[người Hà Lan]] [[Jan Hendrik Oort|Jan Oort]] đã hồi sinh lại ý tưởng này một cách độc lập vào năm 1950 và coi nó là một cách để giải quyết một nghịch lý:&amp;lt;ref name=Oort /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Trong quá trình tồn tại của Hệ Mặt Trời, quỹ đạo của các sao chổi không ổn định, và cuối cùng [[động lực học]] quyết định rằng một sao chổi phải va chạm với Mặt Trời hoặc một hành tinh hoặc bị đẩy ra khỏi Hệ Mặt Trời do [[Nhiễu loạn (thiên văn học)|nhiễu loạn]] hành tinh.&lt;br /&gt;
* Hơn nữa, do có thành phần dễ bay hơi nên mỗi khi chúng tiếp cận Mặt Trời thì [[Bức xạ điện từ|bức xạ]] Mặt Trời dần dần sẽ làm sôi các chất bay hơi cho đến khi sao chổi bị tách ra hoặc phát triển một lớp vỏ cách nhiệt ngăn chặn quá trình bốc hơi ra ngoài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Oort lý luận rằng, chính vì vậy mà một sao chổi không thể hình thành khi đang ở trong quỹ đạo hiện tại của nó mà phải được giữ trong một hồ chứa phía ngoài trong hầu hết toàn bộ thời gian tồn tại của nó.&amp;lt;ref name=book /&amp;gt;&amp;lt;ref name=Oort /&amp;gt;&amp;lt;ref name=dave /&amp;gt; Ông lưu ý rằng sao chổi chu kỳ dài có [[Củng điểm quỹ đạo|viễn điểm quỹ đạo]] (khoảng cách xa nhất của chúng so với Mặt Trời) khoảng 20.000&amp;amp;nbsp;au có số lượng lớn nhất trong số các sao chổi chu kỳ dài, điều này gợi ra rằng có tồn tại một hồ chứa ở khoảng cách đó với một sự phân bố hình cầu, đẳng hướng. Những sao chổi tương đối hiếm có quỹ đạo khoảng 10.000&amp;amp;nbsp;au có lẽ đã đi qua một hoặc nhiều quỹ đạo qua Hệ Mặt Trời và quỹ đạo của chúng bị [[Tương tác hấp dẫn|lực hấp dẫn]] của các hành tinh hút vào trong.&amp;lt;ref name=book /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Cấu trúc và thành phần ==&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Oort cloud Sedna orbit-vi.svg|nhỏ|Khoảng cách giả định của đám mây Oort so với phần còn lại của Hệ Mặt Trời]]&lt;br /&gt;
Đám mây Oort được cho là chiếm một không gian rộng lớn từ khoảng {{Convert|2000|đến|5000|au|ly|2|abbr=on}}&amp;lt;ref name=book /&amp;gt; cho tới xa nhất là {{Convert|50000|au|ly|2|abbr=on}} tính từ Mặt Trời.&amp;lt;ref name=Morbidelli2006 /&amp;gt; Một số ước tính đặt ranh giới bên ngoài vào khoảng từ {{Convert|100000|and|200000|au|ly|2|abbr=on}}.&amp;lt;ref name=book /&amp;gt; Nó có thể được chia thành đám mây Oort hình cầu bên ngoài rộng khoảng {{Convert|20000|-|50000|au|ly|2|abbr=on}}, và đám mây Oort bên trong hình [[Hình xuyến|xuyến]] có kích thước {{Convert|2000|-|20000|au|ly|1|abbr=on}}. Đám mây bên ngoài chỉ liên kết yếu với Mặt Trời và cung cấp các sao chổi chu kỳ dài (và có thể là loại Halley) vào bên trong quỹ đạo của [[Sao Hải Vương]].&amp;lt;ref name=Morbidelli2006 /&amp;gt; Đám mây Oort bên trong còn được gọi là đám mây Hills, được đặt theo tên của Jack G. Hills, người đã đề xuất sự tồn tại của nó vào năm 1981.&amp;lt;ref name=&amp;quot;hills1981&amp;quot; /&amp;gt; Các mô hình dự đoán rằng đám mây bên trong phải có nhiều hạt nhân sao chổi gấp hàng chục hoặc hàng trăm lần quầng bên ngoài;&amp;lt;ref name=&amp;quot;hills1981&amp;quot; /&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;levison2001&amp;quot; /&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;Donahue1991&amp;quot; /&amp;gt; nó được coi là một nguồn khả thi các sao chổi mới nhằm tiếp tế cho đám mây bên ngoài mỏng manh khi số lượng của đám mây này đang dần cạn kiệt. Đám mây Hills giải thích sự tồn tại tiếp tục của đám mây Oort sau hàng tỷ năm.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Julio1997&amp;quot; /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đám mây Oort bên ngoài có thể có hàng nghìn tỷ vật thể lớn hơn {{Convert|1|km|2|abbr=on}},&amp;lt;ref name=Morbidelli2006 /&amp;gt; và hàng tỷ với [[cấp sao tuyệt đối]]&amp;lt;ref&amp;gt;Absolute magnitude is a measure of how bright an object would be if it were 1 au from the Sun and Earth; as opposed to [[apparent magnitude]], which measures how bright an object appears from Earth. Because all measurements of absolute magnitude assume the same distance, absolute magnitude is in effect a measurement of an object&amp;#039;s brightness. The lower an object&amp;#039;s absolute magnitude, the brighter it is.&amp;lt;/ref&amp;gt; sáng hơn 11 (tương ứng với đường kính khoảng {{Convert|20|km|0}}), với các vật thể lân cận cách nhau hàng chục triệu km.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích web|url=http://www.sciamdigital.com/index.cfm?fa=Products.ViewIssuePreview&amp;amp;ISSUEID_CHAR=8DB2FB44-6B4B-47AF-B46B-791A911764D&amp;amp;ARTICLEID_CHAR=B294C211-98B8-4374-92AB-158C4866AB1|tựa đề=The Oort Cloud|tác giả=Paul R. Weissman|ngày=1998|website=[[Scientific American]]|url lưu trữ=https://www.webcitation.org/68uaeB5os?url=http://www.sciamdigital.com/index.cfm?fa=Products.ViewIssuePreview&amp;amp;ISSUEID_CHAR=8DB2FB44-6B4B-47AF-B46B-791A911764D&amp;amp;ARTICLEID_CHAR=B294C211-98B8-4374-92AB-158C4866AB1|ngày lưu trữ=2012-07-04|ngày truy cập=2007-05-26}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Không rõ tổng khối lượng của nó, nhưng giả sử rằng [[Sao chổi Halley]] là một nguyên mẫu thích hợp cho các sao chổi bên trong đám mây Oort bên ngoài thì khối lượng tổng hợp là {{Convert|3E25|kg|lb}}, nói cách khác là gấp năm lần Trái đất.&amp;lt;ref name=Morbidelli2006 /&amp;gt;&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích tạp chí|last=Paul R. Weissman|date=1983|title=The mass of the Oort Cloud|url=https://archive.org/details/sim_astronomy-and-astrophysics_1983-02_118_1/page/90|journal=[[Astronomy and Astrophysics]]|volume=118|issue=1|pages=90–94|bibcode=1983A&amp;amp;A...118...90W}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Trước đây, nó được cho là có khối lượng lớn hơn (tới 380 lần khối lượng Trái đất)&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích web|url=http://www.tinbergen.nl/~buhai/pictures/UCU/Physics_AppliedMathematics/Astrophysics/long_period_comets.pdf|tựa đề=On the Origin of the Long Period Comets: Competing theories|tác giả=Sebastian Buhai|nhà xuất bản=Utrecht University College|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20060930193158/http://www.tinbergen.nl/~buhai/pictures/UCU/Physics_AppliedMathematics/Astrophysics/long_period_comets.pdf|ngày lưu trữ=2006-09-30|ngày truy cập=2008-03-29}}&amp;lt;/ref&amp;gt; nhưng do kiến thức về sự phân bố kích thước của các sao chổi chu kỳ dài được cải thiện dẫn đến một con số ước tính thấp hơn. Chưa có bất kỳ công bố nào về ước tính khối lượng của đám mây Oort bên trong.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu phân tích của sao chổi là đại diện cho toàn bộ thì phần lớn các vật thể trong đám mây Oort có thành phần là các chất dễ bay hơi chẳng hạn như [[Băng|nước]], [[mêtan]], [[etan]], [[cacbon monoxit]] và [[axit xianhidric]].&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích tạp chí|last=E. L. Gibb|last2=M. J. Mumma|last3=N. Dello Russo|last4=M. A. DiSanti|last5=K. Magee-Sauer|name-list-style=amp|date=2003|title=Methane in Oort Cloud comets|journal=[[Icarus (journal)|Icarus]]|volume=165|issue=2|pages=391–406|bibcode=2003Icar..165..391G|doi=10.1016/S0019-1035(03)00201-X}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Tuy nhiên, việc phát hiện ra vật thể {{Mpl|1996 PW}} - một vật thể có bề ngoài phù hợp với tiểu hành tinh loại D&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích tạp chí|last=Rabinowitz|first=D. L.|date=August 1996|title=1996 PW|journal=[[IAU Circular]]|volume=6466|issue=|pages=2|bibcode=1996IAUC.6466....2R|doi=}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích tạp chí|last=Davies|first=John K.|last2=McBride|first2=Neil|last3=Green|first3=Simon F.|last4=Mottola|first4=Stefano|last5=Carsenty|first5=Uri|last6=Basran|first6=Devinder|last7=Hudson|first7=Kathryn A.|last8=Foster|first8=Michael J.|display-authors=4|date=April 1998|title=The Lightcurve and Colors of Unusual Minor Planet 1996 PW|journal=[[Icarus (journal)|Icarus]]|volume=132|issue=2|pages=418–430|bibcode=1998Icar..132..418D|doi=10.1006/icar.1998.5888}}&amp;lt;/ref&amp;gt; trên quỹ đạo điển hình của một sao chổi chu kỳ dài - đã thúc đẩy các nghiên cứu lý thuyết cho rằng quần thể đám mây Oort bao gồm khoảng một đến hai phần trăm tiểu hành tinh.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích tạp chí|last=Paul R. Weissman|last2=Harold F. Levison|date=1997|title=Origin and Evolution of the Unusual Object 1996 PW: Asteroids from the Oort Cloud?|journal=[[Astrophysical Journal]]|volume=488|issue=2|pages=L133–L136|bibcode=1997ApJ...488L.133W|doi=10.1086/310940|doi-access=free}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Phân tích tỷ lệ [[đồng vị]] cacbon và nitơ trong cả sao chổi chu kỳ dài và sao chổi họ Sao Mộc cho thấy có ít sự khác biệt giữa hai loại, mặc dù vùng xuất xứ của chúng được cho là rất tách biệt. Điều này cho thấy rằng cả hai đều có nguồn gốc từ đám mây tiền cực ban đầu,&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích tạp chí|last=D. Hutsemekers|last2=J. Manfroid|last3=E. Jehin|last4=C. Arpigny|last5=A. Cochran|last6=R. Schulz|last7=J.A. Stüwe|last8=J.M. Zucconi|name-list-style=amp|date=2005|title=Isotopic abundances of carbon and nitrogen in Jupiter-family and Oort Cloud comets|journal=[[Astronomy and Astrophysics]]|volume=440|issue=2|pages=L21–L24|arxiv=astro-ph/0508033|bibcode=2005A&amp;amp;A...440L..21H|doi=10.1051/0004-6361:200500160}}&amp;lt;/ref&amp;gt; và kết luận này cũng được hỗ trợ bởi các nghiên cứu về kích thước hạt trong sao chổi đám mây Oort&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích tạp chí|last=Takafumi Ootsubo|last2=Jun-ichi Watanabe|last3=Hideyo Kawakita|last4=Mitsuhiko Honda|last5=Reiko Furusho|name-list-style=amp|date=2007|title=Grain properties of Oort Cloud comets: Modeling the mineralogical composition of cometary dust from mid-infrared emission features|journal=Highlights in Planetary Science, 2nd General Assembly of Asia Oceania Geophysical Society|volume=55|issue=9|pages=1044–1049|bibcode=2007P&amp;amp;SS...55.1044O|doi=10.1016/j.pss.2006.11.012}}&amp;lt;/ref&amp;gt; và bởi nghiên cứu tác động gần đây của sao chổi [[Tempel 1]] thuộc họ Sao Mộc.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích tạp chí|last=Michael J. Mumma|last2=Michael A. DiSanti|last3=Karen Magee-Sauer|display-authors=etal|date=2005|title=Parent Volatiles in Comet 9P/Tempel 1: Before and After Impact|url=https://authors.library.caltech.edu/52069/7/Mumma.SOM.pdf|journal=[[Science (journal)|Science Express]]|volume=310|issue=5746|pages=270–274|bibcode=2005Sci...310..270M|doi=10.1126/science.1119337|pmid=16166477}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Nguồn gốc ==&lt;br /&gt;
Đám mây Oort được cho là đã phát triển sau khi [[Sự hình thành và tiến hóa của Hệ Mặt Trời|hình thành các hành tinh]] từ [[đĩa tiền hành tinh]] nguyên thủy khoảng 4,6&amp;amp;nbsp;tỷ năm trước.&amp;lt;ref name=Morbidelli2006 /&amp;gt; Giả thuyết được chấp nhận rộng rãi nhất là các vật thể của đám mây Oort ban đầu liên kết lại gần Mặt Trời hơn nhiều và là một phần của quá trình hình thành các [[hành tinh]] và [[Hành tinh vi hình|tiểu hành tinh]]. Sau khi hình thành, các tương tác hấp dẫn mạnh với các hành tinh khí khổng lồ chẳng hạn như Sao Mộc đã làm phân tán các vật thể thành các quỹ đạo hình elip hoặc parabol cực rộng, sau đó bị nhiễu loạn từ các ngôi sao đi ngang qua và các đám mây phân tử khổng lồ biến đổi thành các quỹ đạo tồn tại lâu dài tách ra khỏi phạm vi của các hành tinh khí khổng lồ.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích web|url=http://www.solstation.com/stars/oort.htm|tựa đề=Oort Cloud &amp;amp; Sol b?|nhà xuất bản=SolStation|ngày truy cập=2007-05-26|archive-date=2020-02-14|archive-url=https://web.archive.org/web/20200214082923/http://www.solstation.com/stars/oort.htm|url-status=dead}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nghiên cứu gần đây của NASA đặt giả thuyết rằng một số lượng lớn các vật thể trong đám mây Oort là sản phẩm của sự trao đổi vật chất giữa Mặt Trời và các ngôi sao anh chị em của nó khi chúng hình thành và tách rời nhau và người ta cho rằng nhiều —có thể là phần lớn— vật thể đám mây Oort không hình thành ở gần Mặt Trời.&amp;lt;ref name=&amp;quot;nasax&amp;quot; /&amp;gt; Các mô phỏng về sự tiến hóa của đám mây Oort từ thuở sơ khai của Hệ Mặt Trời cho đến nay đã cho thấy khối lượng của đám mây đạt đỉnh vào khoảng 800&amp;amp;nbsp;hàng triệu năm sau khi hình thành, khi tốc độ bồi tụ và va chạm chậm lại và sự cạn kiệt bắt đầu vượt quá nguồn cung.&amp;lt;ref name=Morbidelli2006 /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mô hình của Julio Ángel Fernández gợi ý rằng [[đĩa phân tán]], nguồn cấp chính cho các sao chổi tuần hoàn trong Hệ Mặt Trời, cũng có thể là nguồn cấp chính cho các vật thể đám mây Oort. Theo các mô hình thì khoảng một nửa số vật thể phân tán di chuyển ra ngoài về phía đám mây Oort, trong khi đó một phần tư dịch chuyển vào trong quỹ đạo của Sao Mộc và một phần tư bị đẩy ra trong một quỹ đạo hình [[Hyperbol|hypebol]]. Đĩa phân tán có thể vẫn cung cấp nguyên liệu cho đám mây Oort.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích tạp chí|last=Julio A. Fernández|last2=Tabaré Gallardo|last3=Adrián Brunini|name-list-style=amp|date=2004|title=The scattered disc population as a source of Oort Cloud comets: evaluation of its current and past role in populating the Oort Cloud|journal=[[Icarus (journal)|Icarus]]|volume=172|issue=2|pages=372–381|bibcode=2004Icar..172..372F|doi=10.1016/j.icarus.2004.07.023}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Một phần ba số lượng vật thể đĩa phân tán có khả năng kết thúc tại trong đám mây Oort sau 2,5&amp;amp;nbsp;tỷ năm.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích sách|url=https://books.google.com/?id=WuDdVbJf_d8C&amp;amp;pg=PA43&amp;amp;dq=+oort+cloud|title=The First Decadal Review of the Edgeworth-Kuiper Belt.|last=Davies, J. K.|last2=Barrera, L. H.|date=2004|publisher=Kluwer Academic Publishers|isbn=978-1-4020-1781-0}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Hiệu ứng thủy triều ==&lt;br /&gt;
{{Main|Thủy triều thiên hà}}&lt;br /&gt;
Hầu hết các sao chổi được nhìn thấy ở gần Mặt Trời dường như đã đến vị trí hiện tại của chúng thông qua sự nhiễu loạn hấp dẫn của đám mây Oort bởi [[lực thủy triều]] gây ra bởi [[Ngân Hà|Dải Ngân Hà]]. Cũng giống như lực thủy triều của [[Mặt Trăng|Mặt trăng]] làm biến dạng các đại dương của Trái Đất và khiến thủy triều lên xuống thì thủy triều thiên hà cũng làm biến dạng quỹ đạo của các thiên thể trong [[Hệ Mặt Trời|Hệ Mặt Trời bên ngoài]]. Trong các vùng được lập biểu đồ của Hệ Mặt Trời thì những tác động này là không đáng kể so với lực hấp dẫn của Mặt Trời, nhưng ở vùng ngoài của hệ mà lực hấp dẫn của Mặt Trời yếu hơn thì gradient trường hấp dẫn của Dải Ngân Hà có những tác động đáng kể. Lực thủy triều thiên hà kéo căng đám mây dọc theo một trục hướng về trung tâm thiên hà và nén nó dọc theo hai trục còn lại; những nhiễu loạn nhỏ này có thể dịch chuyển quỹ đạo trong đám mây Oort để đưa các vật thể đến gần Mặt trời.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích tạp chí|last=Marc Fouchard|last2=Christiane Froeschlé|last3=Giovanni Valsecchi|last4=Hans Rickman|date=2006|title=Long-term effects of the galactic tide on cometary dynamics|url=https://archive.org/details/sim_celestial-mechanics-and-dynamical-astronomy_2006_95_1-4/page/299|journal=[[Celestial Mechanics and Dynamical Astronomy]]|volume=95|issue=1–4|pages=299–326|bibcode=2006CeMDA..95..299F|doi=10.1007/s10569-006-9027-8}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Điểm mà lực hấp dẫn của Mặt Trời chịu ảnh hưởng của nó đối với thủy triều thiên hà được gọi là bán kính cắt ngắn thủy triều. Nó nằm ở bán kính từ 100.000 đến 200.000 au, và đánh dấu ranh giới bên ngoài của đám mây Oort.&amp;lt;ref name=book /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một số học giả đặt giả thuyết rằng thủy triều thiên hà có thể đã góp phần vào sự hình thành của các đám mây Oort bằng cách làm tăng [[Củng điểm quỹ đạo|cận điểm quỹ đạo]] (khoảng cách nhỏ nhất đến Mặt Trời) của [[vi thể hành tinh]] với viễn điểm quỹ đạo lớn (khoảng cách lớn nhất đến Mặt Trời).&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích tạp chí|last=Higuchi A.|last2=Kokubo E.|last3=Mukai, T.|name-list-style=amp|date=2005|title=Orbital Evolution of Planetesimals by the Galactic Tide|journal=[[Bulletin of the American Astronomical Society]]|volume=37|page=521|bibcode=2005DDA....36.0205H}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Tác động của thủy triều thiên hà khá phức tạp và phụ thuộc nhiều vào hành vi của các vật thể riêng lẻ trong một hệ hành tinh. Tuy nhiên, về tổng thể, nó có thể có ảnh hưởng khá đáng kể: tới 90% tất cả các sao chổi có nguồn gốc từ đám mây Oort có thể là kết quả của thủy triều thiên hà.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích tạp chí|last=Nurmi P.|last2=Valtonen M.J.|last3=Zheng J.Q.|date=2001|title=Periodic variation of Oort Cloud flux and cometary impacts on the Earth and Jupiter|url=https://archive.org/details/sim_monthly-notices-of-the-royal-astronomical-society_2001-11-11_327_4/page/1366|journal=[[Monthly Notices of the Royal Astronomical Society]]|volume=327|issue=4|pages=1367–1376|bibcode=2001MNRAS.327.1367N|doi=10.1046/j.1365-8711.2001.04854.x|doi-access=free}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Các mô hình thống kê về quỹ đạo quan sát được của các sao chổi chu kỳ dài lập luận rằng thủy triều thiên hà là phương tiện chính khiến quỹ đạo của chúng bị xáo trộn về phía bên trong Hệ Mặt Trời.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích tạp chí|last=John J. Matese|last2=Jack J. Lissauer|name-list-style=amp|date=2004|title=Perihelion evolution of observed new comets implies the dominance of the galactic tide in making Oort Cloud comets discernible|url=http://www.ucs.louisiana.edu/~jjm9638/dps2003/I08821w.pdf|journal=[[Icarus (journal)|Icarus]]|volume=170|issue=2|pages=508–513|bibcode=2004Icar..170..508M|citeseerx=10.1.1.535.1013|doi=10.1016/j.icarus.2004.03.019}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Ghi chú ==&lt;br /&gt;
{{Tham khảo|group=note}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
{{Tham khảo|30em|refs=&amp;lt;ref name=&amp;quot;Whipple&amp;quot;&amp;gt;{{Chú thích tạp chí&lt;br /&gt;
 | last = Whipple | first = F. L.  | authorlink = Fred Lawrence Whipple&lt;br /&gt;
 | last2 = Turner | first2 = G.&lt;br /&gt;
 | last3 = McDonnell | first3 = J. A. M.&lt;br /&gt;
 | last4 = Wallis | first4 = M. K.&lt;br /&gt;
 | title = A Review of Cometary Sciences&lt;br /&gt;
 | journal = [[Philosophical Transactions of the Royal Society A]]&lt;br /&gt;
 | volume = 323 | issue = 1572 | pages = 339–347 [341]&lt;br /&gt;
 | date = ngày 30 tháng 9 năm 1987 | bibcode = 1987RSPTA.323..339W&lt;br /&gt;
 | doi = 10.1098/rsta.1987.0090&lt;br /&gt;
}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;ref name=&amp;quot;Morbidelli2006&amp;quot;&amp;gt;{{cite arXiv&lt;br /&gt;
 |author=Alessandro Morbidelli&lt;br /&gt;
 |date=2006&lt;br /&gt;
 |title=Origin and dynamical evolution of comets and their reservoirs of water ammonia and methane&lt;br /&gt;
 |eprint=astro-ph/0512256&lt;br /&gt;
}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;ref name=&amp;quot;NASA_SSE_oort&amp;quot;&amp;gt;{{chú thích web&lt;br /&gt;
 |title=Kuiper Belt &amp;amp; Oort Cloud&lt;br /&gt;
 |work=NASA Solar System Exploration web site&lt;br /&gt;
 |url=http://solarsystem.nasa.gov/planets/profile.cfm?Object=KBOs&amp;amp;Display=OverviewLong&lt;br /&gt;
 |publisher=[[NASA]]&lt;br /&gt;
 |access-date = ngày 8 tháng 8 năm 2011 |archive-date = ngày 5 tháng 6 năm 2013 |archive-url=https://www.webcitation.org/6H9dgALGe?url=http://solarsystem.nasa.gov/planets/profile.cfm?Object=KBOs&amp;amp;Display=OverviewLong&lt;br /&gt;
 |url-status=dead&lt;br /&gt;
 }}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;ref name=&amp;quot;emel2007&amp;quot;&amp;gt;{{chú thích tạp chí&lt;br /&gt;
 |author=V. V. Emelyanenko&lt;br /&gt;
 |author2=D. J. Asher&lt;br /&gt;
 |author3=M. E. Bailey&lt;br /&gt;
 |date=2007&lt;br /&gt;
 |title=The fundamental role of the Oort Cloud in determining the flux of comets through the planetary system&lt;br /&gt;
 |journal=[[Monthly Notices of the Royal Astronomical Society]]&lt;br /&gt;
 |volume=381 |issue=2 |pages=779–789&lt;br /&gt;
 |bibcode=2007MNRAS.381..779E&lt;br /&gt;
 |doi=10.1111/j.1365-2966.2007.12269.x&lt;br /&gt;
|citeseerx=10.1.1.558.9946}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;ref name=book&amp;gt;{{chú thích sách&lt;br /&gt;
 | author=Harold F. Levison&lt;br /&gt;
 | author2=Luke Donnes&lt;br /&gt;
 | chapter=Comet Populations and Cometary Dynamics&lt;br /&gt;
 | editor=Lucy Ann Adams McFadden&lt;br /&gt;
 | editor2=Lucy-Ann Adams&lt;br /&gt;
 | editor3=Paul Robert Weissman&lt;br /&gt;
 | editor4=Torrence V. Johnson&lt;br /&gt;
 | date=2007&lt;br /&gt;
 | title=Encyclopedia of the Solar System&lt;br /&gt;
 | url=https://archive.org/details/bwb_W8-BGD-739&lt;br /&gt;
 | pages=[https://archive.org/details/bwb_W8-BGD-739/page/575 575]–588&lt;br /&gt;
 | edition=2nd&lt;br /&gt;
 | publisher=Academic Press&lt;br /&gt;
 | location=Amsterdam; Boston&lt;br /&gt;
 | isbn=978-0-12-088589-3&lt;br /&gt;
 }}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;ref name=Oort&amp;gt;{{chú thích tạp chí&lt;br /&gt;
 |author=Jan Oort&lt;br /&gt;
 |title=The structure of the cloud of comets surrounding the Solar System and a hypothesis concerning its origin&lt;br /&gt;
 |journal=[[Bulletin of the Astronomical Institutes of the Netherlands]]&lt;br /&gt;
 |volume=11|pages=91–110|date=1950&lt;br /&gt;
 |bibcode=1950BAN....11...91O&lt;br /&gt;
}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;ref name=dave&amp;gt;{{chú thích tạp chí&lt;br /&gt;
 |author=David C. Jewitt&lt;br /&gt;
 |date=2001&lt;br /&gt;
 |title=From Kuiper Belt to Cometary Nucleus: The Missing Ultrared Matter&lt;br /&gt;
 |journal=[[Astronomical Journal]]&lt;br /&gt;
 |volume= 123|issue= 2|pages=1039–1049&lt;br /&gt;
 |doi=10.1086/338692&lt;br /&gt;
|bibcode = 2002AJ....123.1039J&lt;br /&gt;
|url=http://pdfs.semanticscholar.org/9b63/4b7bf2b08f6bafae8bbe61fec60d36de6346.pdf&lt;br /&gt;
 }}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;ref name=&amp;quot;hills1981&amp;quot;&amp;gt;{{chú thích tạp chí&lt;br /&gt;
 |author=Jack G. Hills&lt;br /&gt;
 |date=1981&lt;br /&gt;
 |title=Comet showers and the steady-state infall of comets from the Oort Cloud&lt;br /&gt;
 |journal=[[Astronomical Journal]]&lt;br /&gt;
 |volume=86 |pages=1730–1740&lt;br /&gt;
 |bibcode=1981AJ.....86.1730H&lt;br /&gt;
 |doi=10.1086/113058&lt;br /&gt;
}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;ref name=&amp;quot;levison2001&amp;quot;&amp;gt;{{chú thích tạp chí&lt;br /&gt;
 |author=Harold F. Levison&lt;br /&gt;
 |author2=Luke Dones&lt;br /&gt;
 |author3=Martin J. Duncan&lt;br /&gt;
 |date=2001&lt;br /&gt;
 |title=The Origin of Halley-Type Comets: Probing the Inner Oort Cloud&lt;br /&gt;
 |url=https://archive.org/details/sim_astronomical-journal_2001-04_121_4/page/2253&lt;br /&gt;
 |journal=[[Astronomical Journal]]&lt;br /&gt;
 |volume=121 |issue=4 |pages=2253–2267&lt;br /&gt;
 |bibcode=2001AJ....121.2253L&lt;br /&gt;
 |doi=10.1086/319943&lt;br /&gt;
|doi-access=free&lt;br /&gt;
 }}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;ref name=&amp;quot;Donahue1991&amp;quot;&amp;gt;{{chú thích sách&lt;br /&gt;
 | editor = Thomas M. Donahue&lt;br /&gt;
 | others = Kathleen Kearney Trivers, and David M. Abramson&lt;br /&gt;
 | date = 1991&lt;br /&gt;
 | title = Planetary Sciences: American and Soviet Research, Proceedings from the U.S.–U.S.S.R. Workshop on Planetary Sciences&lt;br /&gt;
 | url = http://books.nap.edu/openbook.php?record_id=1790&amp;amp;page=R1&lt;br /&gt;
 | publisher = National Academy Press&lt;br /&gt;
 | page = 251&lt;br /&gt;
 | isbn = 978-0-309-04333-5&lt;br /&gt;
 | access-date = ngày 18 tháng 3 năm 2008 | doi = 10.17226/1790&lt;br /&gt;
 }}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;ref name=&amp;quot;Julio1997&amp;quot;&amp;gt;{{chú thích tạp chí&lt;br /&gt;
 |author       = Julio A. Fernández&lt;br /&gt;
 |date         = 1997&lt;br /&gt;
 |title        = The Formation of the Oort Cloud and the Primitive Galactic Environment&lt;br /&gt;
 |url          = http://www.gps.caltech.edu/classes/ge133/reading/oort.pdf&lt;br /&gt;
 |journal      = [[Icarus (journal)|Icarus]]&lt;br /&gt;
 |volume       = 219&lt;br /&gt;
 |issue        = 1&lt;br /&gt;
 |pages        = 106–119&lt;br /&gt;
 |access-date  = ngày 18 tháng 3 năm 2008&lt;br /&gt;
 |bibcode      = 1997Icar..129..106F&lt;br /&gt;
 |doi          = 10.1006/icar.1997.5754&lt;br /&gt;
 |archive-date = 2012-07-24&lt;br /&gt;
 |archive-url  = https://web.archive.org/web/20120724192955/http://www.gps.caltech.edu/classes/ge133/reading/oort.pdf&lt;br /&gt;
}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;ref name=&amp;quot;nasax&amp;quot;&amp;gt;{{chú thích web|url=https://science.nasa.gov/science-news/science-at-nasa/2010/23nov_aliencomets/|title=The Sun Steals Comets from Other Stars|date=2010|publisher=NASA|ngày truy cập=2020-09-26|archive-date=2021-01-25|archive-url=https://web.archive.org/web/20210125015211/http://science.nasa.gov/science-news/science-at-nasa/2010/23nov_aliencomets|url-status=dead}}&amp;lt;/ref&amp;gt;}}&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
{{thể loại Commons|Oort cloud}}&lt;br /&gt;
{{Wikipedia được đọc ra|Oort Cloud.ogg|2012-04-02}}&lt;br /&gt;
* [http://solarsystem.nasa.gov/planets/profile.cfm?Object=KBOs Hồ sơ đám mây Oort] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20151110001858/http://solarsystem.nasa.gov/planets/profile.cfm?Object=KBOs |date = ngày 10 tháng 11 năm 2015}} bởi [http://solarsystem.nasa.gov/ Khám phá Hệ Mặt trời của NASA]&lt;br /&gt;
* {{Chú thích web|url=http://www.nineplanets.org/kboc.html|tựa đề=The Kuiper Belt and The Oort Cloud|tác giả=Arnett|tên=Bill|ngày=March 2007|website=Nine Planets}}&lt;br /&gt;
* {{Chú thích tạp chí|last=Matthews|first=R. A. J.|year=1994|title=The close approach of stars in the solar neighbourhood|journal=Quarterly Journal of the Royal Astronomical Society|volume=35|pages=1|bibcode=1994QJRAS..35....1M}}&lt;br /&gt;
* {{Chú thích tạp chí|last=Brasser|first=R.|last2=Schwamb|first2=M. E.|year=2015|title=Re-assessing the formation of the inner Oort cloud in an embedded star cluster - II. Probing the inner edge|journal=Monthly Notices of the Royal Astronomical Society|volume=446|issue=4|pages=3788|arxiv=1411.1844|bibcode=2015MNRAS.446.3788B|doi=10.1093/mnras/stu2374}}&lt;br /&gt;
{{Kiểm soát tính nhất quán}}&lt;br /&gt;
{{Hệ Mặt Trời}}&lt;br /&gt;
{{Sao chổi}}&lt;br /&gt;
{{Các thiên thể nhỏ trong hệ Mặt Trời}}&lt;br /&gt;
{{Thanh chủ đề|Hệ Mặt Trời|Thiên văn học}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Thiên thể bên ngoài Sao Hải Vương]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lịch sử Hệ Mặt Trời]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Sao chổi]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tiểu hành tinh]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Hành tinh nhỏ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Đám mây Oort]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;InternetArchiveBot</name></author>
	</entry>
</feed>