<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=Artsvashen</id>
	<title>Artsvashen - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=Artsvashen"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=Artsvashen&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-10T23:35:10Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=Artsvashen&amp;diff=7948055&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;KHANGTB123: /* Những người đáng chú ý */</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=Artsvashen&amp;diff=7948055&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-06-11T06:29:40Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;span class=&quot;autocomment&quot;&gt;Những người đáng chú ý&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{{Infobox settlement&lt;br /&gt;
| official_name            = Արծվաշեն&lt;br /&gt;
| name                     = Artsvashen&lt;br /&gt;
| image_skyline            = Озеро Башкенд в Азербайджане.jpg&lt;br /&gt;
| image_caption            = Hồ gần Artsvashen&lt;br /&gt;
| pushpin_map              = Armenia#Gegharkunik#Azerbaijan&lt;br /&gt;
| mapsize                  = 150px&lt;br /&gt;
| subdivision_type         = Quốc gia {{nobold|(&amp;#039;&amp;#039;[[de jure]]&amp;#039;&amp;#039;)}}&lt;br /&gt;
| subdivision_name         = [[Armenia]]&lt;br /&gt;
| subdivision_type1        = {{*}} [[Phân cấp hành chính Armenia|Tỉnh]]&lt;br /&gt;
| subdivision_name1        = [[Gegharkunik (tỉnh)|Gegharkunik]]&lt;br /&gt;
| subdivision_type2        = {{*}} [[Đô thị ]]&lt;br /&gt;
| subdivision_name2        = [[Chambarak]]&lt;br /&gt;
| subdivision_type3        = Quốc gia{{nobold|(&amp;#039;&amp;#039;[[de facto]]&amp;#039;&amp;#039;)}}&lt;br /&gt;
| subdivision_name3        = [[Azerbaijan]]&lt;br /&gt;
| subdivision_type4        = {{*}} [[Phân cấp hành chính Azerbaijan|Quận]]&lt;br /&gt;
| subdivision_name4        = [[Gadabey (quận)|Gadabay]]&lt;br /&gt;
| established_title        = Thành lập &lt;br /&gt;
| established_date         = 1845&lt;br /&gt;
| area_total_km2           = 40&lt;br /&gt;
| population_as_of         = 2009&lt;br /&gt;
| population_total         = 127&lt;br /&gt;
| timezone                 = [[Armenia Time|AMT]]&lt;br /&gt;
| utc_offset               = +4&lt;br /&gt;
| coordinates              = {{coord|40|38|46|N|45|30|56|E|region:AM|display=inline,title}}&lt;br /&gt;
| footnotes                = {{GEOnet2|32FA881E736B3774E0440003BA962ED3}}&lt;br /&gt;
| mapframe = yes&lt;br /&gt;
| mapframe-zoom = 11&lt;br /&gt;
| mapframe-wikidata = yes&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
[[Artsvashen]] ([[tiếng Armenia]]: Արծվաշեն, nghĩa là &amp;quot;làng Chim đại bàng&amp;quot;) hay [[Artsvashen|Bashkend]] ([[tiếng Azerbaijan]]: Başkənd; [[tiếng Armenia]]: Բաշքենդ) là một vùng đất tách rời rộng khoảng 40&amp;amp;nbsp;km² của [[Armenia]],&amp;lt;ref&amp;gt;[https://books.google.com/books?id=eDTuxhmqzSkC&amp;amp;dq=artsvashen&amp;amp;pg=PA92 Azerbaijan, by Human Rights Watch/Helsinki Org., 1994]&amp;lt;/ref&amp;gt; nằm hoàn toàn trong lãnh thổ [[Azerbaijan]]. Về mặt hành chính, khu vực này thuộc quản lý danh nghĩa của đô thị [[Chambarak]], tỉnh [[Gegharkunik (tỉnh)|Gegharkunik]], [[Armenia]]. Kể từ cuộc [[chiến tranh Nagorno-Karabakh thứ nhất]]{{sfn| Iskandaryan|2010|p= 71}} vào năm [[1992]], quân đội [[Azerbaijan]] đã kiểm soát vùng đất này. Dù các bên từng tiến hành đàm phán phân định biên giới nhằm giải quyết vấn đề chủ quyền đối với Artsvashen và một số khu vực liên quan, thực trạng tranh chấp đến nay vẫn chưa được định đoạt.&lt;br /&gt;
==Từ nguyên học==&lt;br /&gt;
Artsvashen ([[tiếng Armenia]]: արծիվ, phiên âm La tinh: artsiv, nghĩa là &amp;quot;đại bàng&amp;quot;){{sfn|Everett-Heath|2019}} từng được biết đến qua các tên gọi Bashgyugh, Bashkend và Hin Bashkend. Ngày [[25 tháng 1]] năm [[1978]], chính quyền [[Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Armenia|CHXHCNXV Armenia]] đã chính thức đổi tên ngôi làng này thành Artsvashen.{{sfn|Karapetyan|2007|p= 551}}{{sfn|Hakobyan|Melik-Bakhshyan|Barseghyan|1986|p= 453}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử ==&lt;br /&gt;
[[File:Карта Армянской ССР (1928).jpg|thumb|left|Làng Artsvashen (tên cũ là Bashgyugh) trên bản đồ [[Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Armenia]] năm [[1928]]]]&lt;br /&gt;
[[Người Armenia]] tại Artsvashen vốn có nguồn gốc từ quận Jraberd thuộc tỉnh Artsakh lịch sử. Vào [[thế kỷ 18]], họ di cư đến [[Choratan]] vùng Shamshadin, sau đó tiếp tục chuyển đến ngôi làng cổ Parakert (Paragyugh). Tại đây, họ thành lập thị trấn Bashkend (nay là Artsvashen) trong khoảng thời gian từ năm [[1845]] đến [[1859]].{{sfn|Karapetyan|2007|p= 551}} Dù vậy, dấu tích của [[người Armenia]] ở khu vực này đã xuất hiện từ sớm hơn, minh chứng qua dòng chữ khắc năm [[1607]] tại nhà thờ Surb Hovhannes địa phương.{{sfn|Karapetyan|2007|p= 555}} Cư dân nơi đây vẫn lưu truyền câu chuyện dân gian sau về sự hình thành của thị trấn:&lt;br /&gt;
{{block quote|Xung đột về đồng cỏ đã xảy ra giữa cư dân vùng Artzvashen và những người Thổ Nhĩ Kỳ ở vùng đồng bằng lân cận. Phía Thổ Nhĩ Kỳ yêu cầu đối phương rời đi, nhưng người Armenia từ chối vì đây là quê hương lâu đời của họ. Để phân định quyền sở hữu đất đai một cách hòa bình, hai bên quyết định phân định bằng các cuộc thi đấu thể thao và chọi gia súc. Nhờ chiến thắng của đô vật Arzuman Dallakian và chú bò có tên Tzaghik từ nhà ông Sahak, người Armenia đã giành thắng lợi hoàn toàn, qua đó chính thức giải quyết ổn thỏa tranh chấp lãnh thổ này.{{sfn|Petrossian|1992|p=12}}}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cuối [[thế kỷ 19]], Artsvashen thuộc sở hữu của dòng họ địa chủ Melik-Kalantarian.{{sfn|Karapetyan|2007|p= 551}} Nơi đây từng mang tên Hin Bashkend ([[tiếng Armenia]]: Հին Բաշքենդ, nghĩa là Bashkend Cũ) nhằm phân biệt với khu định cư mới Nor Bashkend của người di cư,&amp;lt;ref name=&amp;quot;:0&amp;quot;&amp;gt;{{Cite Republic of Armenia Settlements Dictionary}}&amp;lt;/ref&amp;gt; và đến năm [[1920]] còn có tên gọi khác là Bashgyugh.&amp;lt;ref name=&amp;quot;:1&amp;quot;&amp;gt;{{Cite web |last=Hovhannisyan |first=Samson |date=20 April 2016 |title=Armenian-Azeri enclave war: Formula of Armenian land division |url=https://www.panarmenian.net/eng/details/206732/ |access-date=28 October 2022 |website=PanARMENIAN.Net}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Trong giai đoạn [[xung đột sắc tộc]] [[1905]]–[[1906]], dù liên tục gánh chịu 13 đợt tấn công từ các vùng lân cận, ngôi làng vẫn đứng vững và tránh được kịch bản bị tàn phá nhờ lực lượng tự vệ tổ chức chặt chẽ.{{sfn|Karapetyan|2007|p= 552}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ năm [[1920]], Artsvashen thuộc huyện [[Krasnoselsky (huyện)|Krasnoselsk]] của [[Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Armenia|Armenia Xô viết]], ban đầu nối liền với chính quốc bằng một hành lang lục địa.{{sfn|Karapetyan|2007|pp= 550–552}} Trong giai đoạn [[1923]]–[[1929]], dù cơ quan quản lý Liên bang Ngoại Kavkaz phân xử chủ quyền vùng này thuộc về phía [[Armenia]], nhưng đến đầu năm [[1927]], khoảng 12.000 ha đất xung quanh vẫn bị chuyển giao cho [[Azerbaijan]]. Nhằm bù đắp tổn thất đó, chính quyền cấp cho [[Armenia]] một dải đất hẹp làm lối đi chung vào [[Tháng hai|tháng 2]] năm [[1929]]. Tuy nhiên, quyết định này bị hủy bỏ vào [[thập niên 1930]], khiến nơi đây một lần nữa biến thành vùng đất lọt thỏm giữa lòng quốc gia láng giềng.{{sfn|Karapetyan|2007|p= 552}} Suốt thời kỳ [[Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Armenia|Xô viết]], Artsvashen sở hữu hệ thống hạ tầng hoàn chỉnh gồm 2 [[trường trung học]], 1 cơ sở dạy nghề, [[nhà thờ]], [[Cung văn hóa|nhà văn hóa]], [[thư viện]], [[bệnh viện]], [[Hiệu thuốc|nhà thuốc]], [[trường mầm non]], các [[rạp chiếu phim]] cùng [[bưu điện]] và trạm dịch vụ dân sinh.{{sfn|Hakobyan|Melik-Bakhshyan|Barseghyan|1986|p= 453}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong [[Chiến tranh Nagorno-Karabakh thứ nhất]], Bộ Nội vụ Armenia cho biết vào [[Tháng năm|tháng 5]] năm [[1991]], người dân Artsvashen đã giao nộp vũ khí để tránh bị quân đội chiếm đóng.&amp;lt;ref&amp;gt;{{cite news|url= https://www.nytimes.com/1991/05/10/world/soviet-army-is-reported-to-attack-and-occupy-2-armenian-villages.html?scp=1&amp;amp;sq=Artzvashen&amp;amp;st=cse|title= Soviet Army Is Reported to Attack And Occupy 2 Armenian Villages|newspaper= [[The New York Times]]|date= May 10, 1991|issn= 0362-4331}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Dù vậy, đến ngày [[4 tháng 8]] năm [[1992]], khu vực này bị tàn phá hoàn toàn, khiến toàn bộ cư dân phải sơ tán.{{sfn|Karapetyan|2007|p= 553}} Phần lớn họ chuyển đến thị trấn [[Chambarak]] định cư, thay thế nhóm người Nga Molokan đã di cư trước đó. Theo tờ [[The New York Times|&amp;#039;&amp;#039;New York Times&amp;#039;&amp;#039;]], ngày [[9 tháng 8]] năm [[1992]], phía [[Azerbaijan]] tuyên bố đã kiểm soát thị trấn, vô hiệu hóa khí tài và khiến 300 tay súng [[Armenia]] thiệt mạng. Ngược lại, báo cáo từ [[Armenia]] không ghi nhận thương vong nhưng xác nhận có 29 người mất tích.&amp;lt;ref name=&amp;quot;nytimes.com&amp;quot;&amp;gt;{{cite news|url= https://www.nytimes.com/1992/08/10/world/armenia-seeks-help-in-fighting-azerbaijan.html?sec=&amp;amp;spon=&amp;amp;scp=1&amp;amp;sq=ARtsVASHEN&amp;amp;st=cse|title= Armenia Seeks Help in Fighting Azerbaijan|newspaper= [[The New York Times]]|date= August 10, 1992|issn= 0362-4331}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tổng thống Armenia Levon Ter-Petrosyan gửi điện tín tới lãnh đạo các nước [[Cộng đồng các Quốc gia Độc lập|Cộng đồng các quốc gia độc lập]] ([[Cộng đồng các Quốc gia Độc lập|SNG]]), khẳng định một thành viên trong khối và hệ thống an ninh chung vừa bị xâm lược.&amp;lt;ref name=&amp;quot;nytimes.com&amp;quot; /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngôi làng sau đó lấy lại tên gọi ban đầu là Bashkend.&amp;lt;ref&amp;gt;{{cite web | title=Päring kohanimeandmebaasist. Väliskohanimed | url=http://www.eki.ee/cgi-bin/mkn.cgi?form=mm&amp;amp;kohanimi=&amp;amp;maakond=AM&amp;amp;nimeliik=&amp;amp;of=tb&amp;amp;staatus=VAR }}&amp;lt;/ref&amp;gt; Hiện nay, khu vực này do [[Azerbaijan]] quản lý{{sfn|Ghazaryan|2019|p= 148}}{{sfn| Iskandaryan|2010|p= 71}} như một phần của quận [[Gadabey (quận)|Gadabay]],&amp;lt;ref&amp;gt;Azerbaijan Seven Years of Conflict in Nagorno-Karabakh, Christopher Panico, Human Rights Watch, Jemera Rone (1994), p.92&amp;lt;/ref&amp;gt; trong khi phần lớn cư dân [[người Armenia]] trước đây đã phải di dời.&amp;lt;ref name= RL&amp;gt;{{cite news|last= Sargsyan|first= Tatevik|trans-title= Artsvashen/Bashkend: A view from the former Armenian enclave in Azerbaijan ahead of negotiations between Yerevan and Baku|script-title=ru:Арцвашен/Башкенд: Взгляд из бывшего армянского анклава в Азербайджане в преддверии переговоров Еревана и Баку|language= ru|date= October 12, 2021|agency= [[Radio Free Europe/Radio Liberty]]|location= Armenia|access-date= October 28, 2023|url= https://rus.azatutyun.am/a/31504025.html}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Tính đến năm [[2011]], khoảng 8.400 người lánh nạn từ Artsvashen và các vùng phụ cận đang cư trú tại [[Armenia]].{{sfn|Vasilyan|2019|p= 243}} Tại làng, một số hộ gia đình [[Azerbaijan]] đã đến định cư, và nhà thờ địa phương được chuyển đổi công năng thành [[Nhà thờ Hồi giáo|thánh đường Hồi giáo]]. Lối vào địa phương hiện có trạm kiểm soát quân sự nhằm hạn chế người nước ngoài và giới báo chí tiếp cận.&amp;lt;ref name= RL/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Khu phố ==&lt;br /&gt;
Trung tâm làng là khu Hạ (Nerkin hay Kachal),{{efn|Armenian for &amp;quot;bald&amp;quot; due to the small number of gardens in the area.}} nơi đặt cung điện văn hóa. Phía bắc gồm khu Thượng (Verin) và Tsits Kar, tiếp giáp với vùng Saribekiants. Khu Shushiants nằm phía trên dải Haram và là nơi tọa lạc của trường trung học địa phương. Qua quá trình mở rộng, hai khu vực mới gồm Chinastagh (Chinastan) cùng Palkh-Kyand đã được sáp nhập vào địa bàn.{{sfn|Karapetyan|2007|p= 551}}&lt;br /&gt;
==Di tích lịch sử==&lt;br /&gt;
[[File:Озеро Башкенд в Кедабеке.jpg|thumb|Hồ chứa nước Artsvashen (xây dựng năm [[1968]]) đã làm ngập một số ngôi mộ cổ thuộc [[Thời đại đồ đồng|thời kỳ đồ đồng]], có niên đại từ [[thế kỷ 10]] đến [[thế kỷ 8]].{{sfn|Karapetyan|2007|pp= 551–554}}{{sfn|Hakobyan|Melik-Bakhshyan|Barseghyan|1986|p= 453}}]]&lt;br /&gt;
Khu vực Artsvashen lưu giữ nhiều di tích lịch sử và văn hóa giá trị, từ các [[Mộ|ngôi mộ]] [[Thời đại đồ đồng|thời kỳ đồ đồng]], [[nghĩa trang]], [[Đền|đền thờ]], bia đá khachkar đến các công trình tôn giáo cổ kính. Nổi bật tại trung tâm thị trấn là Nhà thờ St. Minas xây dựng năm [[1872]], từng được ca ngợi vào năm [[1888]] nhờ kiến trúc cao ráo, mái ngói đặc trưng cùng hoa văn lộng lẫy. Bên cạnh đó, Nhà thờ St. Hovhannes có từ năm [[1607]] do người dân địa phương khởi dựng và được trùng tu vào năm [[1857]]. Cách Artsvashen khoảng 1 đến 1,5&amp;amp;nbsp;km về phía đông là dấu tích của làng cổ Paragyugh (Parakert).{{sfn|Karapetyan|2007|pp= 554–558}} Nơi đây cũng là địa điểm phát hiện tàn tích của một pháo đài kiến trúc kiên cố.{{sfn|Hakobyan|Melik-Bakhshyan|Barseghyan|1986|p= 453}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Yêu cầu bồi thường ==&lt;br /&gt;
Năm [[2009]], chính phủ Armenia cam kết bồi thường 6 tỷ dram cho những cư dân cũ làng Artsvashen đang sinh sống tại [[Chambarak]] để bù đắp tài sản thiệt hại. Sau 2 đợt chi trả đầu tiên trị giá 50 triệu dram, đến năm [[2011]], một khoản ngân sách 708 triệu dram tiếp tục được phân phối, mang lại khoảng 360 nghìn dram cho mỗi người trong số 2.000 dân cư.&amp;lt;ref&amp;gt;{{cite news|last= Mkrtchyan|first= Gayane|title= Cold Comfort for Displaced Armenian Villagers|url= https://www.refworld.org/docid/4d5a1b06c.html|date= 12 February 2011|publisher= [[Institute for War and Peace Reporting]]|access-date= 28 October 2023|location= Armenia}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Dù vậy, việc trì hoãn các đợt thanh toán kế tiếp đã châm ngòi cho các làn sóng khiếu nại vào [[Tháng chín|tháng 9]] năm [[2018]] và [[Tháng mười hai|tháng 12]] năm [[2019]] nhằm đòi kinh phí nâng cấp khu tái định cư xuống cấp ở [[Chambarak]]. Phản hồi vấn đề này, Thủ tướng Armenia Pashinyan khẳng định quốc gia đã hoàn tất nghĩa vụ hỗ trợ người tị nạn thông qua các khoản tiền trên cùng việc cấp chứng nhận nhà ở cho khoảng 112 hộ gia đình.&amp;lt;ref&amp;gt;{{cite web|last= Badalian|first= Naira|url= https://arminfo.info/full_news.php?id=47704&amp;amp;lang=3|title= Former residents of Artsvashen village seized by Azerbaijan held a protest rally in front of the government|location= Armenia|agency= ArmInfo|date= December 5, 2019|access-date= October 27, 2023}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thảm Artsvashen ==&lt;br /&gt;
Thời kỳ [[Liên Xô]], một chi nhánh của công ty quốc doanh &amp;quot;Thảm Armenia&amp;quot; (Haygorg) từng hoạt động tại Artsvashen.&amp;lt;ref name=&amp;quot;hetq&amp;quot;&amp;gt;{{cite web|title= Carpet Weaving in Armenia|url= https://hetq.am/en/article/21375|first= Lena|last= Nazaryan|agency= [[Hetq]]|year= 2007|archive-url=https://web.archive.org/web/20110711062555/http://www.gab-ibn.com/IMG/pdf/Ar31-_Carpet_Weaving_in_Armenia.pdf |archive-date=July 11, 2011 }}&amp;lt;/ref&amp;gt;{{sfn|Hakobyan|Melik-Bakhshyan|Barseghyan|1986|p= 453}} Sau khi khu vực này bị lực lượng [[Azerbaijan]] kiểm soát, người dân đã sơ tán đến các vùng [[Shoghakat|Shorzha]], [[Vardenis]], [[Abovyan]] và [[Chambarak]], mang theo và tiếp tục duy trì nghề dệt thảm truyền thống:{{quote|Tại Artsvashen, phụ nữ thường được mẹ và bà truyền lại nghề dệt thảm. Rất nhiều người từng gắn bó hàng thập kỷ với xí nghiệp Haygorg. Bà Irina Ghalechyan, một cựu dân làng kiêm thợ dệt, chia sẻ rằng trước đây, việc phụ nữ tại đây không biết dệt thảm bị coi là thiếu sót lớn. Vì vậy, dù không làm cho hãng, mỗi gia đình vẫn tự trang bị khung dệt tại nhà để sản xuất.|Lena Nazaryan, cho [[Hetq]]&amp;lt;ref name=&amp;quot;hetq&amp;quot; /&amp;gt;}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thông tin nhân khẩu học ==&lt;br /&gt;
Dòng thời gian dân số của Artsvashen kể từ năm 1831 như sau:&amp;lt;ref name=&amp;quot;:0&amp;quot; /&amp;gt;&lt;br /&gt;
{| class=&amp;quot;wikitable sortable&amp;quot;&lt;br /&gt;
!Năm &lt;br /&gt;
!Dân số&lt;br /&gt;
!Ghi chú &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|1873&lt;br /&gt;
|1,015&lt;br /&gt;
|&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|1897&lt;br /&gt;
|1,847&lt;br /&gt;
|100% [[Giáo hội Tông truyền Armenia|Tông đồ Armenian]]&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite web |title=Religious composition of Russian empire 1897 |url=http://pop-stat.mashke.org/empire-census-1897-religion/jelisavetpolskaja.htm |access-date=2022-08-02 |website=pop-stat.mashke.org}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|1908&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite Kavkazskiy Kalendar 1910}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
| rowspan=&amp;quot;2&amp;quot; |2,687&lt;br /&gt;
| rowspan=&amp;quot;2&amp;quot; |Chủ yếu là [[người Armenia]]&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|1911&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite Kavkazskiy Kalendar 1912}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|1914&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite Kavkazskiy Kalendar 1915}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
| rowspan=&amp;quot;2&amp;quot; |3,079&lt;br /&gt;
| rowspan=&amp;quot;2&amp;quot; |Chủ yếu là [[người Tatar]]{{Efn|Later known as [[Azerbaijanis|Azerbaijani]]. Based on previous years&amp;#039; statistics, &amp;quot;Tatar&amp;quot; is likely to be a printing error in the &amp;#039;&amp;#039;Caucasian Calendar&amp;#039;&amp;#039;.}}&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|1915&amp;lt;ref&amp;gt;{{Cite Kavkazskiy Kalendar 1916}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|1926&lt;br /&gt;
|2,909&lt;br /&gt;
|&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|1939&lt;br /&gt;
|4,280&lt;br /&gt;
|&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|1959&lt;br /&gt;
|4,112&lt;br /&gt;
|&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|1970&lt;br /&gt;
|3,368&lt;br /&gt;
|&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|1979&lt;br /&gt;
|2,771&lt;br /&gt;
|&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|2009&lt;br /&gt;
|127&lt;br /&gt;
|&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
==Những người đáng chú ý==&lt;br /&gt;
Aramais Sahakyan là [[nhà thơ]], cây bút trào phúng người Armenia. Ông từng theo học các khóa văn học cao cấp tại Viện Văn học Maxim Gorky và có hơn 30 năm đảm nhiệm vai trò tổng biên tập tuần báo trào phúng Vozni (&amp;quot;Nhím&amp;quot;). Sau khi [[Liên Xô]] tan rã, ông trở thành đại biểu thuộc Nghị viện đầu tiên của nước [[Armenia]] độc lập.&amp;lt;ref&amp;gt;{{cite web |script-title=ru:Арамаис Саакян поэт, член СПА с 1958 г. |language=ru |trans-title=Aramais Sahakyan poet, member of the SPA since 1958 |url=http://www.wua.am/writers/sahakyan_aramais/rus.htm |website=Writers&amp;#039; Union of Armenia |access-date=30 September 2020 |archive-url=https://web.archive.org/web/20110531153042/http://www.wua.am/writers/sahakyan_aramais/rus.htm |archive-date=31 May 2011 }}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Saribek Chilingaryan là chiến sĩ Cận vệ Liên xô gốc Armenia. [[Tháng tám|Tháng 8]] năm [[1943]], ông gia nhập [[Hồng quân]] để tham gia cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại chống phát xít Đức. Trong [[Chiến dịch Berlin (1945)|Chiến dịch Berlin]], ông lập thành tích đặc biệt khi dẫn đầu đội hình bơi qua con kênh gần làng Bushkhov và dùng lựu đạn bắn hạ hai xe tăng đối phương. Với hành động dũng cảm này, ông đã được Đại tướng Mikhail Malinin, Tham mưu trưởng Mặt trận Belorussia 1, đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên bang Xô viết.{{sfn|Karapetyan|2007|p= 553}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Phòng trưng bày ==&lt;br /&gt;
&amp;lt;gallery mode=&amp;quot;packed&amp;quot; heights=&amp;quot;160&amp;quot;&amp;gt;&lt;br /&gt;
Башкенд Кедабек.jpg|Cảnh quan xung quanh Artsvashen&lt;br /&gt;
ARTSVASHEN.JPG|Bản đồ Artsvashen&lt;br /&gt;
&amp;lt;/gallery&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Ghi chú==&lt;br /&gt;
{{Notelist}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tài liệu tham khảo ==&lt;br /&gt;
{{reflist}}&lt;br /&gt;
==Liên kết ngoài==&lt;br /&gt;
* {{citation|last=Kiesling |first=Brady |title=Rediscovering Armenia: Guide |publisher=Matit Graphic Design Studio|location=[[Yerevan, Armenia]]|year=2005}}&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;KHANGTB123</name></author>
	</entry>
</feed>