<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=HMS_Biter_%28D97%29</id>
	<title>HMS Biter (D97) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=HMS_Biter_%28D97%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=HMS_Biter_(D97)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-10T15:34:58Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=HMS_Biter_(D97)&amp;diff=6329953&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;InternetArchiveBot: Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=HMS_Biter_(D97)&amp;diff=6329953&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2025-09-25T03:04:37Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{{Dablink|Về những tàu chiến Anh Quốc khác mang cùng tên, xin xem [[HMS Biter]].}}&lt;br /&gt;
{{Dablink|Về những tàu chiến Pháp khác mang cùng tên, xin xem [[Dixmude (tàu chiến Pháp)]].}}&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image= [[Tập tin:TBF HMS Biter convoy.jpg|300px]]&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu sân bay hộ tống HMS &amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; (D97), với một chiếc máy bay ném bom ngư lôi [[Grumman Avenger]] của nó phía hậu cảnh, khoảng năm [[1943]]-[[1944]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
| Ship country = Anh Quốc&lt;br /&gt;
| Ship flag = [[Tập tin:Naval Ensign of the United Kingdom.svg|50px]]&lt;br /&gt;
| Ship name = HMS &amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; (D97)&lt;br /&gt;
| Ship namesake = &lt;br /&gt;
| Ship ordered = [[20 tháng 2]] năm [[1939]]&lt;br /&gt;
| Ship awarded = &lt;br /&gt;
| Ship builder = Sun Shipbuilding&lt;br /&gt;
| Ship original cost = &lt;br /&gt;
| Ship laid down = [[28 tháng 12]] năm [[1939]]&lt;br /&gt;
| Ship launched = [[18 tháng 12]] năm [[1940]] như là chiếc &amp;#039;&amp;#039;Rio Parana&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
| Ship sponsor = &lt;br /&gt;
| Ship completed = &lt;br /&gt;
| Ship acquired = [[2 tháng 9]] năm [[1941]]&lt;br /&gt;
| Ship commissioned = [[6 tháng 4]] năm [[1942]]&lt;br /&gt;
| Ship recommissioned = &lt;br /&gt;
| Ship decommissioned = [[21 tháng 8]] năm [[1944]]&lt;br /&gt;
| Ship in service = &lt;br /&gt;
| Ship out of service = &lt;br /&gt;
| Ship renamed = &lt;br /&gt;
| Ship reclassified = &lt;br /&gt;
| Ship struck = &lt;br /&gt;
| Ship nickname = &lt;br /&gt;
| Ship honors = &lt;br /&gt;
| Ship captured = &lt;br /&gt;
| Ship fate = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| Hoàn trả cho Hoa Kỳ, [[9 tháng 4]] năm [[1945]]&lt;br /&gt;
| Chuyển cho [[Hải quân Pháp]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship status = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
| Ship country = Pháp&lt;br /&gt;
| Ship flag = [[Tập tin:Civil and Naval Ensign of France.svg|45px|border|French Navy Ensign]]&lt;br /&gt;
| Ship name = &amp;#039;&amp;#039;Dixmude&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
| Ship namesake = [[Trận Yser|Trận Diksmuide]]&amp;lt;ref&amp;gt;[http://secretdefense.blogs.liberation.fr/defense/2009/12/dixmude-lhistoire-oubliée-dun-dirigeable-de-la-marine.html Dixmude: l&amp;#039;histoire oubliée d&amp;#039;un dirigeable de la Marine] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20091222054749/http://secretdefense.blogs.liberation.fr/defense/2009/12/dixmude-lhistoire-oubli%C3%A9e-dun-dirigeable-de-la-marine.html |date = ngày 22 tháng 12 năm 2009}}, [[Jean-Dominique Merchet]]&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
| Ship acquired = [[1945]]&lt;br /&gt;
| Ship commissioned = [[9 tháng 4]] năm [[1945]]&lt;br /&gt;
| Ship decommissioned = [[24 tháng 1]] năm [[1951]]&lt;br /&gt;
| Ship out of service = [[1956]]&lt;br /&gt;
| Ship fate = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| Hoàn trả cho Hoa Kỳ&lt;br /&gt;
| Đánh chìm như một mục tiêu, [[1966]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship status = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
| Ship class = [[Avenger (lớp tàu sân bay hộ tống)|lớp tàu sân bay hộ tống &amp;#039;&amp;#039;Avenger&amp;#039;&amp;#039;]]&lt;br /&gt;
| Ship displacement = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|8200|LT|t|abbr=on}} (thông thường)&lt;br /&gt;
| {{convert|9000|LT|t|abbr=on}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship length = {{convert|492,25|ft|m|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship beam = {{convert|66,25|ft|m|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship draft = {{convert|23,25|ft|m|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship propulsion = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 4 × [[động cơ diesel]] [[William Doxford &amp;amp; Sons|Doxford]] 6 xy-lanh;&lt;br /&gt;
| 1 × trục;&lt;br /&gt;
| công suất {{convert|8500|hp|MW|abbr=on}}&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship speed = {{convert|16,5|kn|km/h|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship range = &lt;br /&gt;
| Ship endurance = &lt;br /&gt;
| Ship boats = &lt;br /&gt;
| Ship complement = 550&lt;br /&gt;
| Ship crew = &lt;br /&gt;
| Ship sensors = &lt;br /&gt;
| Ship EW = &lt;br /&gt;
| Ship armament = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 3 × pháo [[hải pháo 4 inch/50 caliber|{{convert|4|in|mm|abbr=on}}/50 caliber Mark IX]];&lt;br /&gt;
| 19 × pháo phòng không [[Oerlikons 20 mm]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship armor = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft = 15 × máy bay&lt;br /&gt;
| Ship aircraft facilities = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| sàn đáp {{convert|490|×|78|ft|m|abbr=on}};&lt;br /&gt;
| 1 × thang nâng {{convert|42|x|34|ft|m|abbr=on}};&lt;br /&gt;
| 1 × [[máy phóng máy bay|máy phóng]];&lt;br /&gt;
| 9 × dây hãm&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship notes = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;HMS &amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; (D97)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; là một [[tàu sân bay hộ tống]] thuộc [[Avenger (lớp tàu sân bay hộ tống)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Avenger&amp;#039;&amp;#039;]] của [[Hải quân Hoàng gia Anh|Hải quân Hoàng gia]] [[Anh Quốc]]. Được cải biến từ một tàu buôn, nó đã phục vụ trong [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]] cho đến khi ngừng hoạt động năm [[1944]], chuyển cho [[Hải quân Pháp]] như là chiếc &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Dixmude&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; năm [[1945]], và tiếp tục hoạt động cho đến năm [[1949]]. Sau khi hoàn trả cho Hoa Kỳ, nó được giải giáp và sử dụng như tàu tiện nghi, cho đến khi bị đánh chìm như một mục tiêu năm [[1966]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
{{chính|Avenger (lớp tàu sân bay hộ tống)}}&lt;br /&gt;
[[Avenger (lớp tàu sân bay hộ tống)|Lớp tàu sân bay hộ tống &amp;#039;&amp;#039;Avenger&amp;#039;&amp;#039;]] là những tàu buôn [[Hoa Kỳ]] được cải biến. Thiết kế của chúng được dựa trên [[Long Island (lớp tàu sân bay hộ tống)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Long Island&amp;#039;&amp;#039;]] (AVG-1). Để phân biệt giữa hai lớp tàu, những chiếc của Hải quân Hoàng gia có ký hiệu lườn mang thêm tiền tố &amp;quot;B&amp;quot; (BAVG). HMS &amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; (BAVG-3) được chế tạo bởi hãng [[Sun Shipbuilding &amp;amp; Drydock Co.|Sun Shipbuilding and Drydock Company]] ở [[Chester, Pennsylvania]], về phía Nam [[Philadelphia]] trên [[sông Delaware]]. Nguyên mang tên &amp;#039;&amp;#039;Rio Parana&amp;#039;&amp;#039;, nó được đặt lườn vào ngày [[28 tháng 12]] năm [[1939]] như một tàu chở khách và hàng hóa cho hãng tàu Hoa Kỳ [[Moore-McCormack]], được hạ thủy vào ngày [[18 tháng 12]] năm [[1940]] và được chuyển giao vào ngày [[4 tháng 9]] năm [[1941]].&amp;lt;ref name=co78&amp;gt;{{Harvnb|Cocker|2008|p=78}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref name=po29/&amp;gt;&amp;lt;ref&amp;gt;{{chú thích web | url=http://www.shipbuildinghistory.com/history/shipyards/1major/inactive/sun.htm | access-date=ngày 1 tháng 10 năm 2010 | publisher=Ship Building History | title=Sun Shipbuilding, Chester PA | archive-date=2012-02-10 | archive-url=https://web.archive.org/web/20120210150426/http://www.shipbuildinghistory.com/history/shipyards/1major/inactive/sun.htm | url-status=dead }}&amp;lt;/ref&amp;gt; Nó được cải biến thành một tàu sân bay hộ tống tại xưởng tàu [[Atlantic Basin Iron Works]] ở [[Brooklyn]] [[New York]], và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia Anh vào ngày [[6 tháng 5]] năm [[1942]] dưới quyền chỉ huy của [[Đại tá Hải quân]] Abel-Smith.&amp;lt;ref name=po51&amp;gt;{{Harvnb|Poolman|1972|p=51}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; có chiều dài chung {{convert|492,25|ft}}, mạn thuyền rộng {{convert|66,25|ft}} và [[mớn nước]] {{convert|23,25|ft|m|abbr=on}}.&amp;lt;ref name=co78/&amp;gt; Nó có trọng lượng choán nước {{convert|8200|LT|t|abbr=on}} ở tải trọng thông thường, và lên đến {{convert|9000|LT|t|abbr=on}} khi đầy tải. Động lực được cung cấp bởi bốn [[động cơ diesel]] nối với một trục chân vịt, tạo ra tổng công suất {{convert|8500|hp|MW|abbr=on}}, cho phép con tàu di chuyển với tốc độ tối đa {{convert|16,5|kn|km/h|abbr=on}}.&amp;lt;ref name=co79&amp;gt;{{Harvnb|Cocker|2008|p=79}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Thủy thủ đoàn đầy đủ của nó bao gồm 555 người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các thiết bị không lực bao gồm một đảo kết hợp cầu tàu-chỉ huy bay nhỏ bên mạn phải, bên trên một sàn đáp gỗ dài {{convert|410|ft|sing=on}}, một thang nâng máy bay {{convert|42|x|34|ft|m|abbr=on}}, một [[máy phóng máy bay]] và chín dây hãm. Máy bay có thể chứa tại một sàn chứa bên dưới sàn đáp kích thước {{convert|190|x|47|ft|m|abbr=on}}.&amp;lt;ref name=po29&amp;gt;{{Harvnb|Poolman|1972|p=29}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref name=co79/&amp;gt; Vũ khí trang bị bao gồm ba tháp pháo [[hải pháo 4 inch/50 caliber|{{convert|4|in|mm|abbr=on}}/50 caliber Mark IX]] lưỡng dụng [[chiến tranh phòng không|phòng không]] nòng đơn và 15 pháo phòng không [[Oerlikons 20 mm]] trên các bệ nòng đơn và nòng đôi.&amp;lt;ref name=co79/&amp;gt; Nó có khả năng mang theo mười lăm máy bay, gồm một hỗn hợp [[máy bay tiêm kích]] [[Grumman Martlet]] hoặc [[Hawker Sea Hurricane]] và [[máy bay ném bom-ngư lôi]] [[Fairey Swordfish]] hoặc [[Grumman Avenger]], cũng được dùng trong nhiệm vụ [[Chiến tranh chống tàu ngầm|chống tàu ngầm]].&amp;lt;ref name=co79/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
=== Chạy thử máy – Sửa chữa – Huấn luyện ===&lt;br /&gt;
Sau khi nhập biên chế, &amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; đã sẵn sàng để rời New York khi một đám cháy bùng phát vào ngày [[8 tháng 5]] năm [[1942]], tại ngăn [[máy phóng máy bay|máy phóng]], phá hủy một động cơ máy phóng. Khi sẵn sàng trở lại, nó rời cảng vào ngày [[15 tháng 5]] nhưng phải quay lại để sửa chữa một trục trặc của động cơ. Khi lại sẵn sàng để ra khơi, nó lên đường thực hành tác xạ vào ngày [[30 tháng 5]], và hạ cánh chiếc máy bay đầu tiên của nó, một chiếc [[Fairey Swordfish]] vào ngày [[2 tháng 6]]. Hoàn tất việc bay thử nghiệm, nó lên đường đi [[Nova Scotia]] vào ngày [[12 tháng 6]] với một chiếc Swordfish của nó bay tuần tra [[chiến tranh chống tàu ngầm|chống tàu ngầm]] trên đường đi. Khởi hành từ Nova Scotia để đi sang Anh vào ngày [[14 tháng 6]], nó lại gặp trục trặc động cơ trên đường đi, khiến phải trôi dạt trong ba giờ lúc được sửa chữa. Nó tiếp tục gặp những vấn đề về động cơ trong khi vượt [[Đại Tây Dương]], và vào ngày [[17 tháng 6]], một chiếc Swordfish trang bị [[mìn sâu]] chống tàu ngầm đã đâm vào đảo cấu trúc thượng tầng trong lúc hạ cánh. Sau 75 phút, họ xoay xở thả được quả mìn qua mạn tàu an toàn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đi đến [[Greenock]], [[Scotland]] vào ngày [[23 tháng 6]], &amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; đi vào ụ tàu để được cải biến và kéo dài sàn đáp bằng gỗ.&amp;lt;ref name=po51/&amp;gt; Vào ngày [[2 tháng 9]], nó tham gia thử nghiệm hạ cánh một chiếc [[Fairey Fulmar]], và thực hành cất cánh và hạ cánh những máy bay khác của [[Không lực Hải quân Hoàng gia]] trong những tuần lễ tiếp theo sau, cũng như thực hành tiếp nhiên liệu cho các tàu hộ tống nó. Vào ngày [[1 tháng 10]], nó đi đến [[Scapa Flow]], nơi nó được tham gia bởi chiếc tàu chị em {{HMS|Avenger|D14|2}} vào ngày [[10 tháng 10]]. Những [[máy bay tiêm kích]] đầu tiên của nó đi đến vào ngày [[14 tháng 10]]: 15 chiếc Sea Hurricane thuộc Liên đội Không lực Hải quân 800; chúng là những chiếc Sea Hurricane IB trang bị mười hai [[súng máy]] [[M1919 Browning|{{convert|,303|in|mm|1|abbr=on}}]] và kiểu IC trang bị bốn pháo 20&amp;amp;nbsp;mm. Hai chiếc tàu sân bay hộ tống đã tháp tùng chiếc [[tàu sân bay]] hạm đội {{HMS|Victorious|R38|2}} rời Greenock vào ngày [[16 tháng 10]] để tham gia cùng các lực lượng Anh khác trong [[Chiến dịch Torch]], cuộc đổ bộ của Đồng Minh lên [[Bắc Phi]].&amp;lt;ref&amp;gt;{{Harvnb|Poolman|1972|p=55}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Chiến dịch Torch ===&lt;br /&gt;
[[Tập tin:HMS Biter (D97) and HMS Avenger (D14) aft of HMS Victorious (38) 1942.jpg|thumb|&amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; và &amp;#039;&amp;#039;Avenger&amp;#039;&amp;#039; nhìn từ sàn đáp chiếc &amp;#039;&amp;#039;Victorious&amp;#039;&amp;#039;, với hai chiếc [[Supermarine Seafire]] trên sàn đáp.]]&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; nằm trong thành phần lực lượng hỗ trợ ngoài khơi [[Oran]], vốn bao gồm [[thiết giáp hạm]] {{HMS|Rodney|29|2}}, các tàu sân bay {{HMS|Argus|I49|2}} và {{HMS|Dasher|D37|2}}, [[tàu tuần dương hạng nhẹ]] {{HMS|Delhi|D47|2}} và chín [[tàu khu trục]]. Các hoạt động không lực bắt đầu từ ngày [[8 tháng 11]], nhưng khi một chiếc Sea Hurricane đâm vào cầu tàu của &amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039;, nó tạm thời không hoạt động. Một chiếc Sea Hurricane bị một chiếc [[Dewoitine D.520]] thuộc phe [[Vichy Pháp]] bắn rơi; và cả &amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; lẫn &amp;#039;&amp;#039;Dasher&amp;#039;&amp;#039; đều được gửi trở lại [[Gibraltar]] vào ngày [[10 tháng 11]]. &amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; tham gia một đoàn tàu vận tải đi Greenock và đến nơi mà không gặp sự cố gì vào ngày [[19 tháng 11]] trước khi được gửi đến [[Dundee]] để đại tu.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Harvnb|Poolman|1972|p=56}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Vào [[tháng 2]] năm [[1943]], &amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; tham gia cùng &amp;#039;&amp;#039;Argus&amp;#039;&amp;#039; và các tàu khu trục hộ tống trong một cuộc thực tập chống tàu ngầm, rồi lên đường đi [[Iceland]] vào ngày [[13 tháng 4]], tháp tùng bởi các tàu khu trục {{HMS|Obdurate|G39|2}} và {{HMS|Opportune|G80|2}}, đến nơi vào ngày [[17 tháng 4]].&amp;lt;ref&amp;gt;{{Harvnb|Poolman|1972|p=61}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Đoàn tàu ONS 4 ===&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Fairey Swordfish taking off from HMS Tracker 1943.jpg|thumb|left|Máy bay [[Fairey Swordfish]] cất cánh từ một [[tàu sân bay hộ tống]].]]&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; nhận lên tàu Liên đội Không lực Hải quân 811 dưới quyền chỉ huy của [[Thiếu tá Hải quân]] A. J. B Forde, vốn là một liên đội hỗn hợp với chín chiếc Fairey Swordfish và ba chiếc Grumman Martlet. Vào ngày [[21 tháng 4]], chiếc tàu sân bay khởi hành từ Iceland cùng với Đoàn tàu ONS 4 để hướng sang [[Argentia]]. Đại tá Abel-Smith quyết định theo dõi đoàn tàu vận tải từ một khoảng cách, tin rằng cách này sẽ giúp cho con tàu có cơ hội lớn hơn đối đầu với các tàu ngầm U-boat đối phương. Hai máy bay Swordfish luôn được giữ ở tư thế sẵn sàng cất cánh để tấn công mọi tàu ngầm đối phương phát hiện được. Vào ngày [[23 tháng 4]], một máy bay Swordfish tuần tra trông thấy một chiếc U-boat trên mặt biển, nhưng nó đã lặn xuống trước khi chiếc máy bay đi đến vị trí tấn công. Xế trưa ngày hôm đó, một chiếc U-boat khác bị đoàn tàu vận tải phát hiện; họ thông báo cho &amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; vốn đang ở cách {{convert|50|mi|km|lk=on|abbr=on}}. Vào lúc chiếc Swordfish duy nhất bay đến nơi, tàu ngầm [[U-191 (tàu ngầm Đức)|&amp;#039;&amp;#039;U-191&amp;#039;&amp;#039;]] đã bị tàu khu trục {{HMS|Hesperus|H57|6}} đánh chìm.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Harvnb|Poolman|1972|pp=61–62}}&amp;lt;/ref&amp;gt; &amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; tiếp tục tuần tra chống tàu ngầm trong những ngày tiếp theo, và vào ngày [[25 tháng 4]], [[radar]] của nó phát hiện tín hiệu một tàu ngầm đối phương; một tàu khu trục được phái đi điều tra đã không tìm thấy đối thủ. Đến 16 giờ 25 phút, một chiếc Sworfish trông thấy một chiếc U-boat trên mặt nước chỉ cách &amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; {{convert|8|mi|km|abbr=on}}. Nó thả hai quả mìn sâu và báo cáo, nên một chiếc Swordfish khác và tàu khu trục {{HMS|Pathfinder|G10|6}} được phái đến trợ giúp. &amp;#039;&amp;#039;Pathfinder&amp;#039;&amp;#039; nối tiếp cuộc tấn công của chiếc Swordfish bằng mìn sâu của chính nó, và đến 18 giờ 40 phút tàu ngầm [[U-203 (tàu ngầm Đức)|&amp;#039;&amp;#039;U-203&amp;#039;&amp;#039;]] nổi lên mặt nước và thủy thủ đoàn của nó bỏ tàu. Đoàn tàu vận tải đi đến Argentia an toàn vào ngày [[29 tháng 4]], không bị tổn thất và đánh chìm được hai chiếc U-boat.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Harvnb|Poolman|1972|pp=62–63}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Đoàn tàu HX 237 ===&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Grumman Wildcat lands on HMS Biter (D97) 1944.jpg|thumb|Máy bay tiêm kích [[Grumman F4F Wildcat|Grumman Martlet]] hạ cánh trên tàu.]]&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; và các tàu khu trục hộ tống rời Argentia vào ngày [[5 tháng 5]] để tham gia Đoàn tàu HX 237 quay trở về nhà. Thời tiết sương mù đã ngăn trở các hoạt động không quân cho đến 07:30 phút ngày [[7 tháng 5]], khi hai máy bay Swordfish cất cánh để định vị đoàn tàu vận tải và tuần tra chống tàu ngầm. Chiếc tàu sân bay và các tàu hộ tống đến nơi một giờ sau đó. Hai chiếc Martlet tham gia tuần tra nhưng bị lạc mất đoàn tàu và phải đáp xuống biển cạnh một tàu buôn nơi các đội bay được cứu vớt.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Harvnb|Poolman|1972|p=63}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Nó nhận mệnh lệnh của Tổng tư lệnh [[Bộ chỉ huy Tiếp cận phía Tây]] phải áp sát đoàn tàu vận tải, nhưng thời tiết xấu đã ngăn trở các hoạt động không lực cho đến 16 giờ 00 ngày [[10 tháng 5]]. Một chiếc Swordfish đã phản ứng lại việc trông thấy một chiếc U-boat trên mặt biển khi thả hai quả mìn sâu, nhưng lại bị hỏa lực phòng không từ chiếc tàu ngầm bắn trúng; một chiếc Swordfish thứ hai cất cánh để trợ giúp không không thể tìm thấy đối thủ lẫn đoàn tàu vận tải trong hoàn cảnh thời tiết xấu và phải đáp xuống biển cạnh một tàu buôn. Sang ngày [[11 tháng 5]], một chiếc Swordfish lại tấn công một tàu U-boat trên mặt biển, vốn thoạt tiên bắn trả với pháo phòng không nhưng sau đó bị buộc phải lặn xuống. Sáng hôm sau, một máy bay Swordfish tuần tra báo cáo trông thấy một chiếc U-boat, nhưng không bao giờ tìm thấy tung tích. Do kết quả của cuộc đụng độ cuối cùng này, những chiếc máy bay được lệnh bay theo từng cặp, bị cấm không đối đầu với những chiếc U-boat trên mặt biển và chỉ tấn công khi chúng lặn xuống.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Harvnb|Poolman|1972|p=64}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Xế chiều hôm đó, một máy bay Swordfish phát hiện và tấn công một chiếc U-boat đăng lặn xuống chỉ cách đoàn tàu {{convert|6|mi|km|abbr=on}}; cũng chiếc [[U-89 (tàu ngầm Đức) (1941)|&amp;#039;&amp;#039;U-89&amp;#039;&amp;#039;]] này sau đó bị hai tàu khu trục hộ tống phát hiện và đánh chìm.&amp;lt;ref name=po65&amp;gt;{{Harvnb|Poolman|1972|p=65}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Vào ngày [[13 tháng 5]], đoàn tàu đi vào vùng biển dưới tầm bảo vệ của các máy bay [[Consolidated B-24 Liberator|Consolidated Liberator]] và [[Shorts Sunderland]] trực thuộc [[Bộ chỉ huy Duyên hải]]. Hai máy bay Swordfish cất cánh lúc bình minh phát hiện hai tàu U-boat trên mặt biển; chúng bị một chiếc Sunderland tuần tra tấn công. Một chiếc U-boat khác bị một máy bay Swordfish phát hiện lúc 09 giờ 00 và bị tấn công trong khi đang lặn xuống và không rõ kết quả.&amp;lt;ref name=po65/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Đoàn tàu SC 129 ===&lt;br /&gt;
[[Tập tin:HMS Biter (D97) aerial bow shot March 1944.jpg|thumb|Sàn đáp nhìn từ một chiếc Swordfish vừa cất cánh.]]&lt;br /&gt;
Sau khi Đoàn tàu HX 237 nằm trong phạm vi bảo vệ của máy bay đặt căn cứ trên đất liền, Bộ chỉ huy Tiếp cận phía Tây ra lệnh cho &amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; và các tàu hộ tống của nó di chuyển {{convert|200|mi|nmi km|abbr=on}} về phía Nam, nơi Đoàn tàu SC 129 hướng sang phía Đông đang bị đe dọa bởi một &amp;quot;Bầy sói&amp;quot; ([[Wolfpack]]). Vào ngày [[15 tháng 5]], hoàn cảnh thời tiết gió nhẹ đồng thời do kiểu máy bay Swordfish không thể sử dụng [[máy phóng máy bay|máy phóng]] khiến giới hạn khả năng mang bom, mỗi chiếc chỉ mang được hai quả bom {{convert|40|lb|kg|abbr=on}}. Trước khi tiếp cận đoàn tàu vận tải, một chiếc Swordfish đã tấn công một chiếc U-boat trên mặt biển, nhưng hai quả bom nhỏ không thể gây hư hại cho chiếc tàu ngầm, và hỏa lực phòng không bắn trả gây hư hại chiếc máy bay và làm bị thương trinh sát viên. Máy bay thay phiên cho nó đã tiếp tục dõi theo đối thủ cho đến khi chiếc tàu ngầm lặn xuống sau một đợt tấn công bất thành khác. Đến 13 giờ 45 phút, &amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; tiếp cận đoàn tàu vận tải và tuần tra chống tàu ngầm.&amp;lt;ref name=po65/&amp;gt; Đoàn tàu đi đến Anh an toàn vào ngày [[16 tháng 5]] mà không chịu tổn thất nào, và &amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; được lệnh đi đến Clyde.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Harvnb|Poolman|1972|p=66}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Dựa trên kinh nghiệm của nó trong các chuyến hộ tống vận tải đầu tiên này, lực lượng máy bay phối thuộc cho nó được tăng lên 15 máy bay ném bom và sáu máy bay tiêm kích, và nhân sự không lực được tăng thêm 50%. Thiết bị cột mốc dẫn đường vô tuyến cũng được bổ sung để giúp đưa máy bay quay trở lại tàu khi thời tiết xấu với tầm nhìn kém.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Harvnb|Poolman|1972|p=70}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Đoàn tàu HX 265 ===&lt;br /&gt;
Vào ngày [[19 tháng 10]] năm [[1943]], &amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; cùng với sáu chiếc Swordfish và sáu chiếc Martlet thuộc Liên đội Không lực Hải quân 811 trên tàu rời Clyde để gia nhập Đoàn tàu ON 207 hướng sang phía Tây, đi đến Argentia mà không gặp sự cố nào nào ngày [[5 tháng 11]].&amp;lt;ref&amp;gt;{{Harvnb|Poolman|1972|pp=104–106}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Chúng rời Argentia vào ngày [[7 tháng 11]] để hỗ trợ cho Đoàn tàu HX 265; khi &amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; dẫn đầu Đội hộ tống 5 vốn còn bao gồm các tàu khu trục {{HMS|Pathfinder|G10|2}}, &amp;#039;&amp;#039;Opportune&amp;#039;&amp;#039; và &amp;#039;&amp;#039;Obdurate&amp;#039;&amp;#039;. Họ cùng với Đội hộ tống 7 được giao nhiệm vụ đi trước đoàn tàu ở khoảng cách {{convert|60|mi|km|abbr=on}} và {{convert|120|mi|km|abbr=on}} tương ứng, nhằm phát hiện hai nhóm lớn tàu ngầm U-boat đối phương được tập trung để đánh phá đoàn tàu hướng sang phía Đông tiếp theo.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Harvnb|Poolman|1972|p=106}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Máy bay cất cánh từ &amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; nhiều lần phát hiện tàu ngầm đối phương nhưng không đánh chìm được chiếc nào, trừ một chiếc có thể bị hư hại vào ngày [[10 tháng 11]]. Vào ngày [[16 tháng 11]], một chiếc Swordfish đã bị rơi khi tiếp cận để hạ cách ờ phía đuôi &amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039;; chấn động khi rơi đã khiến quả ngư lôi nó mang theo bị tách ra, đâm vào phía đuôi chiếc tàu sân bay và phát nổ. Vụ nổ đã làm hư hại bánh lái và cơ cấu lái tàu cùng một số tấm chắn vỏ tàu bên dưới mực nước. Sau khi đi đến Anh, nó mất bốn tuần để sửa chữa những hư hại này.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Harvnb|Poolman|1972|pp=106–107}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Phục vụ cùng Hải quân Pháp ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Biter&amp;#039;&amp;#039; được hoàn trả cho Hải quân Hoa Kỳ vào ngày [[9 tháng 4]] năm [[1945]]. Nó trải qua một đợt tái trang bị rồi được chuyển giao cho [[Hải quân Pháp]] mượn, nơi nó được đổi tên thành &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Dixmude&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;. Liên đội 3FB trang bị [[máy bay ném bom bổ nhào]] [[Douglas SBD Dauntless]] đã phục vụ trên con tàu từ năm [[1945]] đến năm [[1949]].&amp;lt;ref&amp;gt;{{Harvnb|Tillman|1998|p=84}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Vào ngày [[24 tháng 1]] năm [[1951]], nó được rút khỏi danh sách [[Đăng bạ Hải quân]] của Hoa Kỳ, được tháo dỡ vũ khí và đại tu trong đợt tái trang bị từ năm [[1951]] đến năm [[1953]]. Nó trở thành một tàu tiện nghi cho đến năm [[1965]], khi nó được hoàn trả cho Hải quân Hoa Kỳ, vốn đã đánh chìm nó như một mục tiêu vào ngày [[10 tháng 6]] năm [[1966]].&amp;lt;ref&amp;gt;{{chú thích web|access-date =ngày 2 tháng 10 năm 2010|publisher=Royal Navy Research Archive|title=A history of HMS Biter|url=http://www.royalnavyresearcharchive.org.uk/ESCORT/BITER.htm}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
=== Chú thích ===&lt;br /&gt;
{{tham khảo|30em}}&lt;br /&gt;
=== Thư mục ===&lt;br /&gt;
* [http://www.hazegray.org/navhist/carriers/uk_esc.htm#av-cl Haze Gray &amp;amp; Underway World Aircraft Carrier Lists] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20080509063952/http://www.hazegray.org/navhist/carriers/uk_esc.htm#av-cl |date=2008-05-09 }}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last=Cocker | first=Maurice | year=2008 | title=Aircraft-Carrying Ships of the Royal Navy | url=https://archive.org/details/aircraftcarrying0000cock | publisher=The History Press | location=Stroud, Gloucestershire | isbn=978-0-7524-4633-2 | ref=Harv}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last=Tillman | first=Barrett | year=1998 | title=SBD Dauntless Units of World War 2, Issue 10 of Osprey Combat Aircraft | publisher=Osprey Publishing | location=Oxford | isbn=978-1-85532-732-0 | ref=Harv}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last=Poolman | first=Kenneth | year=1972 | title=Escort Carrier 1941–1945 | publisher=Ian Allen | location=London | isbn=0-7110-0273-8 | ref=Harv}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
 &amp;lt;!-- non-breaking space to keep AWB drones from altering the space before the navbox--&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu sân bay hộ tống Charger}}&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Anh|Pháp}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Biter (D97)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu sân bay hộ tống Avenger]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu sân bay của Hải quân Hoàng gia Anh]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu sân bay trong Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu sân bay của Hải quân Pháp]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu đánh chìm như một mục tiêu]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;InternetArchiveBot</name></author>
	</entry>
</feed>