<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=HMS_Lightning_%28G55%29</id>
	<title>HMS Lightning (G55) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=HMS_Lightning_%28G55%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=HMS_Lightning_(G55)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-10T05:44:05Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=HMS_Lightning_(G55)&amp;diff=6278123&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;InternetArchiveBot: Add 1 book for Wikipedia:Thông tin kiểm chứng được (20260505)) #IABot (v2.0.9.5) (GreenC bot</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=HMS_Lightning_(G55)&amp;diff=6278123&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-05-07T04:06:26Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Add 1 book for &lt;a href=&quot;/wiki/Wikipedia:Th%C3%B4ng_tin_ki%E1%BB%83m_ch%E1%BB%A9ng_%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c&quot; title=&quot;Wikipedia:Thông tin kiểm chứng được&quot;&gt;Wikipedia:Thông tin kiểm chứng được&lt;/a&gt; (20260505)) #IABot (v2.0.9.5) (&lt;a href=&quot;/wiki/Th%C3%A0nh_vi%C3%AAn:GreenC_bot&quot; title=&quot;Thành viên:GreenC bot&quot;&gt;GreenC bot&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{{Dablink|Về những tàu chiến Anh Quốc khác mang cùng tên, xin xem [[HMS Lightning]].}}&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image= [[Tập tin:HMSLightning.jpg|300px]]&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu khu trục HMS &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; (G55)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
|Ship country= Anh Quốc &lt;br /&gt;
|Ship flag= [[Tập tin:Naval Ensign of the United Kingdom.svg|50px]]&lt;br /&gt;
|Ship name= HMS &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; (G55)&lt;br /&gt;
|Ship namesake=&lt;br /&gt;
|Ship ordered= [[31 tháng 3]] năm [[1938]]&lt;br /&gt;
|Ship awarded=&lt;br /&gt;
|Ship builder=[[Hawthorn Leslie and Company|Hawthorn Leslie &amp;amp; Co.]], [[Newcastle upon Tyne]]&lt;br /&gt;
|Ship original cost=440.807 [[Bảng Anh]]&lt;br /&gt;
|Ship laid down= [[15 tháng 11]] năm [[1938]]&lt;br /&gt;
|Ship launched= [[22 tháng 4]] năm [[1940]]&lt;br /&gt;
|Ship sponsor=&lt;br /&gt;
|Ship completed=&lt;br /&gt;
|Ship acquired=&lt;br /&gt;
|Ship commissioned= [[28 tháng 5]] năm [[1941]]&lt;br /&gt;
|Ship recommissioned=&lt;br /&gt;
|Ship decommissioned=&lt;br /&gt;
|Ship in service=&lt;br /&gt;
|Ship out of service=&lt;br /&gt;
|Ship renamed=&lt;br /&gt;
|Ship reclassified=&lt;br /&gt;
|Ship struck=&lt;br /&gt;
|Ship nickname=&lt;br /&gt;
|Ship honors=&lt;br /&gt;
|Ship captured=&lt;br /&gt;
|Ship fate= Đắm do trúng ngư lôi từ [[tàu phóng lôi]] [[E-boat]] Đức, [[12 tháng 3]] năm [[1943]]&lt;br /&gt;
|Ship status=&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
| Ship class = [[Lớp tàu khu trục L và M|Lớp tàu khu trục L]]&lt;br /&gt;
| Ship displacement = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|1920|LT|t|abbr=on}} (tiêu chuẩn)&lt;br /&gt;
| {{convert|2660|LT|t|abbr=on}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship length = {{convert|362|ft|3|in|m|1|abbr=on}} (chung)&lt;br /&gt;
| Ship beam = {{convert|37|ft|m|1|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship draft = {{convert|10|ft|m|1|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship propulsion = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 2 × turbine hơi nước hộp số [[Parsons Marine Steam Turbine Company|Parsons]]&lt;br /&gt;
| 2 × nồi hơi Admiralty&lt;br /&gt;
| 2 × trục&lt;br /&gt;
| công suất {{convert|48000|shp|kW|lk=in|abbr=on}}&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship speed = {{convert|36|kn|lk=in}}&lt;br /&gt;
| Ship range = {{convert|5500|nmi|lk=in|abbr=on}} ở tốc độ {{convert|15|kn}}&lt;br /&gt;
| Ship endurance = &lt;br /&gt;
| Ship boats = &lt;br /&gt;
| Ship complement = 190&lt;br /&gt;
| Ship crew = &lt;br /&gt;
| Ship sensors = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| [[sonar]]: [[ASDIC]]&lt;br /&gt;
| [[radar]] phòng không Kiểu 285&lt;br /&gt;
| radar cảnh báo không trung Kiểu 286M&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship EW = &lt;br /&gt;
| Ship armament = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 6 × pháo [[Hải pháo QF 4,7 inch Mark XI|QF {{convert|4,7|in|mm|sing=on}} Mk XI]] trên bệ HA/LA Mk.XX (3×2);&amp;lt;ref&amp;gt;{{Harvnb|Hodges|Friedman|1979|p=40}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
| 1 × pháo [[Hải pháo QF 4 inch Mk V|QF 4-inch Mk V]] phòng không;&lt;br /&gt;
| 4 × pháo [[Hải pháo QF 2 pounder|QF 2-pounder Mk VIII]] phòng không (1×4);&lt;br /&gt;
| 8 × súng máy [[súng máy Vickers.50|QF.5-inch Vickers Mk III]] phòng không (2×4);&lt;br /&gt;
| 4 × ống phóng [[ngư lôi]] [[Ngư lôi Anh 21 inch|{{convert|21|inch|mm|sing=on}}]] (1×4)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship armor = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft facilities = &lt;br /&gt;
| Ship notes = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;HMS &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; (G55)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; là một [[tàu khu trục]] [[Lớp tàu khu trục L và M|lớp L]] được [[Hải quân Hoàng gia Anh|Hải quân Hoàng gia]] [[Anh Quốc]] chế tạo vào cuối những năm [[thập niên 1930|1930]]. Nó đã nhập biên chế và phục vụ trong [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]] cho đến khi bị đánh chìm bởi [[ngư lôi]] phóng từ [[tàu phóng lôi]] [[E-boat]] [[Đức Quốc xã|Đức]] &amp;#039;&amp;#039;S-55&amp;#039;&amp;#039; tại [[Địa Trung Hải]] vào ngày [[12 tháng 3]] năm [[1943]].&amp;lt;ref&amp;gt;[http://www.naval-history.net/xGM-Chrono-10DD-41L-Lightning.htm Details of War Service]&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; được đặt hàng cho xưởng tàu của hãng [[Hawthorn Leslie and Company|Hawthorn Leslie &amp;amp; Co]] ở [[Newcastle Upon Tyne]] vào ngày [[31 tháng 3]] năm [[1938]] trong Dự toán Ngân sách Hải quân 1937. Nó được đặt lườn vào ngày [[15 tháng 11]] năm [[1938]] và được hạ thủy vào ngày [[22 tháng 4]] năm [[1940]]. Công việc chế tạo hoàn tất vào ngày [[28 tháng 5]] năm [[1941]], sau khi bị trì hoãn do việc giao hàng chậm trễ ba tháp pháo 4,7 inch nòng đôi theo như thiết kế nguyên thủy. Tổng chi phí chế tạo nó là 440.807 [[Bảng Anh]], không kể đến những trang bị như vũ khí và thiết bị liên lạc do [[Bộ Hải quân Anh]] cung cấp. Nó được cộng đồng cư dân Borough của [[Doncaster]] đỡ đầu vào ngày [[25 tháng 3]] năm [[1942]], như một phần của cuộc quyên góp tiết kiệm cho [[Tuần lễ Tàu chiến]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
Vào ngày [[28 tháng 5]] năm [[1941]], &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; được phân về Chi hạm đội Khu trục 19 thuộc [[Hạm đội Nhà Anh Quốc|Hạm đội Nhà]] tại [[Scapa Flow]] cùng với tàu chị em {{HMS|Laforey|G99|6}}. Hai tàu chị em khác {{HMS|Lookout|G32|6}} và {{HMS|Loyal|G15|6}} chưa sẵn sàng để chiến đấu. Nó được gia nhập cùng với các tàu nữa chị em {{HMS|Lively|G40|6}}, {{HMS|Gurkha|G63|6}}, {{HMS|Legion|G74|6}} và {{HMS|Lance|G87|6}}; cả bốn sau đó đều bị đánh chìm trong năm phục vụ đầu tiên trong chiến tranh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Chiến dịch Substance]] là hoạt động tác chiến đầu tiên mà &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; tham gia. Nó hình thành nên lực lượng hộ tống của Hạm đội Nhà cho các [[đoàn tàu vận tải]] WS 9C và MG 1 đi đến [[Malta]]. Đoàn vận tải bao gồm các chiếc {{HMS|Azalea|K25|2}}, {{HMS|Eridge|L68|2}}, {{HMS|Nelson|28|2}}, {{HMS|Renown|1916|2}}, {{HMS|Ark Royal|91|2}}, {{HMS|Hermione|74|2}}, {{HMS|Arethusa|26|2}}, {{HMS|Manxman|M70|2}}, {{HMS|Cossack|F03|2}}, {{HMS|Maori|F24|2}}, [[HMAS Nestor (G02)|&amp;#039;&amp;#039;Nestor&amp;#039;&amp;#039;]], {{HMS|Faulknor|H62|2}}, {{HMS|Fury|H76|2}}, {{HMS|Foresight|H68|2}}, {{HMS|Forester|H74|2}}, {{HMS|Foxhound|H69|2}}, {{HMS|Encounter|H10|2}}, {{HMS|Sikh|F82|2}} và {{HMS|Duncan|D99|2}}. Chúng rời [[Derry]] vào ngày [[13 tháng 7]] và đi đến [[Gibraltar]] hai tuần sau đó vào ngày [[27 tháng 7]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hoạt động tiếp theo của nó là trong [[Chiến dịch Style]], khi &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; hộ tống một đoàn tàu vận tải nhỏ chuyển lực lượng tăng cường cho [[Không quân Hoàng gia Anh]]. Nó không đi hết hành trình, quay trở lại Gibraltar vào ngày [[4 tháng 8]] sau khi đoàn tàu đến được Malta. Vào ngày [[22 tháng 8]], nó khởi hành từ Scapa Flow cùng với {{HMS|Lively|G40|6}} và {{HMS|Newark|G08|6}} để tìm kiếm chiếc [[tàu ngầm]] [[Rubis (tàu ngầm Pháp) (1931)|&amp;#039;&amp;#039;Rubis&amp;#039;&amp;#039;]] thuộc lực lượng [[Pháp Tự do]] vốn bị hư hại do bị máy bay [[Đức Quốc xã|Đức]] không kích ngoài khơi bờ biển [[Na Uy]]. Nó sau đó gặp gỡ tàu tuần dương {{HMS|Curacoa|D41|6}} và cuối cùng tìm thấy &amp;#039;&amp;#039;Rubis&amp;#039;&amp;#039; gần [[Skagerrak]], và hộ tống nó đi đến [[Dundee]] để sửa chữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; và &amp;#039;&amp;#039;Laforey&amp;#039;&amp;#039; rời [[Greenock]] cho chuyến vận tải Malta lớn đầu tiên trong chiến tranh vào ngày [[17 tháng 9]] năm [[1941]], băng qua Clyde Boom lúc 05 giờ 30 phút. Nó gia nhập đoàn tàu vận tải cùng với nhiều tàu chiến chủ lực khác của Hạm đội Nhà; bao gồm {{HMS|Prince of Wales|53|6}}, {{HMS|Edinburgh|16|2}}, {{HMS|Kenya|14|2}}, {{HMS|Euryalus|42|2}}, {{HMS|Sheffield|C24|2}}, {{HMS|Oribi|G66|2}}, &amp;#039;&amp;#039;Cossack&amp;#039;&amp;#039;, &amp;#039;&amp;#039;Fury&amp;#039;&amp;#039;, {{HMS|Farndale|L70|2}} và {{HMS|Heythrop|L85|2}}. Chúng băng qua [[eo biển Gibraltar]] và gặp gỡ [[Lực lượng H]]. Trong suốt chiến dịch, &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; tham gia những trận chiến đấu ác liệt nhất trong suốt quãng đời hoạt động của nó. Chiếc tàu khu trục và phần còn lại của đoàn tàu chịu đựng không kích từ những [[máy bay ném bom]] Đức, vốn phối hợp ném bom tầm cao, ném bom bổ nhào và phóng ngư lôi tầm thấp. Lúc 13 giờ 40 phút ngày [[27 tháng 9]], &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; suýt bị đánh trúng khi một quả [[ngư lôi]] phóng từ máy bay đã sượt qua chỉ các con tàu {{Convert|20|yd|m}}.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào ngày [[25 tháng 10]], &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; rời Clyde và được thuyên chuyển từ Hạm đội Nhà đặt căn cứ tại Scapa Flow sang Lực lượng H đặt căn cứ tại Gibraltar. Trong [[tháng 11]] và [[tháng 12]], nó hoạt động chủ yếu trong vai trò hộ tống. Các đoàn tàu vận tải từ Anh được nó tiếp nhận tại [[vịnh Biscay]] và thường đưa đến khu vực Tây [[Địa Trung Hải]] để hướng đến Malta. Nó cũng hộ tống các [[tàu sân bay]] vận chuyển [[máy bay tiêm kích]] [[Supermarine Spitfire]]. Nó là một trong những tàu đã hộ tống cho {{HMS|Ark Royal|91|6}} khi chiếc tàu sân bay này bị đắm do trúng ngư lôi vào ngày [[13 tháng 11]] năm [[1941]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào ngày [[11 tháng 12]] năm [[1941]], &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039;, {{HMS|Harvester|H19|6}} và {{HMS|Highlander|H44|6}} được lệnh rời Gibraltar để gặp gỡ [[thiết giáp hạm]] {{HMS|Duke of York|17|6}} ở giữa [[Đại Tây Dương]] và hộ tống nó đi sang [[Hoa Kỳ]]. &amp;#039;&amp;#039;Duke of York&amp;#039;&amp;#039; đang làm nhiệm vụ đưa [[Thủ tướng Anh Quốc|Thủ tướng]] [[Winston Churchill]] và Tham mưu trưởng tham dự Hội nghị Arcadia tại [[Washington, D.C.]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thời tiết xấu tại vùng biển Bắc Đại Tây Dương khiến việc gặp gỡ bị trễ hẹn, và cuối cùng ở tọa độ {{coord|38|30|N|23|00|W|display=inline}} lúc 18 giờ 30 phút ngày [[17 tháng 12]], nó gia nhập cùng &amp;#039;&amp;#039;Duke of York&amp;#039;&amp;#039; với &amp;#039;&amp;#039;Highlander&amp;#039;&amp;#039; và &amp;#039;&amp;#039;Harvester&amp;#039;&amp;#039;. Trong hoàn cảnh thời tiết vẫn bất lợi, nó tiếp tục đi cùng &amp;#039;&amp;#039;Duke of York&amp;#039;&amp;#039; cho đến khi được cho tách ra ở tọa độ {{coord|35|00|N|40|00|W|display=inline}} lúc 18 giờ 00 phút ngày [[20 tháng 12]], để đi đến [[Ponta Delgada]], [[Azores]] để tiếp nhiên liệu. Tiếp tục đi đến [[Bermuda]], nó chia sẻ chỗ thả neo với [[tàu sân bay]] [[Hải quân Hoa Kỳ|Hoa Kỳ]] {{USS|Ranger|CV-4}}, và đi đến [[Newport News, Virginia|Newport News]] vào đêm giao thừa. Trong chặng đường quay trở về Anh, nó đi đến [[St. John&amp;#039;s, Newfoundland|St. John&amp;#039;s]], [[Newfoundland]], lên đường vào ngày [[16 tháng 1]] năm [[1942]] và về đến [[Greenock]] vào ngày [[25 tháng 1]]. Vào ngày [[14 tháng 3]], &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; tham gia các cuộc càn quét chống tàu ngầm bằng thiết bị [[sonar]] [[ASDIC]] trong eo biển Gibraltar, khi bánh lái của nó bị hỏng nặng do một quả [[mìn sâu]] nổ sớm ngay bên dưới lườn tàu. Nó phải quay về Gibraltar để sửa chữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong [[Chiến dịch Ironclad]], &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; đóng một vai trò chủ chốt trong việc chiếm đóng một căn cứ hải quân tại [[Antsiranana|Diégo Suarez]]. Nó trải qua giai đoạn mở đầu của chiến dịch không có hoạt động nào, cho đến 17 giờ 10 phút ngày [[5 tháng 5]] khi nó bắn phá một vị trí trên đồi được đối phương sử dụng. Ngày hôm sau, nó lại bắn phá các vị trí của đối phương, lần này là một lâu đài trên đồi và một kho đạn. Lúc 15 giờ 30 phút, nó cùng &amp;#039;&amp;#039;Laforey&amp;#039;&amp;#039; và &amp;#039;&amp;#039;Lookout&amp;#039;&amp;#039; hộ tống cho thiết giáp hạm {{HMS|Ramillies|07|6}} ra khơi truy tìm một thiết giáp hạm đối phương được báo cáo, nhưng đã không tìm thấy, cho dù &amp;#039;&amp;#039;Laforey&amp;#039;&amp;#039; đã đánh chìm một tàu ngầm đối phương đêm hôm đó. Đến ngày [[7 tháng 5]], lúc 10 giờ 30 phút, nó lại bắn phá vị trí của đối phương ở bờ biển phía xa của bán đảo; đối phương đầu hàng nữa giờ sau đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ [[tháng 5]] đến [[tháng 7]], &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; được tạm thời điều động sang [[Hạm đội Đông Anh Quốc|Hạm đội Đông]], lên đường đi [[Colombo]] thuộc [[Sri Lanka|Ceylon]] để được tẩy sạch nồi hơi. Hoàn tất công việc vào ngày [[11 tháng 7]], nó ra khơi lúc 06 giờ 00 ngày hôm sau trong thành phần Lực lượng A bao gồm {{HMS|Warspite|03|2}}, {{HMS|Indomitable|92|2}}, {{HMS|Illustrious|87|2}}, {{HMS|Gambia|48|2}} và bốn tàu khu trục trong đó có &amp;#039;&amp;#039;Laforey&amp;#039;&amp;#039; và &amp;#039;&amp;#039;Lookout&amp;#039;&amp;#039;. Nhiệm vụ của họ là càn quét khu vực cho đến [[quần đảo Chagos]] nhữ cho lực lượng Nhật Bản tham chiến, rồi đi đến [[đảo san hô Addu]] để tiếp nhiên liệu. Không tìm thấy đối phương, &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; quay trở về Colombo và được lệnh tiếp tục đi đến Địa Trung Hải.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Quay về từ [[Ấn Độ Dương]], &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; đi đến [[Freetown]], và khởi hành từ đây vào ngày [[1 tháng 8]] cùng tàu tuần dương {{HMS|Phoebe|43|6}}, tàu sân bay HMS &amp;#039;&amp;#039;Indomitable&amp;#039;&amp;#039; cùng &amp;#039;&amp;#039;Laforey&amp;#039;&amp;#039; và &amp;#039;&amp;#039;Lookout&amp;#039;&amp;#039;. Đêm hôm đó lúc 21 giờ 00, trinh sát viên trên tàu đã phát hiện ba xuồng nhỏ, và sau khi điều tra đã vớt được 35 thủy thủ cùng 4 pháo thủ của chiếc tàu buôn [[Na Uy]] &amp;#039;&amp;#039;Tankexpress&amp;#039;&amp;#039; tải trọng 10.095 tấn,&amp;lt;ref&amp;gt;uboat.net/allies/merchants/1964.html&amp;lt;/ref&amp;gt; vốn bị một [[tàu ngầm]] [[U-boat]] [[Đức Quốc xã|Đức]] đánh chìm trước đó một tuần vào ngày [[25 tháng 7]]. Thủy thủ đoàn cùng hạm trưởng chiếc tàu buôn Anders Skånberg được đưa lên bờ tại Gibraltar vào ngày [[8 tháng 8]], khi chiếc tàu khu trục được tiếp nhiên liệu tại đây.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến giữa năm [[1942]], hòn đảo mang tính chiến lược Malta bị thiếu đói do sự phong tỏa của Đức và Ý. Không có pháo đài giữa biển này, phe Đồng Minh không thể tấn công các đoàn tàu vận tải xuất phát từ [[Ý]] tiếp liệu cho các binh đoàn phe Trục tại [[Bắc Phi]]. Ngoài ra, người ta nhận thức Chiến dịch Bắc Phi không thể bắt đầu cho đến khi các binh đoàn phe Trục bị yếu đi do thiếu nguồn tiếp liệu. Một lực lượng hộ tống khổng lồ của Hạm đội Nhà và Lực lượng H từ Gibraltar được tập trung để bảo vệ cho mười bốn tàu buôn xuất phát từ Anh đi Malta. Nhiều tàu chiến chủ lực bị hư hại do các cuộc không kích ác liệt và tấn công của tàu ngầm; và cuối cùng chỉ có sáu tàu buôn đến được đích. Tuy nhiên sau đó, Malta không còn bị áp lực nặng nề như trước, và [[Chiến dịch Torch]], cuộc đổ bộ lực lượng Đồng Minh lên Bắc Phi, được thực hiện vào [[tháng 11]] năm [[1942]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; gia nhập Lực lượng Z bao gồm tàu sân bay tàu HMS &amp;#039;&amp;#039;Indomitable&amp;#039;&amp;#039;, tuần dương HMS &amp;#039;&amp;#039;Phoebe&amp;#039;&amp;#039; và các tàu khu trục chị em HMS &amp;#039;&amp;#039;Laforey&amp;#039;&amp;#039; và HMS &amp;#039;&amp;#039;Lookout&amp;#039;&amp;#039;. Vào ngày [[3 tháng 8]] năm [[1942]], Lực lượng Z gặp gỡ thành phần chủ yếu của Lực lượng X xuất phát từ Anh ngay ngoài khơi Gibraltar, và được tiếp nhiên liệu cặp theo &amp;#039;&amp;#039;Indomitable&amp;#039;&amp;#039; trong ngày hôm sau. Đến ngày [[5 tháng 8]], đoàn tàu vận tải băng ngang eo biển trên đường đi Malta. Vào ngày [[11 tháng 8]], &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; cùng &amp;#039;&amp;#039;Lookout&amp;#039;&amp;#039; đang hộ tống cho tàu sân bay {{HMS|Furious|47|6}}, khi chiếc tàu sân bay {{HMS|Eagle|1918|6}} gần đó trúng bốn quả ngư lôi phóng từ tàu ngầm U-boat [[U-73 (tàu ngầm Đức) (1940)|&amp;#039;&amp;#039;U-73&amp;#039;&amp;#039;]]; nó đắm chỉ trong vòng tám phút. Đến ngày [[12 tháng 8]], &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; chịu đựng một cuộc không kích của [[máy bay ném bom]] đối phương, với nhiều quả ném suýt trúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi được tái trang bị, &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; và &amp;#039;&amp;#039;Laforey&amp;#039;&amp;#039; rời Greenock vào ngày [[12 tháng 12]] năm [[1942]] đi [[Liverpool]] để hộ tống chiếc &amp;#039;&amp;#039;Duchess of Richmond&amp;#039;&amp;#039;, một tàu biển chở hành khách [[Canada]] của hãng Pacific tải trọng 20.000 tấn đang đưa hàng nghìn binh lính sang Bắc Phi trong đoàn tàu KMF 5. Vào ngày [[21 tháng 12]], &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; giúp cứu vớt hơn 1000 binh lính và y tá từ chiếc tàu biển chở hành khách &amp;#039;&amp;#039;Strathallan&amp;#039;&amp;#039; của hãng P&amp;amp;O tải trọng 23.722 tấn, vốn trúng ngư lôi phóng từ tàu ngầm U-boat [[U-562 (tàu ngầm Đức)|&amp;#039;&amp;#039;U-562&amp;#039;&amp;#039;]] ngoài khơi bờ biển [[Algérie]] khi đang chở hơn 4000 binh lính và y tá Đồng Minh. Nó đi đến [[Annaba|Bône]] vào ngày đầu năm mới [[1943]], gia nhập Lực lượng Q, bao gồm hai trong số các tàu tuần dương thuộc Hải đội Tuần dương 12 và thay đổi theo thời gian: {{HMS|Ajax|22|2}}, {{HMS|Penelope|97|2}}, {{HMS|Dido|37|2}}, {{HMS|Aurora|12|2}} hoặc {{HMS|Sirius|82|2}}; được hỗ trợ bởi các tàu khu trục lớp L: &amp;#039;&amp;#039;Laforey&amp;#039;&amp;#039;, &amp;#039;&amp;#039;Lookout&amp;#039;&amp;#039; và &amp;#039;&amp;#039;Loyal&amp;#039;&amp;#039;.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào cuối [[tháng 2]] và [[tháng 3]] năm [[1943]], &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; hộ tống các tàu vận tải chở quân và tiếp liệu giữa [[Algiers]] và Bône vào ban ngày, và tấn công các đoàn tàu vận tải đối phương vào ban đêm. Nó bị máy bay đối phương tấn công hầu như hằng ngày trong cảng, và đã hoạt động như tàu phòng không. Trong chuyến hải hành cuối cùng, nó rời Bône lúc 17 giờ 45 phút chiều tối ngày [[12 tháng 3]] với gần 230 thủy thủ đã mệt mỏi trên tàu. Sau khi gia nhập cùng HMS &amp;#039;&amp;#039;Loyal&amp;#039;&amp;#039;, nó hộ tống bảo vệ bên sườn các tàu tuần dương {{HMS|Aurora|12|6}} và {{HMS|Sirius|82|6}}. Kế hoạch chiến dịch là nhằm tấn công một đoàn tàu Đức xuất phát từ Sicily để đi Tunisia. Tuy nhiên, sau khi nghe tin Lực lượng Q đã xuất phát, đoàn tàu đối phương đã rút lui trở về cảng. Đến 18 giờ 51 phút, &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; bị 12 máy bay ném bom-ngư lôi đối phương tấn công; nó bắn rơi được một mát bay đối phương và thoát khỏi cuộc tấn công mà không bị hư hại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lúc khoảng 22 giờ 00, thông dịch viên trên tàu bắt được thông điệp vô tuyến bằng tiếng Đức, cho rằng họ sắp tấn công &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039;. Lúc khoảng 22 giờ 15 phút, chiếc [[E-boat]] (&amp;#039;&amp;#039;Schnellboot&amp;#039;&amp;#039;) &amp;#039;&amp;#039;S-158&amp;#039;&amp;#039; thuộc Chi hạm đội S-Boat 7 bắn quả ngư lôi đầu tiên đánh hỏng &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039;. Thủy thủ trên tàu đã không có thời gian bắn trả; họ không bật [[máy định vị vô tuyến]] hay [[sonar]] ASDIC, không ở trong tình trạng hoàn toàn sẵn sàng tác chiến do những trận chiếc ác liệt hầu như liên tục trong những ngày vừa qua. Hạm trưởng đã cố bẻ lái hết sang mạn trái để né tránh đường đi của quả ngư lôi, nhưng &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; quá chậm và bị đánh trúng mũi tàu bên mạn phải. Sau đó một chiếc E-boat thứ hai, &amp;#039;&amp;#039;S-55&amp;#039;&amp;#039; thuộc Chi hạm đội S-Boat 3, vòng qua mạn phải và phóng một quả ngư lôi thứ hai trúng ngay dưới ống khói, phá hủy cả hai phòng nồi hơi, dàn pháo phòng không [[Hải pháo QF 2 pounder|QF 2-pounder &amp;quot;pom-pom&amp;quot;]] và dàn ống phóng ngư lôi phía trước. Chốc lát sau, có lệnh bỏ tàu; nó bắt đầu đắm hầu như ngay sau khi trúng quả ngư lôi thứ hai, ở tọa độ {{coord|37|53|N|9|50|E|display=inline, title}}.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một người sống sót được &amp;#039;&amp;#039;S-158&amp;#039;&amp;#039; vớt và bị bắt làm [[tù binh chiến tranh|tù binh]]. 180 người sống sót khác, bao hồm Hạm trưởng, [[Trung tá Hải quân]] Hugh Greaves Walters, được tàu chị em {{HMS|Loyal|G15|6}} cứu vớt vài giờ sau đó và đưa về Bône lúc 05 giờ 00 ngày [[13 tháng 3]]; họ sau đó được chuyển sang chiếc HMS &amp;#039;&amp;#039;Sirius&amp;#039;&amp;#039;. Thủy thủ đoàn của con tàu bị giải tán; họ được điều sang các tàu khác hoặc đến căn cứ [[HMS Hannibal (căn cứ trên bờ)|HMS &amp;#039;&amp;#039;Hannibal&amp;#039;&amp;#039;]] trên bờ tại Algiers.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích web |url=http://freespace.virgin.net/e.gilroy/sinking.html |ngày truy cập=2014-11-16 |tựa đề=Eye witness account of the sinking of HMS &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; |archive-date = ngày 28 tháng 3 năm 2009 |archive-url=https://web.archive.org/web/20090328182835/http://freespace.virgin.net/e.gilroy/sinking.html }}&amp;lt;/ref&amp;gt; Tàu khu trục [[Ba Lan]] [[ORP Blyskawica|ORP &amp;#039;&amp;#039;Blyskawica&amp;#039;&amp;#039;]] thay thế cho &amp;#039;&amp;#039;Lightning&amp;#039;&amp;#039; trong thành phần Lực lượng Q mang cái tên [[tiếng Ba Lan|Ba Lan]] &amp;quot;Blyskawica&amp;quot; có nghĩa là tia chớp, như &amp;quot;Lightning&amp;quot; trong tiếng Anh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
{{tham khảo|30em}}&lt;br /&gt;
* {{Chú thích sách | last1=Colledge | first1=J. J. | last2=Warlow | first2=Ben | title=Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.) | year=1969 | publisher=Chatham | location=London | isbn=978-1-86176-281-8 | oclc=67375475 | ref=Harv}}&lt;br /&gt;
* {{Chú thích sách | last1=Hodges | first1=Peter | last2=Friedman | first2=Norman | title=Destroyer Weapons of World War 2 | url=https://archive.org/details/destroyerweapons0001hodg | year=1979 | publisher=Conway Maritime Press | isbn=9780851771373 | ref=Harv}}&lt;br /&gt;
* {{Chú thích sách | last1=Dann | first1=John | last2=Gilroy | first2=Eric | title=Struck by Lightning | year=2012 | publisher=Upfront Pubishing | isbn=978-178035-480-4 | url=http://www.fast-print.net/bookshop/1236/struck-by-lightning | ref=Harv }}{{Liên kết hỏng|date = ngày 1 tháng 5 năm 2021 |bot=InternetArchiveBot }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
* [http://freespace.virgin.net/e.gilroy/ Website dedicated to HMS Lightning and her crew] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20091215084028/http://freespace.virgin.net/e.gilroy/ |date = ngày 15 tháng 12 năm 2009}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích web | url=http://www.iwm.org.uk/collections/search?query=HMS+Lightning&amp;amp;submit=&amp;amp;items_per_page=50 | access-date =ngày 19 tháng 4 năm 2013 | year=2013 | title=Collections Search for &amp;#039;HMS Lightning&amp;#039; | author=[[Imperial War Museum]] | work=IWM Collections Search}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;!-- non-breaking space to keep AWB drones from altering the space before the navbox--&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu khu trục L và M }}&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Anh}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Lightning (G55)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu khu trục L và M]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Hải quân Hoàng gia Anh]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Thế chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Xác tàu đắm trong Thế chiến II tại Địa Trung Hải]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Sự cố hàng hải năm 1943]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;InternetArchiveBot</name></author>
	</entry>
</feed>