<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=%C4%90ua_xe_touring</id>
	<title>Đua xe touring - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=%C4%90ua_xe_touring"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=%C4%90ua_xe_touring&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-11T03:23:35Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=%C4%90ua_xe_touring&amp;diff=7920140&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;InternetArchiveBot: Đã cứu 0 nguồn và đánh dấu 1 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=%C4%90ua_xe_touring&amp;diff=7920140&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-06-23T04:55:24Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Đã cứu 0 nguồn và đánh dấu 1 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{{Infobox sport|name=Đua xe touring|image=File:2012 WTCC Race of Japan (Race 1) opening lap.jpg|imagesize=|caption=|union=[[FIA]]|nickname=|first=|registered=|clubs=|contact=Có|team=Có|mgender=Có|category=Đua trong trường đua, đua đường phố|equipment=|venue=Trường đua, đường phố|olympic=}}{{short description|Motorsport road racing competition}}&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Đua xe touring&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; là một hình thức thể thao [[đua xe hơi]] sử dụng các mẫu xe dựa trên phiên bản sản xuất hàng loạt, được tinh chỉnh để phù hợp với trường đua. Ở đua xe touring, các cuộc đua thường rất sít sao, có cân bằng hiệu suất giữa các xe và đa dạng các hãng sản xuất, những chiếc xe đua vẫn giữ hình dáng tương đồng với phiên bản sản xuất hàng loạt. Bắt nguồn từ châu Âu vào giữa [[Thế kỷ 20|thế kỷ]] [[Thế kỷ 20|20]], đua xe touring đã lan rộng ra toàn cầu thông qua các bộ quy tắc như Group A, Super Touring và FIA TCR. Các giải vô địch lớn bao gồm: British Touring Car Championship (BTCC), DTM và Supercars Championship.&amp;lt;ref name=&amp;quot;FIAOverview2&amp;quot;&amp;gt;[https://www.fia.com/sport/championships/touringcar FIA – Touring Car Overview]&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;MotorsportNetwork20242&amp;quot;&amp;gt;[https://www.motorsport.com/general/news/touring-car-racing-evolution-explained/1057503/ Motorsport.com – “Touring car racing: Evolution explained”] (2024)&amp;lt;/ref&amp;gt; Đua xe touring này có nhiều điểm tương đồng và khác biệt đáng kể so với đua xe stock phổ biến ở [[Hoa Kỳ]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các giải đua touring hiện đại ngày càng dựa vào Cân bằng Hiệu suất (Balance of Performance, BoP) nhằm đảm bảo tính cạnh tranh ngang bằng giữa hãng sản xuất và đội đua tư nhân. Việc ứng dụng [[Ô tô hybrid|công nghệ hybrid]] và sự xuất hiện của các giải đua touring [[Xe chạy điện|xe điện]], chẳng hạn như ETCR (nay là FIA E-Touring Car World Cup), phản ánh xu hướng thích ứng bền vững trong thể thao đua xe.&amp;lt;ref name=&amp;quot;FIAETCR2023&amp;quot;&amp;gt;[https://www.fiaetcr.com/ FIA ETCR Official Site]&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;AutosportHybridBTCC&amp;quot;&amp;gt;[https://www.autosport.com/btcc/news/how-btccs-hybrid-era-is-changing-touring-cars/1031432/ Autosport – “How BTCC’s hybrid era is changing touring cars”] (2023)&amp;lt;/ref&amp;gt; Mặc dù các xe touring không có tốc độ nhanh như [[Công thức 1|xe công thức]] hoặc [[Đua xe thể thao|xe thể thao]], nhưng sự tương đồng giữa các xe đua với xe phổ thông của người hâm mộ góp phần tạo nên sức hút lớn cho đua xe touring. Việc ít sử dụng [[Khí động lực học|khí động]] [[Khí động lực học|học]] hơn khiến các xe theo sát nhau và dễ vượt hơn so với đua xe công thức, và thân xe vững chắc hơn cho phép xe đua có thể va chạm nhẹ, và việc va chạm được chấp nhận như một phần của cuộc đua.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bên cạnh các chặng đua ngắn theo thể thức &amp;#039;&amp;#039;sprint&amp;#039;&amp;#039;, nhiều giải đua touring còn bao gồm một hay nhiều cuộc đua sức bền, kéo dài từ 3 đến 24 giờ, vốn là thử thách về độ bền bỉ, kĩ năng của đội pit cũng như tốc độ và sự ổn định của chiếc xe và tay đua.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Đặc điểm ==&lt;br /&gt;
[[File:Robert_Huff_2009_WTCC_Pau.jpg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Robert_Huff_2009_WTCC_Pau.jpg|phải|nhỏ|Một chiếc xe touring Chevrolet Cruze]]&lt;br /&gt;
Đua xe touring bắt đầu vào giữa [[Thế kỷ 20|thế kỷ]] [[Thế kỷ 20|20]] dưới dạng một hình thức thi đấu thời lượng dài, diễn ra trên các con đường nối giữa các thị trấn. Xe đua được điều khiển bởi một tay đua và một thợ cơ khí mang theo phụ tùng dự phòng, do tính bất ổn định của ô tô thời kì đó. Di sản của giai đoạn khởi đầu này vẫn còn thấy trong các xe đua touring và xe đua GT hiện đại là vị trí ghế lái lệch so với đường tâm xe và có ghế phụ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các quốc gia và từng giải đấu có quy tắc đua khác nhau, nhưng hầu hết các giải đều yêu cầu các đối thủ phải sử dụng khung thân xe tiêu chuẩn, các chi tiết khác của xe có thể được phép tùy biến bao gồm: động cơ, hệ thống treo, phanh, mâm và lốp. Các chi tiết khí động học đôi khi được lắp đặt vào phía trước và phía sau xe. Các quy định thường cấm lắp đặt một số công nghệ quá táo bạo (chẳng hạn nhiều giải bắt buộc sử dụng một loại lốp đồng nhất do ban tổ chức chỉ định) nhằm giữ cho cuộc đua sát sao (đôi khi bằng cách áp dụng luật buộc xe thắng chặng đua phải mang thêm trọng lượng ở chặng sau).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xe đua touring có một số điểm tương đồng với đua xe stock ở Hoa Kỳ. Xe đua touring thiết kế dựa trên mẫu xe sản xuất hàng loạt, và phần lớn các cuộc đua stock ngoài phạm vi của [[NASCAR]] cũng tương tự. Tuy nhiên, các giải đua của NASCAR về sau đã chuyển sang sử dụng khung gầm tùy chỉnh tách biệt khỏi nền tảng xe sản xuất hàng loạt, khác với truyền thống của đua xe touring.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite news |last=D.S. |first=F |date=May 1973 |title=Saloon car racing USA |url=https://www.motorsportmagazine.com/archive/article/may-1973/28/saloon-car-racing-usa |access-date=22 April 2021 |work=[[Motor Sport magazine]]}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Vì thế, đua xe touring còn được gọi là &amp;#039;&amp;#039;đua xe saloon&amp;#039;&amp;#039; hay &amp;#039;&amp;#039;đua xe [[Sedan (ô tô)|sedan]]&amp;#039;&amp;#039;.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite news |last=Lawrence |first=Paul |date=19 February 2019 |title=New series launched celebrating BTCC legends |url=https://www.autosport.com/historics/news/new-series-launched-celebrating-btcc-legends-5284006/5284006/ |url-access=limited |access-date=22 April 2021 |work=[[Autosport]]}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Giải đua ==&lt;br /&gt;
[[File:2018_World_Touring_Car_Cup,_Hungaroring_(256783929).jpg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:2018_World_Touring_Car_Cup,_Hungaroring_(256783929).jpg|nhỏ|WTCR Race of Hungary, năm 2018]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== FIA TCR World Tour ===&lt;br /&gt;
{{đoạn thiếu nguồn gốc}}&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Toàn cầu&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở thế kỉ 21, Giải vô địch thế giới đua xe touring (World Touring Car Championship, WTCC) bắt đầu vào năm 2005, phát triển từ giải European Touring Car Championship. Giải đấu này hợp nhất với TCR International Series và trở thành World Touring Car Cup (WTCR) kể từ năm 2018. Đến năm 2023, WTCR chính thức trở thành TCR World Tour.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Diễn ra tại các sân đua quốc tế lớn, giải đấu này nhận được hậu thuẫn bởi [[BMW]], [[SEAT]] và [[Chevrolet]]. Trong đó, Chevrolet triển khai một đội đua chính thức, còn hai hãng kia chủ yếu bán bộ kit đua lắp trên xe của khách hàng và hỗ trợ kĩ thuật cho khách hàng đó. Năm 2011, [[Volvo]] cũng tham gia giải, đăng  một đội một xe nhằm đánh giá khả năng cam kết lớn hơn với giải đua.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giải đua này sử dụng ô tô dung tích 1.6 lít, chế tạo theo quy tắc Super 2000, dựa trên tiêu chuẩn FIA. Năm 2011, quy định dung tích động cơ đã thay đổi, chuyển từ động cơ 2000 cc sang 1600 cc tăng áp. Các xe trang bị động cơ 2000 cc cũ vẫn đủ điều kiện tham dự giải. Nhiều công nghệ đã xuất hiện trên xe sản xuất hàng loạt bị cấm sử dụng, ví dụ: hệ thống đổi thời điểm đóng mở van (variable valve timing), hệ thống đổi hình học ống nạp (variable intake geometry), [[Hệ thống chống bó cứng phanh cho môtô|chống bó cứng phanh]] (ABS) và kiểm soát lực kéo (traction control).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== British Touring Car Championship ===&lt;br /&gt;
[[File:2016_British_Touring_Car_Championship,_Brands_Hatch_GP_(30245906692).jpg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:2016_British_Touring_Car_Championship,_Brands_Hatch_GP_(30245906692).jpg|phải|nhỏ|&amp;#039;&amp;#039;BTCC Brands Hatch, năm 2016&amp;#039;&amp;#039;]]&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Vương quốc Anh&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giải vô địch touring Vương quốc Anh (British Touring Car Championship, BTCC) hiện thi đấu tại chín đường đua ở [[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland]] với ô tô chế tạo theo chuẩn &amp;#039;&amp;#039;Next Generation Touring Car&amp;#039;&amp;#039;, sử dụng trọng lượng đối trọng &amp;#039;&amp;#039;(ballast)&amp;#039;&amp;#039; để cân bằng hiệu suất. Kể từ năm 2011, các xe đang tuân theo &amp;#039;&amp;#039;Next Generation Touring Car&amp;#039;&amp;#039; đã đủ điều kiện tham dự trong một lộ trình chuyển đổi từng bước khỏi các quy định Super 2000. Các kiểu dáng xe tham dự là [[Sedan (ô tô)|sedan]], station wagon và [[hatchback]] dung tích 2.0 lít, công suất trên {{convert|350|bhp|abbr=on}}, dẫn động cầu trước hoặc cầu sau. Trong mùa giải 2016, các đội đua chính thức đến từ các hãng [[BMW]], [[Subaru]], [[MG Motor|MG]] và [[Honda]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Do ngân sách của giải giữ ở mức tương đối thấp, BTCC có sự hiện diện mạnh mẽ của nhiều đội đua độc lập và đội đua tư nhân. Những hãng được các đội tư nhân đại diện bao gồm: Vauxhall, [[Ford]], [[Toyota]], [[Volkswagen]], [[Chevrolet]] và [[Audi]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trước năm 2001, BTCC được tranh tài bởi ô tô chế tạo theo quy định 2.0 lít &amp;#039;&amp;#039;supertouring,&amp;#039;&amp;#039; trong thời kỳ hoàng kim từng có tới chín hãng khác nhau tham gia. Joachim Winkelhock nhiều lần khẳng định rằng đó là giải đua touring hay nhất thế giới. Nhiều nhà vô địch của thời kỳ đó hiện nay thi đấu tại World Touring Car Championship (WTCC). Giữa các năm 2002 và 2006, BTCC duy trì một hạng touring riêng, với các xe Super Production/Super 2000 nhằm đảm bảo số lượng; hạng touring sau đó bị loại dần (chỉ các đội tư nhân mới được phép chạy các xe touring cũ) với ý định chuyển sang một giải thuần Super 2000. Việc giới thiệu &amp;#039;&amp;#039;Next Generation Touring Car&amp;#039;&amp;#039; từ năm 2011 đã bắt đầu quá trình chuyển đổi từng bước khỏi các xe Super 2000, nhằm cải thiện chất lượng của giải.&lt;br /&gt;
[[File:DTM_2012_cars.jpg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:DTM_2012_cars.jpg|phải|nhỏ|DTM ở Hockenheim năm 2012]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== DTM ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Đức/Châu Âu&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
DTM (tức &amp;#039;&amp;#039;Deutsche Tourenwagen Meisterschaft&amp;#039;&amp;#039; cho đến năm 1996, sau năm 2000 là &amp;#039;&amp;#039;Deutsche Tourenwagen Masters&amp;#039;&amp;#039;) sử dụng các ô tô có khung xe không gian &amp;#039;&amp;#039;(space frame)&amp;#039;&amp;#039; trang bị động cơ tăng áp 2.0 lít [[Cách bố trí động cơ|bốn xy-lanh]], bao bọc bằng các kiểu dáng thân xe chủ yếu làm bằng sợi carbon, có hình dáng tương đồng với mẫu xe đường phố của các hãng sản xuất (mặc dù mui xe vẫn bắt nguồn từ xe sản xuất hàng loạt).&amp;lt;ref&amp;gt;{{cite web |author=Audi UK |date=6 May 2009 |title=Audi UK &amp;gt; Experience &amp;gt; Motorsport &amp;gt; DTM &amp;gt; The Audi A4 DTM |url=http://www.audi.co.uk/audi/uk/en2/experience/Motorsport/dtm/The_Audi_A4_DTM.html |url-status=dead |archive-url=https://web.archive.org/web/20081003102032/http://www.audi.co.uk/audi/uk/en2/experience/Motorsport/dtm/The_Audi_A4_DTM.html |archive-date=3 October 2008 |access-date=20 August 2009 |publisher=Audi.co.uk |df=dmy-all}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Công suất động cơ giới hạn ở {{convert|610|hp|kW|abbr=on}}.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite book |last1=Day |first1=Lance |url=https://books.google.com/books?id=m8TsygLyfSMC&amp;amp;q=In+order+to+lower+costs,+the+engine+power+is+limited+to+600+hp+(450+kW)&amp;amp;pg=PA556 |title=Biographical Dictionary of the History of Technology |last2=McNeil |first2=Ian |date=2002-09-11 |publisher=Routledge |isbn=9781134650200 |language=en}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Hộp số, phanh và lốp đều phải là loại tiêu chuẩn. Kích thước xe và khí động học cũng được chuẩn hóa. Các xe đua DTM nặng khoảng {{convert|985|kg|lb|abbr=on}} không tính người lái, thường vào cua rất nhanh, độ những bộ bodykit hầm hố, vòm bánh rộng và khuếch gió lớn, cùng hệ thống giảm lực cản (DRS) nhằm khuyến khích các xe vượt nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hơn 20 đội đua có nhà máy tài trợ với các mẫu Opel Astra, Audi TT và Mercedes-Benz CLK đã tham gia giải DTM sau khi giải hồi sinh năm 2000, nhưng giải gặp vấn đề nghiêm trọng khi [[Opel]] rút lui trước mùa giải 2006.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |date=24 October 2004 |title=Opel to be withdrawn after 2005 |url=https://au.motorsport.com/dtm/news/opel-to-be-withdrawn-after-2005/1184209/ |access-date=2020-02-26 |website=au.motorsport.com |language=en}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Cuối cùng BMW thay thế Opel làm hãng sản xuất thứ ba của giải cho mùa 2012,&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |title=BMW to enter DTM series in 2012 with six M3 touring cars {{!}} CarAdvice |url=https://www.caradvice.com.au/109900/bmw-to-enter-dtm-series-in-2012-with-six-m3-touring-cars/ |access-date=2020-02-26 |website=CarAdvice.com |language=en}}&amp;lt;/ref&amp;gt; còn [[Mercedes AMG|Mercedes-AMG]] rút khỏi giải cuối 2018. Mercedes-AMG sau đó được thay thế bởi một chương trình Aston Martin Vantage do tư nhân đài thọ, nhưng chương trình này không kéo dài quá mùa 2019.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |date=29 January 2020 |title=Aston Martin rules out HWA running Vantages in DTM |url=https://au.motorsport.com/dtm/news/rmotorsport-aston-martin-vantage-hwa/4678089/ |access-date=2020-02-26 |website=au.motorsport.com |language=en}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mùa 2019 chứng kiến những thay đổi kĩ thuật lớn. Turbo tăng áp được tái đưa vào theo quy định mới về động cơ và công suất, tất cả xe giờ đây phải sử dụng động cơ 2.0-lít 4 xy-lanh một turbo, thay cho động cơ V8 4.0L đã được dùng kể từ khi giải được hồi sinh năm 2000. Công suất động cơ được nâng từ ~500 hp lên 610 hp, đồng thời lần đầu tiên tay đua được dùng hệ thống tăng công suất tạm thời (push-to-pass) cho thêm 30 hp.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |title=RS 5 DTM |url=https://www.audi.com/en/experience-audi/audi-sport/audi-racing-models/rs-5-dtm.html |url-status=dead |archive-url=https://web.archive.org/web/20210307231407/https://www.audi.com/en/experience-audi/audi-sport/audi-racing-models/rs-5-dtm.html |archive-date=7 March 2021 |access-date=2020-02-26 |website=audi.com |language=en}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |title=BMW M4 DTM Turbomotor |url=https://www.bmw-motorsport.com/en/topics/magazine-article-pool/dtm-class-1-era-turbo.html |access-date=2020-02-26 |website=www.bmw-motorsport.com |language=en-SM}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Lực ép xuống cũng được giảm nhằm khuyến khích xe vượt nhau và tăng tốc độ tối đa lên 300 km/h (186 mph) để tăng tính kịch tính.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |last=Errington |first=Tom |title=DTM&amp;#039;s Class One cars for 2019 season will be 2-3s faster |url=https://www.autosport.com/dtm/news/140837/dtm-2019-cars-will-be-23s-faster |access-date=2020-02-26 |website=Autosport.com |language=en}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 2019, DTM thiết lập quan hệ hợp tác với giải đua xe thể thao Nhật Bản Super GT, vốn có bộ quy tắc gần như tương đồng ở hạng GT500. Honda, Toyota (đại diện qua thương hiệu [[Lexus]]) và [[Nissan]] mỗi hãng đều đưa một suất &amp;#039;&amp;#039;wildcard&amp;#039;&amp;#039; cho chặng cuối mùa 2019 tại Hockenheimring. Những ô tô dự thi gồm một Nissan GT-R (R35), một Lexus LC 500 và một Honda NSX. Trong cuối tuần từ ngày 22–24 tháng 11, DTM đã đưa ba chiếc BMW M4 và bốn chiếc Audi RS5 tham gia một cuộc đua không tính điểm tại trường đua Fuji Speedway cùng cảấlưới t phát đầy đủ của hạng GT500, sự kiện này được đặt tên là &amp;quot;SUPER GT x DTM Dream Race&amp;quot;. [[Aston Martin]] rút lui khỏi sự kiện vì họ muốn tập trung phát triển gói Vantage cho 2020, tuy nhiên chương trình đó sau này cũng bị chấm dứt.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |date=2019-09-14 |title=R-Motorsport to miss DTM and Super GT joint race at Fuji |url=https://www.touringcartimes.com/2019/09/14/r-motorsport-miss-dtm-super-gt-joint-race-fuji/ |access-date=2020-02-26 |website=TouringCarTimes |language=en-US}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào cuối tháng 4 năm 2020, Audi thông báo họ sẽ ngừng tham gia giải sau mùa 2020, theo con đường tương tự như Mercedes-Benz đã làm sau mùa 2018 là chuyển trọng tâm sang đua xe điện, nổi bật là Formula E. Việc này để lại BMW là hãng sản xuất duy nhất còn lại, đặt tương lai của toàn giải vào tình trạng đầy rủi ro.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |date=2020-04-27 |title=DTM News: Audi to quit series at the end of 2020 |url=https://www.autosport.com/dtm/news/149182/audi-to-quit-dtm-at-the-end-of-2020 |access-date=2020-06-30 |website=Autosport.com |language=en}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== [[Supercars Championship]] ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Úc và New Zealand&amp;#039;&amp;#039;{{Multiple image&lt;br /&gt;
| direction = vertical&lt;br /&gt;
| align = right&lt;br /&gt;
| width = 200&lt;br /&gt;
| image1 = Heimgartner 2023 Supercars Test.jpg&lt;br /&gt;
| caption1 = &lt;br /&gt;
| image2 = De Pasquale 2023 Supercars Test.jpg&lt;br /&gt;
| caption2 = Xe đua Supercars dùng chuẩn Gen3 từ năm 2023&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gen3 regulation Supercars used since 2023.Supercars Championship (trước đây là Giải vô địch xe touring Úc - Australian Touring Car Championship) được công nhận trên trường quốc tế là &amp;quot;những chiếc xe đua touring nhanh nhất thế giới&amp;quot;, với tốc độ có thể đạt gần 300 km/h. Chúng cũng là những chiếc xe touring đắt nhất thế giới, mỗi chiếc có giá hơn 1 triệu đô la Úc, bao gồm động cơ V8 5.0 lít đặt riêng trị giá khoảng 250.000 đô la Úc, tạo công suất xấp xỉ 635 hp (473 kW).&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |title=2020 engine rule changes locked in |url=https://www.supercars.com/news/championship/2020-engine-rule-changes-locked-in/ |access-date=2020-02-25 |website=Supercars |language=en}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Công thức hiện tại của giải được xây dựng từ năm 1993 (dựa trên bộ quy tắc Group A), được đặt tên là &amp;#039;&amp;#039;&amp;quot;V8 Supercars&amp;quot;&amp;#039;&amp;#039; vào năm 1997 và đổi tên thành &amp;#039;&amp;#039;&amp;quot;Supercars&amp;quot;&amp;#039;&amp;#039; vào năm 2016. Giải có lưới xuất phát khoảng 25 xe, mặc dù một số sự kiện chọn lọc cho phép các suất &amp;#039;&amp;#039;wildcard&amp;#039;&amp;#039; bổ sung. Các xe hiện dựa trên mẫu Ford Mustang GT và Holden Commodore (ZB).&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |date=2020-02-23 |title=CONFIRMED: No Commodore for WAU in 2021 |url=https://speedcafe.com/confirmed-no-commodore-for-wau-in-2021/ |access-date=2020-02-28 |website=Speedcafe |language=en-US}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Trọng lượng tối thiểu cho một chiếc &amp;#039;&amp;#039;Supercar&amp;#039;&amp;#039;, tính cả người lái, là 1.395 kg. Mẫu Commodore dự kiến được thay thế bằng Chevrolet Camaro vào năm 2022.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |last=Pavey |first=James |date=16 March 2022 |title=Tasmania debut for new-look Gen3 Camaro prototype |url=https://www.supercars.com/news/championship/tasmania-debut-for-new-look-gen3-camaro-prototype/ |url-status=live |archive-url=https://web.archive.org/web/20220516024214/https://www.supercars.com/news/championship/tasmania-debut-for-new-look-gen3-camaro-prototype/ |archive-date=2022-05-16 |access-date=2022-05-16 |website=Supercars}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Xe đua được phát triển từ các tấm thân xe sản xuất cùng khung gầm không gian &amp;#039;&amp;#039;(space frame)&amp;#039;&amp;#039;; cả hai kiểu thân đều có gói khí động học với cánh trước và sau lớn nhằm đảm bảo hiệu suất khí động học tương đương giữa hai loại xe.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |title=V8 Supercars blueprint for 2017 and beyond |url=https://www.supercars.com/news/championship/v8-supercars-blueprint-for-2017-and-beyond/ |access-date=2020-02-28 |website=Supercars |language=en}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giải bao gồm cuộc đua nổi tiếng thế giới Bathurst 1000 như một chặng trong mùa giải. Do quãng đường dài, quy định yêu cầu hai tay đua cho mỗi xe ở chặng này. Điều tương tự cũng áp dụng cho The Bend 500 và Gold Coast 600. Những chặng này cấu thành Pirtek Enduro Cup — một &amp;quot;giải trong giải&amp;quot; nơi bộ đôi tay đua có tổng điểm cao nhất sau ba cuộc đua sức bền sẽ giành cúp.&lt;br /&gt;
{{Multiple image&lt;br /&gt;
| direction = vertical&lt;br /&gt;
| align = right&lt;br /&gt;
| width = 350&lt;br /&gt;
| image1 = 20260213 Chaz Mostert Supercars testing 2026 Bathurst 12 Hour.jpg&lt;br /&gt;
| caption1 = &lt;br /&gt;
| image2 = 20260213 Broc Feeney Supercars testing 2026 Bathurst 12 Hour.jpg&lt;br /&gt;
| caption2 =&lt;br /&gt;
| image3 = 20260213 Anton De Pasquale Supercars testing 2026 Bathurst 12 Hour.jpg&lt;br /&gt;
| caption3 = Xe đua Supercars dùng chuẩn Gen3 (bản mới nhất) từ năm 2026&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
Tại [[Úc]], &amp;#039;&amp;#039;Supercars&amp;#039;&amp;#039; có lượng người ủng hộ rất mạnh mẽ, phần lớn được thúc đẩy bởi cuộc đối đầu giữa [[Ford]] và Holden.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |last=Smale |first=Simon |date=2020-02-19 |title=Will taking away the Ford vs Holden battles kill off Supercars? Not necessarily |url=https://www.abc.net.au/news/2020-02-19/holden-ford-rivalry-over-but-supercars-future-safe/11975098 |access-date=2020-02-29 |website=ABC News |language=en-AU}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Hơn 200.000 khán giả tham dự tổng cộng bốn ngày của chặngdelaide 500 và Bathurst 1000, và chặng Bathurst 1000 năm 2019 thu hút tối đa 2,36 triệu khán giả truyền hình trên toàn quốc.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |last=Adelaide |first=ABC Radio |date=2020-02-24 |title=Adelaide 500 Supercars race has lowest attendance in 17 years |url=https://www.abc.net.au/news/2020-02-24/adelaide-500-has-lowest-attendance-in-17-years/11993770 |access-date=2020-02-29 |website=ABC News |language=en-AU}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |title=Bathurst delivers ratings record |url=https://www.supercars.com/news/championship/bathurst-delivers-ratings-record/ |access-date=2020-02-29 |website=Supercars |language=en}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Con số này so sánh thuận lợi với các sự kiện thể thao lớn khác như trận chung kết bóng đá AFL (2,2 triệu người xem truyền hình năm 2019). &amp;#039;&amp;#039;Supercars&amp;#039;&amp;#039; cũng phổ biến tại [[New Zealand]],&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |title=Fans Flock to V8 Supercars at Pukekohe |url=https://www.supercars.com/news/championship/fans-flock-to-v8-supercars-at-pukekohe/ |access-date=2020-02-29 |website=Supercars |language=en}}&amp;lt;/ref&amp;gt; với một chặng thường niên từng được tổ chức tại trường đua Pukekohe Park, đây là chặng quốc tế duy nhất trong lịch thi đấu của giải. Những nỗ lực mở rộng ra quốc tế từng được triển khai tại [[Trung Quốc]], [[Malaysia]], [[Trung Đông]] và [[Hoa Kỳ]] trong [[thập niên 2000]] và [[Thập niên 2010|2010]], nhưng không duy trì được.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |title=KL City 400 Supercar Extravaganza cancelled |url=https://www.supercars.com/news/championship/kl-city-400-supercar-extravaganza-cancelled/ |access-date=2020-02-25 |website=Supercars |language=en}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |date=2013-01-18 |title=V8 Supercars confirms Abu Dhabi cancellation |url=https://speedcafe.com/v8-supercars-confirms-abu-dhabi-cancellation/ |access-date=2020-02-29 |website=Speedcafe |language=en-US}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |last=drive.com.au |date=2016-10-10 |title=Winton replaces Shanghai on V8 calendar |url=https://www.drive.com.au/motor-news/winton-replaces-shanghai-on-v8-calendar-20100824-13pha.html |access-date=2020-02-29 |website=Drive |language=en-au |archive-date=2020-02-29 |archive-url=https://web.archive.org/web/20200229045512/https://www.drive.com.au/motor-news/winton-replaces-shanghai-on-v8-calendar-20100824-13pha.html |url-status=dead }}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |title=V8 Supercars and Circuit of the Americas agree to end current contract |url=https://www.supercars.com/news/championship/v8-supercars-and-circuit-of-the-americas-agree-to-end-current-contract/ |access-date=2020-02-29 |website=Supercars |language=en}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |date=2010-10-29 |title=Early season schedule sees Bahrain dumped |url=https://speedcafe.com/early-season-schedule-sees-bahrain-dumped/ |access-date=2020-02-29 |website=Speedcafe |language=en-US}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi giải mở rộng, nhiều tổ chức thể thao đua xe quốc tế lớn đã tham gia, trong đó có Team Penske, Andretti Autosport, United Autosports và Triple Eight Race Engineering.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cả Ford và Holden từng hỗ trợ tài chính và kĩ thuật cho các đội đua được họ ưa thích và tham gia tích cực vào việc quảng bá giải từ những ngày đầu, nhưng dần rút bớt và cuối cùng chấm dứt cam kết tài chính tương ứng với sự sụt giảm doanh số và việc ngừng sản xuất mẫu Falcon (2016)&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |last=Ottley |first=Stephen |date=2016-10-13 |title=Final Ford Falcon rolls off the line{{dash}}The final Ford Falcon |url=https://www.drive.com.au/motor-news/final-ford-falcon-rolls-off-the-line-20161007-grxhv1 |access-date=2020-02-28 |website=Drive |language=en-au }}{{Liên kết hỏng|date=2026-06-23 |bot=InternetArchiveBot }}&amp;lt;/ref&amp;gt; và Commodore (2020) - hai mẫu từng độc quyền tranh tài trong công thức động cơ V8 từ 1993 đến 2012.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |date=2019-12-10 |title=Holden&amp;#039;s flagship Commodore brand reaches the end of the road |url=https://www.abc.net.au/news/2019-12-10/holden-announces-end-of-commodore-from-2020/11786056 |access-date=2020-02-28 |website=ABC News |language=en-AU}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |title=MOTORSPORT: Holden spending less on V8 Supercars |url=https://carsales.com.au/editorial/details/motorsport-holden-spending-less-on-v8-supercars-18178/ |access-date=2020-02-25 |website=carsales.com.au}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Ford rút toàn bộ hỗ trợ tài chính sau năm 2015, và Holden cắt giảm phần lớn hỗ trợ chỉ còn lại cho Red Bull Holden Racing Team từ năm 2017. Holden bị ngừng hoạt động như một thương hiệu trong năm 2020, chấm dứt sự tham gia của hãng vào &amp;#039;&amp;#039;Supercars&amp;#039;&amp;#039; sau mùa 2020, còn Ford trở lại dự án Mustang cho mùa 2019. Mẫu Commodore sẽ được thay thế bằng Chevrolet Camaro, mẫu này sẽ được phân phối tại Úc bởi [[General Motors]] Specialty Vehicles.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các hãng xe khác từng xuất hiện trong giải bao gồm Nissan (với Kelly Racing)&amp;lt;ref&amp;gt;{{cite web |title=OFFICIAL: Nissan to Join V8 Supercars Championship |url=http://www.v8supercars.com.au/championship/newsarticle/official-nissan-to-join-v8-supercars-championship/tabid/70/newsid/12124/default.aspx |url-status=dead |archive-url=https://web.archive.org/web/20120211065021/http://www.v8supercars.com.au/championship/newsarticle/official-nissan-to-join-v8-supercars-championship/tabid/70/newsid/12124/default.aspx |archive-date=11 February 2012 |access-date=2012-02-09 |df=dmy-all}}&amp;lt;/ref&amp;gt;, Volvo (với Garry Rogers Motorsport)&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |title=Volvo Car Australia Joins V8 Supercars |url=https://www.supercars.com/news/championship/volvo-car-australia-joins-v8-supercars/ |access-date=2020-02-28 |website=Supercars |language=en}}&amp;lt;/ref&amp;gt; và Mercedes-Benz.&amp;lt;ref&amp;gt;{{cite news |title=Mercedes-Benz to join V8 Supercars |url=http://www.heraldsun.com.au/sport/motor-sport/merc-poised-to-rev-up-supercars-battle/story-fnebnsv7-1226476845024 |access-date=19 September 2012 |newspaper=Herald Sun}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Sau khi Kelly Racing chuyển sang Ford Mustang cho mùa 2020&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |title=Kelly Racing confirms 2020 Mustang switch |url=https://www.supercars.com/news/championship/kelly-racing-confirms-2020-mustang-switch/ |access-date=2020-02-28 |website=Supercars |language=en}}&amp;lt;/ref&amp;gt; sau một năm vận hành mẫu Nissan Altima ở dạng tư nhân,&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |date=2018-05-15 |title=Supercars: Nissan quits after 2018, what Kelly Racing will race in 2019 and 2020 |url=https://www.foxsports.com.au/motorsport/supercars/supercars-burning-questions-raised-by-nissans-decision-to-quit-supercars-after-2018/news-story/7738fc9a80ae8d4bad349a16aecc92de |access-date=2020-02-28 |website=Fox Sports |language=en-AU}}&amp;lt;/ref&amp;gt; &amp;#039;&amp;#039;Supercars&amp;#039;&amp;#039; trở lại thành cuộc cạnh tranh hai thương hiệu Ford đối đầu Holden.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
&amp;lt;references responsive=&amp;quot;1&amp;quot;&amp;gt;&amp;lt;/references&amp;gt;&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Đua có động cơ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Xe]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:BMW]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Xe Chevrolet]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Thể thao]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Đua xe hơi]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Đua xe hơi theo loại]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;InternetArchiveBot</name></author>
	</entry>
</feed>