<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=Andrey_Ivanovich_Yeryomenko</id>
	<title>Andrey Ivanovich Yeryomenko - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=Andrey_Ivanovich_Yeryomenko"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=Andrey_Ivanovich_Yeryomenko&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-10T14:57:44Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=Andrey_Ivanovich_Yeryomenko&amp;diff=3437946&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;Caryll Runesmith: Thêm bản mẫu HCLX vào hộp thông tin, thêm ảnh.</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=Andrey_Ivanovich_Yeryomenko&amp;diff=3437946&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-01-14T10:49:18Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Thêm bản mẫu HCLX vào hộp thông tin, thêm ảnh.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{{Infobox Military Person&lt;br /&gt;
| name = Andrey Ivanovich Yeryomenko&lt;br /&gt;
| birth_date = {{Ngày sinh|1892|10|14}}&lt;br /&gt;
| placeofbirth = [[Kharkiv|Kharkov]], [[Ukraina]]&lt;br /&gt;
| death_date = {{Ngày mất và tuổi|1970|11|19|1892|10|14}}&lt;br /&gt;
| placeofdeath = [[Moskva]], [[Liên Xô]]&lt;br /&gt;
| image = Маршал Советского Союза Герой Советского Союза Андрей Иванович Ерёменко (cropped).jpg&lt;br /&gt;
| caption = Andrey Yeryomenko vào khoảng năm 1969.&lt;br /&gt;
| placeofburial = [[Nghĩa trang tường Điện Kremli]]&lt;br /&gt;
| allegiance = {{ubl|{{nowrap|{{flag|Đế quốc Nga}}}} (1913–1917)|[[Tập tin:Flag RSFSR 1918.svg|23px]] [[Nga Xô viết]] (1917–1922)|{{nowrap|{{flag|Liên Xô}} (1922–1958)}}}}&lt;br /&gt;
| serviceyears = 1913–1958&lt;br /&gt;
| rank = [[Tập tin:Marshal of the Soviet Union.gif|20px]][[Nguyên soái Liên bang Xô viết|Nguyên soái Liên Xô]]&lt;br /&gt;
| commands = &lt;br /&gt;
| battles = [[Chiến tranh thế giới thứ nhất]]&amp;lt;/br&amp;gt;[[Nội chiến Nga]]&amp;lt;/br&amp;gt;[[Chiến tranh thế giới thứ hai]]&lt;br /&gt;
| awards = {{HCLX|k1=danh hiệu|anh hùng liên xô||1|k2=huân chương|Lenin||5|CMT10||1|Suvorov|1|4|Kutuzov|1|1}}&lt;br /&gt;
| laterwork = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Andrey Ivanovich Yeryomenko&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; hoặc &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Yeremenko&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;, &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Eremenko&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; (&amp;#039;&amp;#039;{{Langx|ru|Андрей Иванович Ерёменко}}, {{Langx|uk|Андрій Іванович Єрьоменко}}&amp;#039;&amp;#039;) (sinh ngày [[14 tháng 10]] năm [[1892]], mất ngày [[19 tháng 11]] năm [[1970]]) là một tướng lĩnh cao cấp của [[Hồng Quân|Hồng quân]] Liên Xô trong [[Chiến tranh thế giới thứ hai]] và sau đó là [[Nguyên soái Liên bang Xô viết|Nguyên soái Liên Xô]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tiểu sử và sự nghiệp ==&lt;br /&gt;
=== Trước Chiến tranh thế giới thứ hai ===&lt;br /&gt;
[[Tập tin:AI Eremenko 01.jpg|trái|nhỏ|209x209px|Andrey Yeryomenko trong vị trí chỉ huy trung đoàn, khoảng năm 1929.]]&lt;br /&gt;
Andrei Yeryomenko sinh năm [[1892]] trong một gia đình nông dân tại tỉnh [[Kharkiv|Kharkov]] của [[Ukraina]]. Ông gia nhập quân đội của [[Đế quốc Nga]] năm [[1913]] và chiến đấu trên các mặt trận Tây Nam, [[Romania|Rumani]] trong [[Chiến tranh thế giới thứ nhất]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau [[Cách mạng Tháng Mười|Cách mạng tháng Mười]], Yeryomenko tham gia [[Hồng Quân|Hồng quân]] năm [[1918]], ông phục vụ trong đội [[kỵ binh]] nổi tiếng của tướng [[Semyon Mikhailovich Budyonny]], sau đó vào học tại Trường kỵ binh [[Sankt-Peterburg|Leningrad]] và [[Học viện Quân sự Frunze]], ông hoàn thành việc học tập tại đây năm [[1935]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm [[1940]], Yeryomenko được cử làm Tư lệnh Quân đoàn kỵ binh số 6 rồi Tư lệnh Quân khu Zabaikal cho đến khi quân Đức bắt đầu [[Chiến dịch Barbarossa]] tấn công [[Liên Xô]] tháng 6 năm [[1941]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Chiến tranh thế giới thứ hai ===&lt;br /&gt;
8 ngày sau khi chiến tranh nổ ra, Yeryomenko được triệu hồi về [[Moskva]] để làm quyền Tư lệnh [[Phương diện quân Tây]] thay cho Đại tướng [[Dmitry Grigoryevich Pavlov|Dmitri Pavlov]] mới bị tử hình hai ngày trước đó vì không hoàn thành nhiệm vụ. Yeryomenko được đặt vào một vị trí rất khó khăn khi sự bất tài của Pavlov và việc thiếu chuẩn bị của cả Liên Xô đã gần như phá hủy Phương diện quân Tây. Tuy vậy ông vẫn hoàn thành được việc ổn định các lực lượng còn lại và ngăn bước tiến của quân đội [[Đức Quốc xã]] ngay bên ngoài [[Smolensk]]. Trong những trận giao tranh dữ dội tại đây, Yeryomenko đã bị thương và được chuyển về làm Tư lệnh [[Phương diện quân Bryansk]] mới thành lập. Tháng 8 năm 1941, Yeryomenko tổ chức cho phương diện quân của ông tấn công quân Đức, bất chấp chênh lệch rõ ràng về lực lượng nghiêng về phía đối phương. Cuộc tấn công này đã không đạt được mục tiêu mong muốn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tháng 10, các lực lượng Đức Quốc xã mở [[Trận Moskva (1941)|Chiến dịch Typhoon]] nhằm chiếm bằng được thủ đô Moskva của Liên Xô. Phương diện quân của Yeryomenko bị đẩy lui nhưng cũng kịp mở một số cuộc phản công để ngăn đà tiến quân của người Đức. Ngày [[13 tháng 10]], ông lại bị thương nặng và phải chuyển về một bệnh viện quân sự ở Moskva để dưỡng thương trong vài tuần lễ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tháng 1 năm [[1942]] sau khi khỏe lại, Yeryomenko được cử làm Tư lệnh Tập đoàn quân xung kích số 4 thuộc [[Phương diện quân Tây Bắc]]. Trong khi tham gia chiến dịch phản công mùa Đông của Hồng quân, ông một lần nữa bị thương khi máy bay Đức oanh tạc sở chỉ huy Hồng quân ngày [[20 tháng 1]], nhưng Yeryomenko chỉ đến bệnh viện sau khi tình hình chiến trận đã bớt căng thẳng.&lt;br /&gt;
[[Tập tin:RIAN archive 882837 The defenders of Stalingrad.jpg|nhỏ|265x265px|Tướng Yeryomenko (phải) với tư cách là tư lệnh Mặt trận Stalingrad, cùng với Nikita Khrushchev (trái), Ủy viên Chính ủy Mặt trận Stalingrad, tháng 12 năm 1942.]]&lt;br /&gt;
Sau lần bị thương này, ông được chuyển tới [[Phương diện quân Đông Nam]]. Tại đây vào tháng 8 năm 1942, Yeryomenko đã chỉ huy cuộc phản kích mạnh vào lực lượng Đức Quốc xã đang tiến hành [[Chiến dịch Blau]] ở hướng [[Kavkaz]]. Ngày [[28 tháng 9]], Phương diện quân Đông Nam được đổi tên thành [[Phương diện quân Stalingrad]]. Trong [[Chiến dịch Sao Thiên Vương|Chiến dịch Uranus]] tại [[Trận Stalingrad]] tháng 11, các lực lượng của Yeryomenko đã góp phần vào việc bao vây và tiêu diệt [[Tập đoàn quân số 6 (Đức Quốc Xã)|Tập đoàn quân số 6]] của Đức. Phương diện quân của ông cũng tham gia chống phản công và đẩy lui lực lượng của Thống chế [[Erich von Manstein]] đang cố gắng phá vỡ vòng vây của Hồng quân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày [[1 tháng 1]] năm [[1943]], Phương diện quân Stalingrad được đổi tên lần thứ hai thành [[Phương diện quân Nam]]. Sau các cuộc tấn công mùa Đông, tháng 3 năm 1943 Yeryomenko được chuyển lên phía Bắc làm chỉ huy [[Phương diện quân Kalinin]] lúc này vẫn chưa tham chiến. Đến tháng 9 Yeryomenko bắt đầu mở các cuộc tấn công nhỏ nhưng hiệu quả. Tháng 12, ông lại được lệnh xuống phía Nam làm Tư lệnh Tập đoàn quân duyên hải vốn do nhiều lực lượng hợp lại để giải quyết mục tiêu chiếm lại bán đảo [[Krym]]. Lực lượng của Yeryomenko đã phối hợp cùng [[Phương diện quân Ukraina 4]] của tướng [[Fyodor Ivanovich Tolbukhin|Fyodor Tolbukhin]] hoàn thành nhiệm vụ này.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến tháng 4, Yeryomenko một lần nữa được cử lên phía Bắc làm Tư lệnh [[Phương diện quân Pribaltic 2|Phương diện quân PriBaltic 2]]. Trong suốt các chiến dịch mùa hè, phương diện quân này đã rất thành công trong việc đập tan sự kháng cự của người Đức, chiếm lại [[Riga]] và giam chân khoảng 30 sư đoàn Đức Quốc xã ở [[Latvia]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày [[26 tháng 3]] năm [[1945]], Yeryomenko trở thành Tư lệnh Phương diện quân Ukraina 4, ông ở vị trí này cho đến hết chiến tranh. Phương diện quân Ukraina 4 đã tham gia vào việc đuổi quân Đức khỏi phần lớn lãnh thổ [[Hungary]] và [[Tiệp Khắc]]. Đến ngày nay, nhiều con đường ở [[Cộng hòa Séc]] vẫn được mang tên vị tướng này.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Sau chiến tranh ===&lt;br /&gt;
Từ năm [[1945]] đến năm [[1946]], Yeryomenko là Tư lệnh [[Quân khu Karpat]], sau đó là Tư lệnh Quân khu Tây [[Xibia|Siberi]] đến năm [[1952]], và [[Quân khu Bắc Kavkaz]] đến năm [[1958]]. Ngày [[11 tháng 3]] năm [[1955]], Yeryomenko cùng 5 vị tướng có nhiều công lao trong [[Chiến tranh Xô-Đức|Chiến tranh giữ nước vĩ đại]] được phong hàm [[Nguyên soái Liên bang Xô viết]]. Trước khi nghỉ hưu năm [[1958]] ông là Tổng thanh tra Bộ Quốc phòng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Andrei Yeryomenko mất ngày [[19 tháng 11]] năm [[1970]]. Ông được an táng một cách trang trọng tại chân tường của [[Điện Kremlin]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Cấp bậc ==&lt;br /&gt;
* 30/12/1935 — [[Đại tá]];&lt;br /&gt;
* 17/02/1938 — [[kombrig|Lữ đoàn trưởng]];&lt;br /&gt;
* 09/02/1939 — [[komdiv|Sư đoàn trưởng]];&lt;br /&gt;
* 04/11/1939 — [[komkor|Quân đoàn trưởng]];&lt;br /&gt;
* 04/06/1940 — [[Trung tướng]];&lt;br /&gt;
* 11/09/1941 — [[Thượng tướng]];&lt;br /&gt;
* 27/08/1943 — [[Đại tướng Liên Xô|Đại tướng]];&lt;br /&gt;
* 11/03/1955 — [[Nguyên soái Liên Xô]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tham khảo==&lt;br /&gt;
{{tham khảo}}&lt;br /&gt;
{{Kiểm soát tính nhất quán}}&lt;br /&gt;
{{Trận đánh Stalingrad}}&lt;br /&gt;
{{Nguyên soái Liên Xô}}&lt;br /&gt;
{{Thời gian sống|sinh=1892|mất=1970|tên=Yeryomenko, Andrey Ivanovich}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Yeryomenko, Andrey Ivanovich}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Anh hùng Liên Xô]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Nhân vật trong Thế chiến thứ hai]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Thành viên Xô viết tối cao]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Người Ukraina]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;Caryll Runesmith</name></author>
	</entry>
</feed>