<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=G%C3%B2_C%C3%B4ng</id>
	<title>Gò Công - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=G%C3%B2_C%C3%B4ng"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=G%C3%B2_C%C3%B4ng&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-10T23:20:52Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=G%C3%B2_C%C3%B4ng&amp;diff=7886045&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;Hàm Phổ vào lúc 04:16, ngày 4 tháng 5 năm 2026</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=G%C3%B2_C%C3%B4ng&amp;diff=7886045&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-05-04T04:16:43Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{{other|Gò Công (định hướng)}}&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Gò Công&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; là một địa danh tại miền Nam Việt Nam. Trong lịch sử, địa danh này được sử dụng cho nhiều đơn vị hành chính khác nhau. Hiện tại, địa danh này được dùng chính thức để chỉ đến phường [[Gò Công (phường)|Gò Công]], một đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh [[Đồng Tháp]], [[Việt Nam]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Nguồn gốc==&lt;br /&gt;
Theo tài liệu [[Hoàng Việt nhất thống Dư địa chí]] của [[Lê Quang Định]], vào thời [[nhà Nguyễn]], có 2 địa danh Gò Công được ghi nhận. Một địa danh Gò Công (塸䲲) ở dinh Trấn Biên (sau đổi thành tỉnh [[Biên Hòa (tỉnh)|Biên Hòa]] và một địa danh Gò Công (塸工) ở trấn Định Tường (sau đổi thành tỉnh [[Định Tường (tỉnh)|Định Tường]]). Địa danh Gò Công được biết đến nhiều nhất chính là địa danh Gò Công (塸工, &amp;#039;&amp;#039;gò do công sức mà làm ra&amp;#039;&amp;#039;) ở Định Tường, nay thuộc tỉnh [[Đồng Tháp]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Những thay đổi trong lịch sử==&lt;br /&gt;
Nguyên xưa, đất Gò Công vốn là một xứ của [[Chân Lạp]], có tên là &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Lôi Lạt&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; ([[chữ Hán]]: Lôi Lạt 雷巤). Năm [[1757]], quân [[Chúa Nguyễn]] tấn công Chân Lạp, vua Chân Lạp là [[Ang Snguon]] phải dâng hai xứ Tầm Bôn&amp;lt;ref name=&amp;quot;:0&amp;quot;&amp;gt;Tầm Bôn - nay là [[Tân An (thành phố)|Tân An]]. Theo [http://lib.nomfoundation.org/collection/1/volume/182/page/24 Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 23], tên Hán là Tầm Bôn 尋奔.&amp;lt;/ref&amp;gt; và Lôi Lạt&amp;lt;ref name=&amp;quot;:1&amp;quot;&amp;gt;Lôi Lạt - nay là [[Gò Công (tỉnh)|Gò Công]]. Theo [http://lib.nomfoundation.org/collection/1/volume/182/page/24 Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 23], tên Hán là Lôi Lạt 雷巤 không phải là Lôi Lạp 雷臘.&amp;lt;/ref&amp;gt; để tạ tội. [[Chúa Nguyễn]] tiếp nhận 2 xứ này và nhập vào tổng Kiến Hòa, châu Định Viễn, dinh Long Hồ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dưới thời [[Nhà Nguyễn]] độc lập, vào năm 1820, toàn bộ vùng đất Gò Công ngày nay ban đầu thuộc tổng Hòa Bình, huyện Kiến Hòa, trấn [[Định Tường]]. Sau này, lại tách vùng đất này ra khỏi trấn Định Tường để thành lập huyện Tân Hòa thuộc phủ Hòa Thạnh (lập năm 1841), tỉnh [[Gia Định]]. Huyện Tân Hòa khi đó bao gồm 2 tổng trực thuộc: Hòa Đồng và Hòa Lạc.&lt;br /&gt;
* Tổng Hòa Đồng có 15 thôn: Bình Công, Bình Hưng, Bình Long, Bình Long Tây, Bình Phú Đông, Bình Phú Tây, Bình Phục Nhì, Dương Phước, Đồng Sơn, Long Chánh, Tân Cang, Tân Nhựt, Vĩnh Hựu, Vĩnh Lợi, Vĩnh Thạnh.&lt;br /&gt;
* Tổng Hòa Lạc có 15 thôn: An Long Đông, An Long Tây, Bình Ân, Bình Nghị, Bình Thạnh Đông, Bình Thạnh Tây, Bình Xuân, Tân Niên Đông, Tân Niên Tây, Tân Niên Trung, Tân Phước, Tăng Hòa, Tân Duân Đông, Thuận Ngãi, Thuận Tắc và phường Toàn Phước.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1841, dưới triều vua [[Thiệu Trị]], địa bàn huyện Tân Hòa lại được chia thành 4 tổng mới: Hòa Đồng Thượng, Hòa Đồng Hạ, Hòa Lạc Thượng và Hòa Lạc Hạ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1851, phủ Hòa Thạnh bị giải thể và nhập vào phủ [[Tân An (thành phố)|Tân An]]. Huyện Tân Hòa khi đó thuộc phủ [[Tân An (thành phố)|Tân An]], tỉnh [[Gia Định (tỉnh)|Gia Định]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Giai đoạn 1862–1900===&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Go Cong Province 1881.jpg|300px|phải|nhỏ|Bản đồ hạt Gò Công năm 1881]]&lt;br /&gt;
Với [[Hòa ước Nhâm Tuất (1862)]], triều đình Huế nhượng hẳn 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ ([[Biên Hòa (tỉnh)|Biên Hòa]], [[Gia Định (tỉnh)|Gia Định]], [[Định Tường]]) cho [[Đế quốc thực dân Pháp|thực dân Pháp]] làm thuộc địa. Ban đầu, Pháp vẫn giữ nguyên cách phân ranh hành chính của tỉnh [[Gia Định (tỉnh)|Gia Định]] như cũ, chỉ thay đổi quan lại bằng người Pháp để thi hành chính sách trực trị và đàn áp. Năm 1862, huyện Tân Hòa có lỵ sở đặt tại [[Gò Công (thành phố)|Gò Công]], bao gồm 4 tổng trực thuộc: Hòa Đồng Thượng (7 thôn), Hòa Đồng Hạ (10 thôn), Hòa Lạc Thượng (8 thôn), Hòa Lạc Hạ (8 thôn).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 9 tháng 11 năm 1864, thực dân Pháp lại thành lập hạt Thanh tra Tân Hòa trên địa bàn huyện Tân Hòa thuộc phủ [[Tân An (thành phố)|Tân An]], tỉnh [[Gia Định (tỉnh)|Gia Định]] cũ. Trụ sở hạt Thanh tra Tân Hòa đặt tại Gò Công. Lúc đầu, hạt Thanh tra tạm gọi tên theo tên các phủ huyện cũ, sau mới đổi tên gọi theo địa điểm đóng trụ sở.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 16 tháng 2 năm 1867, toàn bộ [[cù lao Lợi Quan]] vốn trước đó thuộc tổng Hòa Quới, hạt Thanh tra Kiến Hòa (sau đổi tên thành hạt Thanh tra Chợ Gạo) được giao về cho tổng Hòa Đồng Hạ thuộc hạt Thanh tra Tân Hòa quản lý. Cù lao Lợi Quan trước đó gồm 4 thôn: Tân Phong, Từ Linh (tên cũ là thôn Miễu Ông), Hòa Thới và Phú Thạnh Đông. Cũng nhân sự kiện này, ba thôn Tân Phong, Từ Linh và Hòa Thới được nhập lại thành một thôn mới lấy tên là thôn Tân Thới. Từ đó, địa phận [[cù lao Lợi Quan]] chỉ còn hai thôn (sau này là làng) là Tân Thới và Phú Thạnh Đông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1867, chính quyền thực dân Pháp chia 3 tỉnh cũ thời [[Nhà Nguyễn]] độc lập là Gia Định, Biên Hòa và Định Tường thành 13 hạt thanh tra (&amp;#039;&amp;#039;inspection&amp;#039;&amp;#039;) do các viên chức Pháp ngạch thanh tra các công việc bản xứ (&amp;#039;&amp;#039;inspecteur des affaires indigeânes&amp;#039;&amp;#039;) đứng đầu, nhưng tạm thời vẫn giữ cơ cấu phủ huyện cũ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 16 tháng 8 năm 1867, hạt Thanh tra Gò Công được thành lập do đổi tên từ hạt Thanh tra Tân Hòa trước đó, là một trong 24 hạt Thanh tra toàn xứ [[Nam Kỳ]] thuộc Pháp lúc bấy giờ, gồm có 4 tổng, 39 thôn: tổng Hòa Đồng Hạ (11 thôn); tổng Hòa Đồng Thượng (7 thôn); tổng Hòa Lạc Hạ (12 thôn); tổng Hòa Lạc Thượng (9 thôn). Hạt Thanh tra Gò Công lúc bấy giờ thuộc tỉnh Sài Gòn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 5 tháng 1 năm 1876, các thôn được gọi là làng, đồng thời Gò Công trở thành một hạt tham biện (&amp;#039;&amp;#039;arrondissement&amp;#039;&amp;#039;) thuộc khu vực (&amp;#039;&amp;#039;circonscription&amp;#039;&amp;#039;) Mỹ Tho do thực dân Pháp đặt ra.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1882, hạt tham biện (còn gọi là Tiểu khu hành chính, trị sở được dân gian quen gọi là tòa Bố) Gò Công gồm 4 [[Tổng (đơn vị hành chính cũ Việt Nam)|tổng]]: Hòa Đồng Thượng, Hòa Đồng Hạ, Hòa Lạc Thượng, Hòa Lạc Hạ.&lt;br /&gt;
* Tổng Hòa Đồng Thượng có 8 làng: Trường Xuân, Đông Sơn, Bình Lạc, Bình Phú Đông, Bình Phú Tây, Thạnh Nhứt, Bình Phước, Bình Phục Nhì.&lt;br /&gt;
* Tổng Hòa Đồng Hạ có 17 làng: Vĩnh Hựu, Vĩnh Thanh, Vĩnh Lợi, Long Hựu, Long Thanh, Tân Long, Bình Luông Đông, Bình Luông Tây, Bình Luông Trung, Yên Luông Đông, Yên Luông Tây, Tân Cương, Long Chánh, Bình Công, Bình Hòa, Tân Thới, Phú Thạnh Đông.&lt;br /&gt;
* Tổng Hòa Lạc Thượng có 12 làng: Phú Xuân, Bình Xuân, Mỹ Lợi, Tân Xuân, Mỹ Xuân, Bình Thạnh Đông, Bình Thạnh, Tân Niên Đông, Tân Niên Tây, Tân Niên Trung, Tân Phước, Gia Thuận.&lt;br /&gt;
* Tổng Hòa Lạc Hạ có 13 làng: Thuận Tắc, Thuận Ngãi, Hòa Nghị, Tân Duân Đông, Tân Duân Trung, Dương Phước, Dương Hòa, Tăng Hòa, Tân Thành, Bình An, Bình Điền, An Điền, Kiểng Phước.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy, toàn bộ địa bàn hạt Gò Công lúc bấy giờ chính là huyện Tân Hòa thuộc phủ [[Tân An (thành phố)|Tân An]], tỉnh [[Gia Định (tỉnh)|Gia Định]] dưới thời [[Nhà Nguyễn]] độc lập. Trước đây, địa danh &amp;quot;Gò Công&amp;quot; chỉ là tên gọi nơi đặt lỵ sở huyện Tân Hòa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Giai đoạn 1900–1954===&lt;br /&gt;
[[Hình:Dinh Chánh Tham Gò Công.jpg|nhỏ|250px|phải| Di tích dinh Tham biện thời Pháp thuộc, sau đó là dinh Tỉnh trưởng ở thị xã Gò Công]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 20 tháng 12 năm 1899, [[Toàn quyền Đông Dương]] ban hành Nghị định về việc đổi tất cả các hạt tham biện thành tỉnh thì từ ngày 1 tháng 1 năm 1900, hạt tham biện Gò Công trở thành tỉnh Gò Công, với số tổng và số làng không đổi. Tỉnh lỵ Gò Công đặt tại làng Thành Phố, vốn là hai làng Thuận Tắc và Thuận Ngãi nhập lại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1910, tỉnh Gò Công có 4 tổng và 38 làng.&lt;br /&gt;
* Tổng Hòa Đồng Thuông có 5 làng: Bình Phú Đông, Bình Phú Tây, Bình Phục Nhì, Đồng Sơn, Thạnh Nhựt.&lt;br /&gt;
* Tổng Hòa Đồng Hạ có 16 làng: An Long Đông, An Long Tây, Bình Công, Bình Long Đông, Bình Long Tây, Bình Long Trung, Long Chánh, Long Hựu, Long Thạnh, Phú Thạnh Đông, Tân Cang, Tân Thới, Vĩnh Hựu, Vĩnh Lợi, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Trị.&lt;br /&gt;
* Tổng Hòa Lạc Thượng có 7 làng: Bình Thạnh, Bình Thạnh Đông, Bình Xuân, Tân Niên Đông, Tân Niên Tây, Tân Niên Trung, Tân Phước.&lt;br /&gt;
* Tổng Hòa Lạc Hạ có 10 làng: Bình Ân, Tân Bình Điền, Dương Phước, Hòa Nghị, Kiểng Phước, Tân Duân Đông, Tân Duân Trung, Tân Hòa, Tân Thành, Tân Phố.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 9 tháng 2 năm 1913 đến ngày 9 tháng 2 năm 1924, Gò Công trở thành quận thuộc tỉnh [[Mỹ Tho (tỉnh)|Mỹ Tho]]. Sau đó lại tái lập tỉnh Gò Công với 5 tổng, thêm tổng Hòa Đồng Trung, số làng cũng thay đổi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi chính quyền địch do tên Tỉnh trưởng Trần Hưng Ký bị cách mạng lật đổ trong [[Cách mạng tháng Tám]] tháng 8 năm 1945, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam Bộ bỏ cấp tổng, còn làng thì thống nhất gọi là xã. Chính quyền [[Việt Nam Cộng hòa]] đến năm 1956 cũng thống nhất dùng danh xưng là xã.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1946, Gò Công là một trong 21 tỉnh của [[Nam Bộ Việt Nam|Nam Bộ]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1951, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ ban hành Quyết định về việc sáp nhập 3 tỉnh: Gò Công, [[Mỹ Tho (tỉnh)|Mỹ Tho]], [[Tân An (tỉnh)|Tân An]] thành một tỉnh có tên là tỉnh [[Mỹ Tho (tỉnh)|Mỹ Tho]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau năm 1954, lại trả về 3 tỉnh như cũ, trong đó có tỉnh Gò Công.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Giai đoạn 1954–1976===&lt;br /&gt;
====Việt Nam Cộng hòa====&lt;br /&gt;
{|class=&amp;quot;wikitable&amp;quot;&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! colspan=&amp;quot;2&amp;quot;| Dân số của các quận thuộc tỉnh Gò Công năm 1967&amp;lt;ref&amp;gt;{{chú thích sách|url=|tựa đề= Đà Lạt: Phân cục Địa dư Quốc gia |tác giả= Việt Nam Cộng hòa bản đồ hành chánh |nhà xuất bản=|year= 1967 |trang=|doi=|id=|isbn=}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
|- style=&amp;quot;background:lightgrey;&amp;quot;&lt;br /&gt;
! Quận&lt;br /&gt;
! Dân số (người)&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Hòa Bình&lt;br /&gt;
| 23.286 &lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Hòa Đồng&lt;br /&gt;
| 40.485&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Hòa Lạc&lt;br /&gt;
| 56.176&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| Hòa Tân&lt;br /&gt;
| 47.817&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Tổng số&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
| 167.764 &lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
Ban đầu, chính quyền [[Quốc gia Việt Nam]] và sau đó là [[Việt Nam Cộng hòa]] vẫn duy trì tên gọi tỉnh Gò Công như thời Pháp thuộc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 2 tháng 4 năm 1955, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cho lập 2 quận ở tỉnh Gò Công:&lt;br /&gt;
* Quận [[Châu Thành (huyện Tiền Giang)|Châu Thành]] có 2 tổng: tổng Hòa Lạc Thượng 7 làng, tổng Hòa Lạc Hạ 10 làng. Quận lỵ: làng Thành Phố.&lt;br /&gt;
* Quận Hòa Đồng có 3 tổng: tổng Hòa Đồng Hạ 8 làng, tổng Hòa Đồng Trung 9 làng, tổng Hòa Đồng Thượng 9 làng. Quận lỵ: làng Đồng Sơn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đầu năm 1956, tỉnh Gò Công có diện tích là 584&amp;amp;nbsp;km², dân số là 135.330 người. Riêng ở tỉnh lỵ [[Gò Công (thành phố)|Gò Công]] (tức địa bàn làng Thành Phố), dân số là 7.570 người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Tập tin: Southvietmap.jpg|nhỏ|200px|Bản đồ hành chính [[Việt Nam Cộng hòa]] năm 1967]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống [[Việt Nam Cộng hòa]] [[Ngô Đình Diệm]] ban hành Sắc lệnh số 143-NV&amp;lt;ref name=143-NV&amp;gt;Sắc lệnh số 143-NV về việc để thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam. Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Việt Nam Cộng hòa gồm [[Thành phố Hồ Chí Minh|Đô thành Sài Gòn]] và 22 tỉnh.&amp;lt;/ref&amp;gt; về việc sáp nhập tỉnh Gò Công vào tỉnh [[Định Tường]] mới thành lập trên phần đất tỉnh [[Mỹ Tho (tỉnh)|Mỹ Tho]] trước đó. Khi đó quận Châu Thành đổi tên thành quận Gò Công thuộc tỉnh [[Định Tường]]. Cũng sau năm 1956, các làng gọi là xã; làng Thành Phố đổi tên thành xã Long Thuận và là nơi đặt quận lỵ của quận [[Gò Công (huyện)|Gò Công]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 26 tháng 12 năm 1957, xóa bỏ cù lao Tàu trong địa hạt xã Tân Thới, tổng Hòa Đồng Hạ, quận [[Gò Công (huyện)|Gò Công]], tỉnh [[Định Tường]] và đặt cù lao này vào địa hạt xã Long Phụng, tổng Hòa Quới, quận [[Bình Đại (huyện)|Bình Đại]], tỉnh [[Kiến Hòa]] (trước đó là tỉnh [[Bến Tre (tỉnh)|Bến Tre]]).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 20 tháng 12 năm 1963, chính quyền [[Việt Nam Cộng hòa]] ban hành Sắc lệnh số 36-TTP về việc tái lập tỉnh Gò Công, tách từ tỉnh [[Định Tường]].&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích web|url=https://www.archives.org.vn/gioi-thieu-tai-lieu-nghiep-vu/ky-iii-dia-gioi-hanh-chinh-viet-nam-tu-1945-den-1975.htm#_ftnref14|tựa đề= Kỳ III: Địa giới hành chính Việt Nam từ 1945 đến 1975 |tác giả= BBT |ngày= 2025-04-18 |website= Trung tâm Lưu trữ quốc gia I |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20250609034704/https://www.archives.org.vn/gioi-thieu-tai-lieu-nghiep-vu/ky-iii-dia-gioi-hanh-chinh-viet-nam-tu-1945-den-1975.htm#_ftnref14|ngày lưu trữ= 2025-06-09 |ngày truy cập= 2025-06-09 |url-status= dead }}&amp;lt;/ref&amp;gt; Tỉnh lỵ có tên là &amp;quot;Gò Công&amp;quot;, về mặt hành chánh thuộc xã Long Thuận, quận [[Châu Thành (huyện Tiền Giang)|Châu Thành]] (quận Gò Công cũ).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1965, tỉnh lỵ Gò Công thuộc xã Long Thuận, quận Hòa Lạc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gò Công là một tỉnh nhỏ, phía bắc với giáp hai tỉnh [[Long An (tỉnh)|Long An]] và [[Gia Định (tỉnh)|Gia Định]], phía đông là [[Biển Đông]], phía nam giáp tỉnh [[Kiến Hòa]], phía tây giáp tỉnh [[Định Tường]]. Ranh giới phía nam của Gò Công là sông Cửa Đại, ranh giới phía bắc là [[sông Vàm Cỏ Tây]], còn ranh giới phía đông bắc là [[sông Nhà Bè]] đổ ra cửa [[Soài Rạp]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi mới tái lập, tỉnh Gò Công gồm 2 quận: [[Châu Thành (huyện Tiền Giang)|Châu Thành]] (đổi tên từ quận Gò Công) và Hòa Đồng với 4 tổng, 31 xã.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 31 tháng 12 năm 1963, dời quận lỵ quận Hòa Đồng từ xã Đồng Sơn đến xã Vĩnh Bình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 6 tháng 4 năm 1965, chính quyền [[Việt Nam Cộng hòa]] sắp xếp hành chính, chia lại tỉnh Gò Công thành các quận như sau:&lt;br /&gt;
* Chia quận [[Châu Thành (huyện Tiền Giang)|Châu Thành]] thành 2 quận: Hòa Tân và Hòa Lạc&lt;br /&gt;
:* Quận Hòa Tân: quận lỵ tại xã Tân Niên Tây với 9 xã&lt;br /&gt;
:* Quận Hòa Lạc: quận lỵ tại xã Tăng Hòa với 9 xã&lt;br /&gt;
* Chia quận Hòa Đồng thành 2 quận: Hòa Đồng và Hòa Bình &lt;br /&gt;
:* Quận Hòa Đồng: quận lỵ tại xã Vĩnh Bình với 8 xã&lt;br /&gt;
:* Quận Hòa Bình: quận lỵ tại xã Bình Luông Đông với 5 xã.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1970, tỉnh Gò Công có diện tích 570&amp;amp;nbsp;km², dân số là 191.291 người. Riêng ở tỉnh lỵ Gò Công (tức địa bàn xã Long Thuận), dân số là 36.248 người. Tỉnh có 4 quận và 32 làng.&lt;br /&gt;
* Quận Hòa Bình có 5 xã: Bình Long, Bình Long Đông, Long Hựu, Phú Thạnh Đông, Tân Thới.&lt;br /&gt;
* Quận Hòa Đồng có 8 xã: Bình Phú Đông, Bình Phục Nhì, Đồng Sơn, Thạnh Nhựt, Thạnh Trị, Vĩnh Bình, Vĩnh Hựu, Vĩnh Viễn.&lt;br /&gt;
* Quận Hòa Lạc có 9 xã: An Hòa, Bình Tân, Bình Ân, Long Thuận, Phước Trung, Tăng Hòa, Tân Bình Điền, Tân Thành, Yên Luông.&lt;br /&gt;
* Quận Hòa Tân có 10 xã: Bình Thạnh Đông, Bình Xuân, Gia Thuận, Kiểng Phước, Tân Niên Đông, Tân Niên Tây, Tân Niên Trung, Tân Phước, Thành Công, Vàm Láng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy tỉnh Gò Công cho đến năm 1975 có 4 quận: Hòa Tân, Hòa Lạc, Hòa Đồng, Hòa Bình.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích web|url=http://www.quehuonggocong.com|tựa đề= Giới thiệu về Thị xã Gò Công |tác giả=|ngày=|website= Quê hương Gò Công |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20181103094311/http://quehuonggocong.com/|ngày lưu trữ= 2018-11-03 |ngày truy cập= 2018-11-03 |url-status=live}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
====Chính quyền Cách mạng====&lt;br /&gt;
Về phía [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam|chính quyền Cách mạng]], giai đoạn 1955–1956 sắp xếp tỉnh Gò Công bao gồm thị xã [[Gò Công (thành phố)|Gò Công]] và 2 huyện: [[Châu Thành (huyện Tiền Giang)|Châu Thành]], Hòa Đồng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1957, chính quyền [[Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam]] (sau này là [[Cộng hòa miền Nam Việt Nam|Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam]]) và [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] nhập tỉnh Gò Công và tỉnh [[Mỹ Tho (tỉnh)|Mỹ Tho]] làm một đơn vị và gọi là tỉnh [[Mỹ Tho (tỉnh)|Mỹ Tho]], đồng thời chuyển thành huyện Gò Công trực thuộc tỉnh Mỹ Tho. Trong giai đoạn 1964–1968, địa bàn tỉnh Gò Công của chính quyền [[Việt Nam Cộng hòa]] vẫn do huyện [[Gò Công (huyện)|Gò Công]] thuộc tỉnh [[Mỹ Tho (tỉnh)|Mỹ Tho]] của chính quyền Cách mạng quản lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tháng 8 năm 1968, huyện [[Gò Công (huyện)|Gò Công]] lại được chính quyền [[Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam]] tách khỏi tỉnh [[Mỹ Tho (tỉnh)|Mỹ Tho]] để lập lại tỉnh Gò Công. Giai đoạn 1968–1976, tỉnh Gò Công của chính quyền Cách mạng bao gồm thị xã [[Gò Công (thành phố)|Gò Công]] và 2 huyện: Đông, Tây.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền quân quản [[Cộng hòa miền Nam Việt Nam]] lúc bấy giờ vẫn duy trì tỉnh Gò Công cho đến đầu năm 1976. Lúc này, chính quyền Cách mạng cũng bỏ danh xưng &amp;quot;quận&amp;quot; có từ thời Pháp thuộc và lấy danh xưng &amp;quot;huyện&amp;quot; (quận và phường dành cho các đơn vị hành chánh tương đương khi đã [[đô thị hóa]]).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 245-NQ/TW&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích web|url=https://photo.znews.vn/w660/Uploaded/dqmblcvo/2025_03_13/1.jpg|tựa đề= Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh |tác giả=|ngày= 1975-09-20 |website=|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20250407082825/https://photo.znews.vn/w660/Uploaded/dqmblcvo/2025_03_13/1.jpg|ngày lưu trữ= 2025-04-07 |ngày truy cập= 2025-04-07 |url-status=live}}&amp;lt;/ref&amp;gt; về việc hợp nhất tỉnh [[Long An (tỉnh)|Long An]], tỉnh [[Bến Tre (tỉnh)|Bến Tre]], tỉnh [[Mỹ Tho (tỉnh)|Mỹ Tho]], tỉnh Gò Công và thành phố [[Mỹ Tho (thành phố)|Mỹ Tho]] thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 20 tháng 12 năm 1975, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 19/NQ&amp;lt;ref name=19/NQ&amp;gt;{{Chú thích web|url=http://luutruquocgia1.org.vn/wp-content/uploads/2017/05/anh1.png|tựa đề= Nghị quyết số 19/NQ về việc điều chỉnh việc hợp nhất một số tỉnh ở miền Nam |tác giả=|ngày= 1975-12-20 |website= Trung tâm Lưu trữ quốc gia I |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20250507064804/http://luutruquocgia1.org.vn/wp-content/uploads/2017/05/anh1.png|ngày lưu trữ= 2025-05-07 |ngày truy cập= 2025-05-07 |url-status= dead }}&amp;lt;/ref&amp;gt; về việc hợp nhất tỉnh [[Mỹ Tho (tỉnh)|Mỹ Tho]], tỉnh Gò Công và thành phố [[Mỹ Tho (thành phố)|Mỹ Tho]] thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 24 tháng 2 năm 1976, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành Nghị định số 3/NQ/1976&amp;lt;ref name=3/NQ/1976&amp;gt;{{Chú thích web|url=http://luutruquocgia1.org.vn/wp-content/uploads/2017/05/anh2.png|tựa đề= Nghị định số 3/NQ/1976 về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam |tác giả=|ngày= 1976-02-24 |website= Trung tâm Lưu trữ quốc gia I |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20250507064804/http://luutruquocgia1.org.vn/wp-content/uploads/2017/05/anh2.png|ngày lưu trữ= 2025-05-07 |ngày truy cập= 2025-05-07 |url-status= dead }}&amp;lt;/ref&amp;gt; về việc hợp nhất tỉnh Gò Công, tỉnh [[Mỹ Tho (tỉnh)|Mỹ Tho]] và thành phố [[Mỹ Tho (thành phố)|Mỹ Tho]] thành một tỉnh mới, lấy tên là tỉnh [[Tiền Giang]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Đầu hộp}}&lt;br /&gt;
{{Thứ tự kế vị&lt;br /&gt;
|chức vụ= Tỉnh Gò Công&lt;br /&gt;
|trước = Tỉnh [[Định Tường]]&lt;br /&gt;
|sau = Tỉnh [[Tiền Giang]]&lt;br /&gt;
|năm = 1956–1975&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Cuối hộp}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Địa bàn tỉnh Gò Công lúc bấy giờ được chuyển thành huyện [[Gò Công (huyện)|Gò Công]] và thị xã [[Gò Công (thành phố)|Gò Công]] cùng thuộc tỉnh [[Tiền Giang]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau nhiều lần thay đổi hành chính, địa bàn tỉnh Gò Công cũ tương ứng với thành phố [[Gò Công (thành phố)|Gò Công]] và các huyện [[Gò Công Đông (huyện)|Gò Công Đông]], [[Gò Công Tây]], [[Tân Phú Đông (huyện)|Tân Phú Đông]] thuộc tỉnh [[Tiền Giang]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện nay, địa danh &amp;quot;Gò Công&amp;quot; chỉ còn được dùng để chỉ phường [[Gò Công (phường)|Gò Công]], đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc tỉnh [[Đồng Tháp]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Xem thêm==&lt;br /&gt;
* [[Lịch sử hành chính Đồng Tháp]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Chú thích==&lt;br /&gt;
{{reflist}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tham khảo==&lt;br /&gt;
* [https://baovinhlong.com.vn/phong-su-ky-su/201810/chuyen-xua-o-dat-go-cong-2915187/ Chuyện xưa ở đất Gò Công]&lt;br /&gt;
* [https://baophapluat.vn/ky-thu-chuyen-ve-vung-dat-linh-thieng-go-cong-post291477.html Kỳ thú chuyện về vùng đất linh thiêng Gò Công]&lt;br /&gt;
{{sơ khai Đồng Tháp}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Địa danh tại Đồng Tháp]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;Hàm Phổ</name></author>
	</entry>
</feed>