<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=Chu_Chi%C3%AAm_Thi%E1%BB%87n</id>
	<title>Chu Chiêm Thiện - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=Chu_Chi%C3%AAm_Thi%E1%BB%87n"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=Chu_Chi%C3%AAm_Thi%E1%BB%87n&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-10T21:13:31Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=Chu_Chi%C3%AAm_Thi%E1%BB%87n&amp;diff=7919310&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;ThitxongkhoiAWB: clean up, replaced: [[Hà Nam (Trung Quốc)| → [[Hà Nam|</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=Chu_Chi%C3%AAm_Thi%E1%BB%87n&amp;diff=7919310&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-07-14T16:22:24Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;clean up, replaced: [[Hà Nam (Trung Quốc)| → [[Hà Nam|&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{{Thông tin nhân vật hoàng gia&lt;br /&gt;
| tên = Chu Chiêm Thiện&lt;br /&gt;
| tên gốc = 朱瞻墡&lt;br /&gt;
| con cái = ba con trai&lt;br /&gt;
| cha = [[Minh Nhân Tông]] Chu Cao Sí&lt;br /&gt;
| mẹ = [[Thành Hiếu Chiêu Hoàng hậu]] Trương thị&lt;br /&gt;
| sinh = [[4 tháng 4]], [[1406]]&lt;br /&gt;
| mất = [[18 tháng 2]], [[1478]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Chu Chiêm Thiện&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; ([[chữ Hán]]: 朱瞻墡, [[4 tháng 4]] năm [[1406]] - [[18 tháng 2]] năm [[1478]]), còn gọi &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Tương Hiến vương&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; (襄憲王) là một [[hoàng tử]] nhà [[Minh]], con trai thứ năm của [[Minh Nhân Tông]] Chu Cao Sí. Trải qua năm đời hoàng đế, ông là một trong những thân vương được trọng vọng bậc nhất trong lịch sử nhà Minh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Cuộc đời ==&lt;br /&gt;
{{chú thích trong đoạn}}&lt;br /&gt;
Chu Chiêm Thiện sinh năm Vĩnh Lạc thứ 4 ([[1406]]), là con trai của [[Minh Nhân Tông]] Chu Cao Sí, khi ấy vẫn còn đang là [[Hoàng thái tử]]. Sinh mẫu của ông là [[Thành Hiếu Chiêu Hoàng hậu]] Trương thị, người [[Hà Nam]], con gái của đại thần [[Trương Kỳ]] (张麒), khi ấy là [[Thái tử phi]], ngoài ông ra thì Trương thị còn sinh trưởng tử [[Minh Tuyên Tông]] Chu Chiêm Cơ, tam tử Việt Tĩnh vương [[Chu Chiêm Dung]] (朱瞻墉) và trưởng nữ [[Gia Hưng công chúa]] (嘉興公主). Tương truyền ông văn võ song toàn, am hiểu văn chương nên rất được Nhân Tông và Trương hoàng hậu sủng ái. Sau khi [[Minh Nhân Tông]] đăng cơ, Chu Chiêm Thiện được phong &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Tương vương&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; (襄王). Chẳng lâu sau, Nhân Tông băng hà, Thái tử khi ấy vẫn đang giám quốc tại [[Nam Kinh]], Trương hoàng hậu khi ấy mật lệnh cho con trai thứ Chu Chiêm Thiện làm giám quốc tại [[Bắc Kinh]] với sự hỗ trợ của Hộ bộ Thượng thư [[Hạ Nguyên Cát]] (夏原吉), vì thế khi ấy hai kinh nam - bắc đều có giám quốc. Khi ấy, Đại học sĩ [[Dương Sĩ Kỳ]] có ghi chép: &amp;#039;&amp;#039;&amp;quot;Nhân Tông băng hà, Hạ Trung Tĩnh công thụ cố mệnh. Lúc ấy Tuyên Tông là Hoàng thái tử, đang giám quốc tại Nam Kinh, trong ngoài xôn xao, lo lắng về mối họa Hán Thứ nhân (Hán Vương). Thái hậu cho rằng Hạ công là bậc phụ tá cũ của Đông cung, nên mọi việc quân quốc đều lệnh cho ông tài xử. Hạ công mật mưu gấp rút nghênh giá về kinh. Khi giá sắp tới, quần thần ra đón, Thái hậu mật mệnh cho Hạ công ở lại phò tá Tương Vương giám quốc. Hoàng thượng gặp các phụ thần, câu đầu tiên hỏi Hạ công đang ở đâu. Các vị Kiển Thiếu sư không đáp được, Hoàng thượng không vui. Khi giá về đến kinh, ngài triệu Hạ công tới an ủi rằng: &amp;#039;Vừa rồi ta thấy Thái hậu dụ bảo về ý định để khanh ở lại, trẫm mới biết được việc ấy&amp;#039;.&amp;quot;&amp;#039;&amp;#039; Đáng chú ý, đây là lần đầu tiên triều đình nhà Minh để một phiên vương nhà Minh lên làm Giám quốc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tháng 8 năm Tuyên Đức thứ nhất ([[1426]]), Tuyên Tông dẹp loạn [[Chu Cao Hú|Hán vương]], lệnh cho ông cùng [[Chu Chiêm Xuân]] cư thủ [[Bắc Kinh]]. Tuy nhiên, lần cư thủ này có Quảng Bình hầu [[Viên Dung]], Vũ An hầu [[Trịnh Hanh,]] Đô đốc [[Trương Thăng]], [[Sơn Vân]], Thượng thư [[Hoàng Hoài]], [[Hoàng Phúc]], [[Lý Hữu Trực]] hiệp đồng phò tá&amp;lt;ref&amp;gt;《宣宗實錄》宣德元年八月己巳條。&amp;lt;/ref&amp;gt; nên không thể so bì với Thái tử giám quốc được.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau [[sự biến Thổ Mộc Bảo]], [[Minh Anh Tông]] bị bắt làm tù binh lên phương Bắc. Khi ấy trưởng tử của Anh Tông là [[Chu Kiến Thâm]] còn đang bọc tã lót, trong khi đó Tương vương Chu Chiêm Thiện là người con trai lớn nhất tuổi nhất còn sống của Trương thái hoàng thái hậu lại có tiếng hiền minh nên [[Tôn hoàng hậu (Minh Tuyên Tông)|Tôn thái hậu]] có ý muốn lập ông làm Hoàng đế, sai người lấy kim phù của Tương vương để triệu ông vào cung. Tương vương lập tức phản đối, dâng thư kiến lập con trai Anh Tông là Chu Kiến Thâm làm [[Hoàng thái tử]], em trai Anh Tông là [[Chu Kỳ Ngọc]] làm Giám quốc. Về sau, Tôn thái hậu tiếp nhận đề xuất của [[Vu Khiêm]], lập Chu Kỳ Ngọc làm Hoàng đế. Khi Anh Tông được đưa trở về kinh sư, Đại Tông đem giam cầm Anh Tông tại Nam cung, phong làm [[Thái thượng hoàng]]. Tương vương lại dâng thư cho Đại Tông: &amp;quot;&amp;#039;&amp;#039;Xin Hoàng thượng tốt nhất là sáng tối đều nên hỏi an Thái thượng hoàng (Anh Tông), dẫn quần thần triều kiến, đừng quên sự cung thuận.&amp;#039;&amp;#039;&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi Anh Tông lên ngôi lần hai, bọn [[Thạch Hanh]] vu hãm [[Vu Khiêm]] và [[Vương Văn]] tội mưu lập ngoại phiên lên làm đế, hai người bị bỏ ngục vì tội mưu nghịch. Việc này khiến Anh Tông rất nghi ngờ Tương vương có dã tâm này&amp;lt;ref&amp;gt;明·黄瑜《双槐岁钞》卷八：“初，景泰不豫，群臣愿复睿皇。惟内阁王文与太监王诚欲立襄世子，陈循辈知之。已而景泰疾亟，太监兴安讽群臣，请复茂陵于东宫，佥以为宜。王文独曰：&amp;quot;虽请之，知其欲谁立乎？&amp;quot;学士萧鎡曰：&amp;quot;既退矣，不可再也。&amp;quot;故奏辞以请择元良为言，奏上，不允。人竟传王文、于谦已遣人赍金牌、敕符往襄府矣。”&amp;lt;/ref&amp;gt;, sau đó lại tìm được hai bức thư trước đây Tương vương gửi và kim phù của Tương quốc trong nơi ở Thái hậu liền xóa bỏ mọi nghi ngờ, hạ chiếu triệu ông vào cung mà mở tiệc thiết đãi long trọng. Trong bữa tiệc, ông liền cầu xin thả Án sát sứ [[Vương Khải]], Anh Tông đồng ý và bổ nhiệm ông ta làm Đại lý tự khanh. Kể từ đó, Anh Tông đối với ông hết mực coi trọng, thường xuyên đích thân đưa tiễn, lại ban sắc lệnh cho Vương hàng năm cùng các con được ra ngoài thành săn bắn. Năm Thiên Thuận thứ 5 ([[1453]]), Anh Tông lại triệu ông, ông vì tuổi già nên xin từ tạ. Hàng năm vua đều sai người hỏi thăm, lễ ngộ long trọng mà không phiên vương nào có được&amp;lt;ref&amp;gt;《湧幢小品》卷五·送親王&amp;lt;/ref&amp;gt;.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm Thành Hóa thứ 14 ([[1478]]), Tương vương Chu Chiêm Ngân qua đời, hưởng thọ 72 tuổi, là người con sống thọ nhất của Nhân Tông. [[Minh Hiến Tông]] tôn thụy &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Hiến vương&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; (憲王). Vào năm sau, triều đình lệnh cho trưởng tử của ông là [[Chu Kỳ Dung]] (朱祁鏞) kế thừa tước vị Tương vương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Hậu duệ ==&lt;br /&gt;
Chính thất của ông là Tương vương phi Phan thị (潘氏), con gái Binh mã chỉ huy Phan Tuấn (潘俊), phong Vương phi năm Tuyên Đức thứ ba ([[1428]]). Ngoài ra còn có thiếp Mã thị (馬氏), phong &amp;#039;&amp;#039;Phu nhân&amp;#039;&amp;#039; năm [[1455]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Trưởng tử, &amp;#039;&amp;#039;Tương Định vương&amp;#039;&amp;#039; [[Chu Kỳ Dung]] (朱祁鏞, 1429 - 1488), mẹ là Phan thị. Năm [[1479]] kế thừa tước vị &amp;#039;&amp;#039;Tương vương&amp;#039;&amp;#039;, qua đời năm Hoằng Trị thứ nhất. Chính thất là Tương vương phi Lý thị (李氏), thứ phi Ngu thị (虞氏), Lưu thị (刘氏) sau đều phong &amp;#039;&amp;#039;Phu nhân&amp;#039;&amp;#039; (夫人).&lt;br /&gt;
** &amp;#039;&amp;#039;Tưong Giản vưong&amp;#039;&amp;#039; [[Chu Kiến Thục]] (朱見淑, 1451 - 1490), mẹ là Ngu thị, tập tước chưa được hai năm thì qua đời, không có con cái nên bị phế trừ.&lt;br /&gt;
** &amp;#039;&amp;#039;Tương Cung vương&amp;#039;&amp;#039; [[Chu Kiến Phương]] (朱見淓, 1470 - 1516), mẹ là Lưu thị, sau khi Chu Kiến Thục qua đời thì tập tước. Chính thất là Vương phi Chu thị (周氏), thứ phi Nghiêm thị (嚴氏), có năm con trai.&lt;br /&gt;
** &amp;#039;&amp;#039;Trấn Ninh Cung Tĩnh vương&amp;#039;&amp;#039; [[Chu Kiến Nghị]] (朱見瀷, 1482 - 1522), mẹ là Lưu thị, có hai con trai.&lt;br /&gt;
* Nhị tử, &amp;#039;&amp;#039;Ninh Hương Trang Hiến vương&amp;#039;&amp;#039; [[Chu Kỳ Hoành]] (朱祁鐄, 1430 - 1471), mẹ là thứ thiếp không rõ tên. Vợ là Vương phi Lý thị (李氏), không có con cái.&lt;br /&gt;
* Tam tử, &amp;#039;&amp;#039;Tảo Dương An Mục vương&amp;#039;&amp;#039; [[Chu Kỳ Chinh]] (朱祁鉦, 1437 - 1476), mẹ là Mã thị, có một con trai.&lt;br /&gt;
* Trưởng nữ, mẹ là Phan thị, phong &amp;#039;&amp;#039;Tương Đàm Quận chúa&amp;#039;&amp;#039; (湘潭郡主), lấy Nghi tân Lưu Long (劉隆)&amp;lt;ref&amp;gt;卷八·襄憲王先德神道碑. ［嘉靖］湖廣圖經志書.&amp;lt;/ref&amp;gt;.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Thân vương nhà Minh]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;ThitxongkhoiAWB</name></author>
	</entry>
</feed>