<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=HMS_Seraph_%28P219%29</id>
	<title>HMS Seraph (P219) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=HMS_Seraph_%28P219%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=HMS_Seraph_(P219)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-10T15:16:28Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=HMS_Seraph_(P219)&amp;diff=7914550&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;InternetArchiveBot: Đã cứu 0 nguồn và đánh dấu 1 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=HMS_Seraph_(P219)&amp;diff=7914550&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-05-04T04:41:50Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Đã cứu 0 nguồn và đánh dấu 1 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{{Dablink|Về những tàu chiến Anh Quốc khác mang cùng tên, xin xem [[HMS Seraph]].}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image=Seraph.jpg&lt;br /&gt;
|Ship image size= 300px&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu ngầm HMS &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
|Hide header=&lt;br /&gt;
|Ship country= Anh Quốc&lt;br /&gt;
|Ship flag={{shipboxflag|United Kingdom|naval}}&lt;br /&gt;
|Ship name= HMS &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; (P219)&lt;br /&gt;
|Ship namesake= [[Seraphim]]&lt;br /&gt;
|Ship ordered= [[23 tháng 6]], [[1940]]&lt;br /&gt;
|Ship awarded=&lt;br /&gt;
|Ship builder= [[Vickers Armstrong]], [[Barrow-in-Furness]]&lt;br /&gt;
|Ship laid down= [[16 tháng 8]], [[1940]]&lt;br /&gt;
|Ship launched= [[25 tháng 10]], [[1941]]&lt;br /&gt;
|Ship christened=&lt;br /&gt;
|Ship commissioned= [[27 tháng 6]], [[1942]]&lt;br /&gt;
|Ship decommissioned= [[25 tháng 10]], [[1962]]&lt;br /&gt;
|Ship fate= Bán để tháo dỡ, [[20 tháng 12]], [[1965]]&lt;br /&gt;
|Ship badge=&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
|Hide header=&lt;br /&gt;
|Header caption=&lt;br /&gt;
|Ship class= [[S (lớp tàu ngầm Anh) (1931)#Nhóm I|lớp S nhóm III]] &lt;br /&gt;
|Ship type= [[tàu ngầm]] Diesel-điện&lt;br /&gt;
|Ship displacement= * {{convert|842|LT|t|lk=on|abbr=on}} (nổi)&lt;br /&gt;
*{{convert|990|LT|t|abbr=on}} (ngầm)&lt;br /&gt;
|Ship length= {{convert|217|ft|m|abbr=on|1}}&lt;br /&gt;
|Ship beam= {{convert|23|ft|9|in|m|abbr=on|1}}&lt;br /&gt;
|Ship height=&lt;br /&gt;
|Ship draught= {{convert|14|ft|8|in|m|abbr=on}}&lt;br /&gt;
|Ship propulsion= * 2 × [[động cơ diesel]] {{convert|1900|hp|abbr=on}}&lt;br /&gt;
* 2 × [[động cơ điện]] {{convert|1300|hp|abbr=on}}&lt;br /&gt;
* 2 × trục &lt;br /&gt;
|Ship speed= * {{convert|15|kn|km/h|lk=in}} (nổi)&lt;br /&gt;
* {{convert|10|kn|km/h|abbr=on}} (ngầm)&lt;br /&gt;
|Ship range=* {{convert|6000|nmi|km}} ở tốc độ {{convert|10|kn|km/h}} (nổi)&lt;br /&gt;
* {{convert|120|nmi|km}} ở tốc độ {{convert|3|kn|km/h}} (lặn)&lt;br /&gt;
|Ship endurance=&lt;br /&gt;
|Ship test depth= {{convert|300|ft|m|abbr=on}} &lt;br /&gt;
|Ship complement= 48&lt;br /&gt;
|Ship sensors= * [[Sonar]] ASDIC Type 129AR hoặc 138&lt;br /&gt;
* [[Radar]] Type 291 cảnh báo sớm&lt;br /&gt;
|Ship EW=&lt;br /&gt;
|Ship armament= * 7 × ống phóng [[ngư lôi]] [[ngư lôi 21-inch Anh|{{convert|21|in|mm|abbr=on}}]]&lt;br /&gt;
** (6 × trước mũi, 1 × phía đuôi)&lt;br /&gt;
** 13 × ngư lôi&lt;br /&gt;
* 1 × hải pháo [[hải pháo QF 3-inch 20 cwt|{{convert|3|in|mm}}]] &lt;br /&gt;
* 1 × pháo phòng không [[Oerlikon 20 mm]]&lt;br /&gt;
* 1 × súng máy .303-calibre&lt;br /&gt;
|Ship notes=&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;HMS &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; (P219)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;lt;ref group=&amp;quot;Ghi chú&amp;quot;&amp;gt;Seraph ([[tiếng Anh]]): [[Tổng lãnh thiên thần]] [[Seraphim]] trong [[Do Thái giáo]] và [[Kitô giáo]]&amp;lt;/ref&amp;gt; là một [[tàu ngầm]] [[S (lớp tàu ngầm Anh) (1931)|lớp S (1931)]] thuộc Nhóm III, được [[Hải quân Hoàng gia Anh]] chế tạo trong Chương trình Chế tạo 1940 trong [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]]. Nhập biên chế năm [[1942]], con tàu đã thực hiện được tổng cộng mười bảy chuyến tuần tra tại các vùng [[biển Na Uy]], [[Đại Tây Dương]] và [[Địa Trung Hải]], tham gia nhiều nhiệm vụ đặc biệt mà nổi bật nhất là [[Chiến dịch Mincemeat]]. &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; được rút về làm nhiệm vụ huấn luyện và thử nghiệm từ năm [[1944]], và tiếp tục đảm nhiệm vai trò này ngay cả sau khi cuộc xung đột kết thúc. Chiếc tàu ngầm cuối cùng xuất biên chế vào năm [[1962]], và bị bán để tháo dỡ vào năm [[1965]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
=== Thiết kế ===&lt;br /&gt;
{{main|S (lớp tàu ngầm Anh) (1931)}}&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Shadowgraph S british class groupe III submarine.svg|thumb|left|Hình dạng bên ngoài của tàu ngầm lớp S, nhóm III]]&lt;br /&gt;
[[Tập tin:British S-class submarine schematic drawing.jpg|thumb|350px|left|Sơ đồ cấu trúc bên trong của tàu ngầm lớp S]]&lt;br /&gt;
Lớp tàu ngầm S Nhóm III được đặt hàng trong Chương trình Chế tạo 1940 như là một kiểu tàu ngầm nhỏ để tuần tra tại vùng biển bị giới hạn như [[Bắc Hải (châu Âu)|Bắc Hải]], [[biển Baltic|Baltic]] và [[Địa Trung Hải]]. Chúng có kích thước lớn hơn và có nhiều cải tiến so với các nhóm trước. Chúng có [[trọng lượng choán nước]] {{convert|842|LT|t|0|disp=flip}} khi nổi và {{convert|990|LT|t|0|disp=flip}} khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung {{convert|217|ft|m|abbr=on}}, mạn tàu rộng {{convert|23|ft|9|in|m|abbr=on}} và mớn nước sâu {{convert|14|ft|8|in|m|abbr=on}}.{{sfnp|Akermann|2002|p=341}} Con tàu có thể lặn sâu đến {{convert|300|ft|m|abbr=on}}, và có một thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 48 sĩ quan và thủy thủ.{{sfnp|McCartney|2006|p=7}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lớp S trang bị hai [[động cơ diesel]] công suất {{convert|950|bhp|lk=in|0|adj=on}}, mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một [[động cơ điện]] công suất {{convert|650|hp|0|adj=on}}. Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa {{convert|15|kn|lk=in}} và {{convert|10|kn}} khi lặn dưới nước.{{sfnp|Bagnasco|1977|p=110}} Tầm xa hoạt động của Nhóm III là {{convert|6000|nmi|lk=in}} ở tốc độ {{convert|10|kn}}, và có thể lặn xa {{convert|120|nmi|abbr=on}} ở tốc độ {{convert|3|kn}}.{{sfnp|McCartney|2006|p=7}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; nằm trong số các tàu có bảy [[ống phóng ngư lôi]] {{convert|21|in|mm|abbr=on}}, gồm sáu ống phía mũi và một phía đuôi bên ngoài, và mang theo tổng cộng 13 quả [[ngư lôi]], hoặc 12 quả [[thủy lôi]] thay cho các quả ngư lôi bên trong tàu. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo [[QF 3-inch 20 cwt|{{convert|3|in|mm|adj=on|0}}]] cùng một pháo phòng không [[Oerlikon 20 mm]].{{sfnp|Chesneau|1980|pp=51-52}} Ngoài ra Nhóm III còn được trang bị [[sonar]] ASDIC Type 129AR hoặc 138 và một bộ [[radar]] cảnh báo sớm Type 291 hoặc 291W.{{sfnp|Akermann|2002|pp=341, 345}} &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Chế tạo ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; được đặt hàng vào ngày [[4 tháng 4]], [[1940]] trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1940, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng [[Vickers Armstrong]] ở [[Barrow-in-Furness]] vào ngày [[13 tháng 11]], [[1940]]. Nó được hạ thủy vào ngày [[8 tháng 12]], [[1941]], và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày [[10 tháng 7]], [[1942]].&amp;lt;ref name=Seraph&amp;gt;{{chú thích web | last=Helgason | first=Guðmundur | title=HMS Seraph (P 219) – Submarine of the S Class | url=http://uboat.net/allies/warships/ship/3439.html | website=Allied Warships - uboat.net | access-date=10 December 2025}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của [[Hải quân Hoàng gia Anh]] được đặt [[HMS Seraph|cái tên này]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
=== 1942 ===&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ nhất ====&lt;br /&gt;
Sau khi thực hành huấn luyện tại các vùng biển [[Scotland]], &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; xuất phát từ cảng [[Lerwich]] vào ngày [[15 tháng 7]], [[1942]] cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã hoạt động trong [[biển Na Uy]], thoạt tiên dự định sẽ hỗ trợ cho Đoàn tàu PQ-18. Tuy nhiên do đoàn tàu vận tải bị chậm trễ, nó tuần tra ngoài khơi bờ biển [[Na Uy]] trước khi kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Lerwich vào ngày [[29 tháng 7]].&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ hai ====&lt;br /&gt;
Sau đó &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; được điều động sang khu vực [[Địa Trung Hải]], nên đã khởi hành từ [[Rothesay]] vào ngày [[12 tháng 8]], băng qua [[biển Ireland]] để hướng sang [[Gibraltar]]. Trên đường đi trong [[vịnh Biscay]] vào ngày [[19 tháng 8]], chiếc tàu ngầm truy tìm một [[tàu chở dầu]] Đức bị máy bay Anh phát hiện, nhưng không có kết quả, rồi trong ngày hôm đó lại bị một [[máy bay ném bom]] [[Lockheed Hudson]] ném bom nhầm, nhưng không bị hư hại. Nó kết thúc chuyến tuần tra tại Gibraltar vào ngày [[25 tháng 8]].&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ ba và thứ tư ====&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; xuất phát từ Gibraltar vào ngày [[7 tháng 9]] cho chuyến tuần tra thứ ba, và đã hoạt động trong [[biển Alboran]] trước khi quay trở về Gibraltar vào ngày [[15 tháng 9]].&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; lại khởi hành từ Gibraltar vào ngày [[29 tháng 9]] cho chuyến tuần tra thứ tư để làm nhiệm vụ đặc biệt trong khuôn khổ Chiến dịch Koodoo. Vào ngày [[1 tháng 10]], một đội trinh sát đã được cho đổ bộ lên một vị trí về phía Tây [[Algiers]] để trinh sát bãi đổ bộ dự kiến. Nó hoàn thành nhiệm vụ và quay trở về Gibraltar vào ngày [[8 tháng 10]].&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ năm ====&lt;br /&gt;
{{xem thêm|Chiến dịch Flagpole (Thế Chiến II)}}&lt;br /&gt;
Rời Gibraltar vào ngày [[19 tháng 10]], &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; thực hiện chuyến tuần tra thứ năm để làm một nhiệm vụ đặc biệt trong khuôn khổ [[Chiến dịch Flagpole (Thế Chiến II)|Chiến dịch Flagpole]]. Đây là kế hoạch đưa [[Thiếu tướng]] [[Mark W. Clark]], cấp phó của [[Trung tướng]] [[Dwight Eisenhower]] bí mật đi sang [[Bắc Phi]] để đàm phán với các sĩ quan thuộc phe [[Vichy Pháp]]; cùng tháp tùng với tướng Clark còn có ba sĩ quan [[Lục quân Hoa Kỳ|Lục quân]], một sĩ quan [[Hải quân Hoa Kỳ|Hải quân]] cùng ba thành viên lực lượng đặc nhiệm Anh. Các hành khách đặc biệt này được &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; cho đổ bộ lên bờ tại [[Cherchell]], [[Algérie]] trong đêm [[20 tháng 10]]. Cuộc đàm phán diễn ra sau đó có vai trò quan trọng, giúp giảm thiểu sự kháng cự của lực lượng Pháp đối với cuộc đổ bộ lên Bắc Phi sắp diễn ra. &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; hoàn thành nhiệm vụ khi đón các hành khách trở lại tàu vào ngày [[23 tháng 10]], rồi chuyển họ sang một [[thủy phi cơ]] [[Consolidated PBY Catalina|PBY Catalina]] vào ngày hôm sau để bay về Gibraltar. Bản thân &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; cũng về đến Gibraltar vào ngày [[25 tháng 10]].&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ sáu ====&lt;br /&gt;
{{xem thêm|Chiến dịch Kingpin (Thế Chiến II)}}&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; lại làm thêm một nhiệm vụ đặc biệt nữa trong chuyến tuần tra thứ sáu, khi nó rời cảng Gibraltar vào ngày [[27 tháng 10]] để tiến hành [[Chiến dịch Kingpin (Thế Chiến II)|Chiến dịch Kingpin]]. Nó đã đi đến ngoài khơi bờ biển phía Nam của Pháp và chờ đợi cho đến khi nhận được ám hiệu liên lạc vào ngày [[6 tháng 11]] tại Lavendou khoảng {{convert|20|mi|km|abbr=on}} về phía Đông [[Toulon]]. Nó đón lên tàu tướng Pháp [[Henri Giraud]], con trai ông cùng ba sĩ quan tham mưu, cho một cuộc hội đàm với tướng Eisenhower tại Gibraltar, nhằm tìm kiếm sự hỗ trợ của lực lượng Vichy Pháp đang trú đóng tại [[Oran]] và [[Casablanca]] cho cuộc đổ bộ sắp diễn ra. Các hành khách được chuyển sang một thủy phi cơ PBY Catalina vào ngày hôm sau để bay về Gibraltar. &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; kết thúc chuyến tuần tra tại Gibraltar vào ngày [[10 tháng 11]].&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ bảy ====&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; xuất phát từ Gibraltar vào ngày [[24 tháng 11]] cho chuyến tuần tra thứ bảy, và đã hoạt động tại vùng biển giữa đảo [[Sicilia]] và [[Tunisia]]. Vào ngày [[25 tháng 11]], nó phóng một loạt bốn quả [[ngư lôi]] tấn công chiếc tàu chở hành khách Ý &amp;#039;&amp;#039;Città di Tunisi&amp;#039;&amp;#039; ở vị trí khoảng {{convert|40|nmi|km|abbr=on}} về phía Tây đảo [[Marettimo]], nhưng không trúng đích. Đến ngày [[2 tháng 12]], nó tấn công một đoàn tàu vận tải Ý nhưng vẫn không thành công. Hai ngày sau đó, nó tấn công chiếc tàu vận tải Đức &amp;#039;&amp;#039;Ankara&amp;#039;&amp;#039; ở vị trí khoảng {{convert|20|nmi|km|abbr=on}} về phía Tây Marettimo, và sáu quả ngư lôi phóng ra đều bị trượt. &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; tấn công bất thành một đoàn tàu vận tải khác vào chiều hôm đó, rồi kết thúc chuyến tuần tra và đi đến cảng [[Algiers]] vào ngày [[8 tháng 12]].&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ tám ====&lt;br /&gt;
Rời Algiers vào ngày [[21 tháng 12]] cho chuyến tuần tra thứ tám, &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; hoạt động tài vùng biển phía Bắc Tunisia cho một nhiệm vụ đặc biệt trong khuôn khổ Chiến dịch Peashooter. Vào ngày [[23 tháng 12]], nó trinh sát [[quần đảo Galite]] ở phía Bắc Tunisia qua [[kính tiềm vọng]], và sau đó mắc tai nạn va chạm với một tàu ngầm đối phương không rõ nhận dạng ở vị trí khoảng {{convert|40|nmi|km|abbr=on}} về phía Đông Bắc [[Annaba|Bône]], Algérie. Sang ngày hôm sau, nó phóng ba quả ngư lôi tấn công chiếc tàu ngầm Ý [[Lazzaro Mocenigo (tàu ngầm Ý)|&amp;#039;&amp;#039;Lazzaro Mocenigo&amp;#039;&amp;#039;]] nhưng không trúng đích. Sau đó &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; ghé đến Bône trước khi quay trở về Algiers vào ngày [[28 tháng 12]].&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt;&lt;br /&gt;
  &lt;br /&gt;
=== 1943 ===&lt;br /&gt;
Rời Algiers vào ngày [[8 tháng 1]], [[1943]], &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; quay trở về Anh ngang qua Gibraltar để sửa chữa những hư hại do vụ va chạm ngoài khơi Bône. Nó về đến Holy Loch vào ngày [[23 tháng 1]], rồi được sửa chữa và nâng cấp [[radar]] tại [[Blyth]] cho đến cuối [[tháng 3]].&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ chín ====&lt;br /&gt;
{{xem thêm|Chiến dịch Mincemeat}}&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; rời Holy Loch vào ngày [[19 tháng 4]] để đi sang Gibraltar, và trở thành chuyến tuần tra thứ chín khi nó tiến hành một nhiệm vụ đặc biệt trong khuôn khổ [[Chiến dịch Mincemeat]]. Trong đêm [[29 tháng 4]], thi thể của một người mang danh [[Thiếu tá]] Thủy quân Lục chiến Hoàng gia [[William Martin (sĩ quan Thủy quân Lục chiến Hoàng gia)|William Martin]] được chiếc tàu ngầm thả xuống biển ngoài khơi [[Huelva]], [[Tây Ban Nha]], mang theo một chiếc cặp chứa tài liệu mật. Vớt được thi thể cùng tài liệu giả mạo, với ý định đánh lừa tình báo Đức về mục tiêu của hoạt động đổ bộ sắp tới của phía Đồng Minh sẽ là đảo [[Sardegna]] hoặc [[Hy Lạp]] thay vì đảo [[Sicilia]], chính quyền Tây Ban Nha vốn thân phe Trục lập tức chuyển những thông tin này cho người Đức, góp phần giúp cho việc giải phóng Sicilia thuận lợi hơn.&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; kết thúc chuyến tuần tra tại Gibraltar vào ngày hôm sau [[30 tháng 4]], rồi lên đường bốn ngày sau đó để đi sang Algiers, đến nơi vào ngày [[8 tháng 5]].&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ mười ====&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; xuất phát từ Algiers vào ngày [[21 tháng 5]] cho chuyến tuần tra thứ mười, và hoạt động tại vùng [[biển Tyrrhenum]] về phía Đông Nam đảo [[Corse]]. Vào ngày [[27 tháng 5]], nó phóng ba quả ngư lôi tấn công chiếc tàu buôn Ý &amp;#039;&amp;#039;Capitaine Luigi&amp;#039;&amp;#039; ở vị trí về phía Đông Bắc [[La Maddalena]], Sardegna, nhưng không trúng đích. Sau đó trong các ngày [[30 tháng 5|30]] và [[31 tháng 5]], nó lại hai lần tấn công các tàu vận tải đối phương nhưng không có kết quả. &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; quay trở về Algiers vào ngày [[10 tháng 6]].&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ mười một ====&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ Algiers vào ngày [[30 tháng 6]] cho chuyến tuần tra thứ mười một để hỗ trợ cho [[Chiến dịch Husky]], cuộc đổ bộ cùa [[Khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai|lực lượng Đồng Minh]] lên Sicilia. Vào ngày [[9 tháng 7]], chiếc tàu ngầm đã phục vụ như cột mốc dẫn đường ngoài khơi [[Scoglitti]], Sicilia, rồi quay trở về Algiers vào ngày hôm sau.&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ mười hai ====&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; rời Algiers vào ngày [[15 tháng 7]] cho chuyến tuần tra thứ mười hai, và hoạt động tại vùng biển Tyrrhenum về phía Đông Bắc Sardegna. Nó kết thúc chuyến tuần tra khi đi đến [[Malta]] vào ngày [[1 tháng 8]].&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ mười ba ====&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; quay trở lại Algiers, rồi xuất phát từ đây vào ngày [[27 tháng 8]] cho chuyến tuần tra thứ mười ba để hoạt động ở phía Đông và phía Bắc đảo Corse. Vào ngày [[31 tháng 8]], nó cho đổ bộ hàng tiếp liệu lên [[Portofino]] (gần [[Genoa]]). Sau đó trong các ngày [[2 tháng 9|2]] và [[3 tháng 9]], nó phóng ngư lôi tấn công các đoàn tàu vận tải đối phương tại các khu vực đảo [[Gorgona (Ý)|Gorgona]] và [[Bastia]], Corse, nhưng không có kết quả. Đến ngày [[10 tháng 9]], nó phá hủy bốn tàu nhỏ bằng hải pháo ở vị trí về phía Đông Nam [[Piombino]], và sang ngày hôm sau đã gây hư hại cho một tàu buôn bằng ngư lôi, trước khi quay trở về Algiers vào ngày [[15 tháng 9]].&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ mười bốn ====&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ Algiers vào ngày [[2 tháng 10]] cho chuyến tuần tra thứ mười bốn, và đã hoạt động tại khu vực vịnh Genoa. Vào ngày [[4 tháng 10]], nó bị tàu ngầm Đức [[U-593 (tàu ngầm Đức)|&amp;#039;&amp;#039;U-593&amp;#039;&amp;#039;]] vốn đang trên đường từ [[Salerno]] quay trở về [[Toulon]] tấn công bằng hải pháo. Khi &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; chuẩn bị phóng ngư lôi phản công, &amp;#039;&amp;#039;U-593&amp;#039;&amp;#039; lặn xuống và chạy thoát. &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; quay trở về Algiers hai ngày sau đó.&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến ngày [[10 tháng 10]], &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; cùng với tàu ngầm chị em {{HMS|Shakespeare|P221|6}} được điều sang [[Beirut]], đến nơi vào ngày [[18 tháng 10]], và gia nhập Chi hạm đội Tàu ngầm 1 đặt căn cứ tại đây.&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ mười lăm ====&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; xuất phát từ Beirut vào ngày [[20 tháng 10]] cho chuyến tuần tra thứ mười lăm để hoạt động trong khu vực [[biển Aegea]]. Vào ngày [[27 tháng 10]] nó đánh chìm chiếc thuyền buồm [[Hy Lạp]] &amp;#039;&amp;#039;Agios Vasilios / SYR 739&amp;#039;&amp;#039; {{GRT|7|link=off}} bằng hải pháo ở vị trí về phía Bắc đảo [[Paros]], và sau đó phóng ngư lôi tấn công chiếc tàu tuần tra Đức &amp;#039;&amp;#039;GA 01&amp;#039;&amp;#039; ở phía Bắc đảo [[Naxos]] nhưng bị trượt. Trong các ngày [[5 tháng 11|5]] và [[6 tháng 11]], nó dùng hải pháo lần lượt đánh chìm các thuyền buồm Hy Lạp &amp;#039;&amp;#039;Miltiades / SAM 33&amp;#039;&amp;#039; {{GRT|150|link=off}} ngoài khơi eo biển Kaso và &amp;#039;&amp;#039;Narkyssos / KAL 88&amp;#039;&amp;#039; tại đảo [[Karpathos]]. Chiếc tàu ngầm quay trở về Beirut vào ngày [[8 tháng 11]].&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt;&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ mười sáu ====&lt;br /&gt;
Rời Beirut vào ngày [[23 tháng 11]] cho chuyến tuần tra thứ mười sáu, &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; đã hoạt động trong khu vực phía Nam của biển Aegea, rồi kết thúc chuyến tuần tra và đi đến Malta vào ngày [[3 tháng 12]].&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau đó chiếc tàu ngầm rời Malta vào ngày [[7 tháng 12]] cho hành trình quay trở về Anh để đại tu. Nó có chặng dừng tại Gibraltar từ ngày [[13 tháng 12|13]] đến ngày [[15 tháng 12]], và về đến [[Portsmouth]] vào ngày [[23 tháng 12]].&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt; &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; được đại tu tại [[Xưởng tàu Chatham]] từ cuối [[tháng 12]], [[1943]] đến giữa [[tháng 4]], [[1944]].&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1944 – 1945 ===&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ mười bảy ====&lt;br /&gt;
Sau khi thực hành huấn luyện tại vùng biển [[Plymouth]], &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; xuất phát từ cảng này vào ngày [[8 tháng 5]], [[1944]] cho chuyến tuần tra thứ mười bảy tại vùng biển [[Đại Tây Dương]] về phía Tây Nam [[Ireland]] và tại [[eo biển Manche]]. Tuy nhiên chiếc tàu ngầm gặp tai nạn trong khi lặn vào đêm [[11 tháng 5]], bị chìm xuống đáy biển đến độ sâu {{convert|498|ft|m|abbr=on}}, nhiều chỗ trên lườn tàu bị rò rỉ, các động cơ chính bị ngập nước. Chiếc tàu ngầm phải mất đến bốn giờ để khắc phục những hư hại, và sau nhiều nỗ lực cuối cùng trồi lên được mặt nước để gửi tín hiệu cầu cứu. Các [[tàu frigate]] {{HMS|Domett|K473|6}} và {{HMS|Berry|K312|6}} đã đi đến nơi để trợ giúp, trước khi được một [[tàu đánh cá]] và một [[tàu kéo]] đi đến thay phiên, đưa &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; về đến cảng Plymouth vào ngày [[15 tháng 5]].&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong khi &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; được sửa chữa tại [[Xưởng tàu Devonport]], Bộ Hải quân Anh quyết định cải biến nó thành một tàu giả lập mục tiêu cho hoạt động huấn luyện [[chiến tranh chống tàu ngầm|chống tàu ngầm]]. Những tin tức tình báo mà phía Anh có được vào đầu năm [[1944]] về lớp [[Type XXI (lớp tàu ngầm)|Type XXI]], được cho là đạt đến tốc độ đi ngầm dưới nước lên đến {{convert|16|kn|km/h|abbr=on}}, so với tốc độ nhanh nhất chỉ {{convert|9|kn|km/h|abbr=on}} của những lớp U-boat hiện có. Do kiểu tàu ngầm điện (Elektroboot) mới này sẽ là một mối đe dọa đáng kể, &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; được cải tạo gấp nhằm đạt được tốc độ đi ngầm dưới nước cao nhất có thể, và sử dụng trong thử nghiệm và thực hành nhằm phát triển những chiến thuật phù hợp đối phó với thế hệ tàu ngầm mới.{{sfnp|Brown|2006}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hình dáng bên ngoài của con tàu được cải biến cho suôn thẳng hơn, các [[ống phóng ngư lôi]] được bịt kín, giảm bớt kích thước của [[cầu tàu]], tháo dỡ hải khẩu pháo cùng với một [[kính tiềm vọng]] và ăn-ten [[radar]]. Động cơ được nâng cấp, và con tàu được trang bị [[ắc-quy]] dung lượng cao hơn, đồng thời thay thế [[chân vịt]] bằng kiểu có bước xoay chậm hơn vốn đã được trang bị cho [[T (lớp tàu ngầm Anh)|tàu ngầm lớp T]].{{sfnp|Brown|2006}} Sau khi công việc sửa chữa và cải biến hoàn tất vào giữa [[tháng 9]], [[1944]],&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt; việc thử nghiệm và thực hành chống tàu ngầm được tiến hành cho đến hết năm [[1944]], rút ra nhiều kinh nghiệm và bài học quan trọng.{{sfnp|Milner|2011}} &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; tiếp tục hoạt động huấn luyện và thử nghiệm cho đến khi Thế Chiến II kết thúc.&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Sau chiến tranh ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; tiếp tục phục vụ trong vai trò huấn luyện và thử nghiệm sau chiến tranh. Vào năm [[1955]] nó được bổ sung các tấm giáp để phục vụ như mục tiêu giả lập thực hành ngư lôi. Con tàu chỉ được cho xuất biên chế vào ngày [[25 tháng 10]], [[1962]], và bị bán để tháo dỡ vào ngày [[20 tháng 12]], [[1965]].&amp;lt;ref name=Seraph/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi bị tháo dỡ tại [[Briton Ferry]], [[Wales]], một phần [[tháp chỉ huy]] cùng với cửa nắp để nạp ngư lôi của &amp;#039;&amp;#039;Seraph&amp;#039;&amp;#039; đã được giữ lại, và hiện đang được trưng bày như một đài tưởng niệm tại Học viện Quân sự [[The Citadel]] ở [[Charleston, South Carolina]], nơi tướng Mark W. Clark phục vụ như Chủ tịch trong giai đoạn 1954–1965. Đài tưởng niệm này là căn cứ trên bờ duy nhất tại Hoa Kỳ nơi [[cờ hiệu]] của [[Hải quân Hoàng gia Anh]] được phép treo vĩnh viễn, bên cạnh cờ hiệu của [[Hải quân Hoa Kỳ]] nhằm ghi nhớ sự hợp tác Anh-Mỹ trong Thế Chiến II.&amp;lt;ref&amp;gt;{{chú thích báo | title=British ambassador lays wreath at The Citadel | url=http://www.scnow.com/news/politics/article_9c252b26-a680-11e2-9942-001a4bcf6878.html | publisher=AP | date=16 April 2013 | access-date=4 June 2013}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref&amp;gt;{{chú thích báo | title=Raising the Ensign | url=https://news.google.com/newspapers?nid=2506&amp;amp;dat=19800328&amp;amp;id=kntJAAAAIBAJ&amp;amp;sjid=gAsNAAAAIBAJ&amp;amp;pg=3639,6398918 | newspaper=News and Courier | location=Charleston, South Carolina | date=28 March 1980 | page=B1 }}{{Liên kết hỏng|date=2026-05-04 |bot=InternetArchiveBot }}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
=== Ghi chú ===&lt;br /&gt;
{{Tham khảo|group=&amp;quot;Ghi chú&amp;quot;}}&lt;br /&gt;
=== Chú thích ===&lt;br /&gt;
{{Tham khảo}}&lt;br /&gt;
=== Thư mục ===&lt;br /&gt;
{{Refbegin}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last=Akermann | first=Paul | title=Encyclopaedia of British Submarines 1901–1955 | edition=reprint of the 1989 | year=2002 | publisher=Periscope Publishing | location=Penzance, Cornwall | isbn=1-904381-05-7}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last=Bagnasco | first=Erminio | title=Submarines of World War Two | url=https://archive.org/details/submarinesofworl0000bagn_n7e7 | year=1977 | publisher=Naval Institute Press | location=Annapolis, Maryland | isbn=0-87021-962-6}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last=Brown | first=D.K. | title=Nelson to Vanguard: Warship Development, 1923–1945 | url=https://archive.org/details/nelsontovanguard0000davi | year=2006 | location=London | publisher=Naval Institute Press | isbn=978-1591146025 | ref=Harv}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | editor-last=Chesneau | editor-first=Roger | title=Conway&amp;#039;s All the World&amp;#039;s Fighting Ships 1922–1946 | url=https://archive.org/details/conwaysallworlds1922unse | year=1980 | publisher=Conway Maritime Press | location=Greenwich, UK | isbn=0-85177-146-7}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last1=Colledge | first1=J. J. | last2=Warlow | first2=Ben | title=Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.) | year=1969 | publisher=Chatham | location=London | isbn=978-1-86176-281-8 | oclc=67375475}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last=McCartney | first=Innes | title=British Submarines 1939–1945 | series=New Vanguard | volume=129 | year=2006 | publisher=Osprey | location=Oxford, UK | isbn=1-84603-007-2}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last=Milner | first=Marc | title=Battle of the Atlantic | year=2011 | publisher=The History Press | isbn=978-0-7524-6187-8}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last=Robertson | first=Terence | title=The Ship with Two Captains: The story of the &amp;#039;Secret Mission Submarine&amp;#039; | year=1957 | publisher=Sapere Books | location= Ilkley, UK | isbn=978-1-80055-826-7}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last=Rohwer | first=Jürgen | title=Chronology of the War at Sea 1939–1945: The Naval History of World War Two | url=https://archive.org/details/chronologyofwara0000rohw_v7p9 | year=2005 | edition=Revised &amp;amp; Expanded | publisher=Naval Institute Press | location=Annapolis, Maryland | isbn=1-59114-119-2}}&lt;br /&gt;
{{Refend}}&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
{{Commons category|HMS Seraph (P219)}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích web | last=Helgason | first=Guðmundur | title=HMS Seraph (P 219) – Submarine of the S Class | url=http://uboat.net/allies/warships/ship/3439.html | website=Allied Warships - uboat.net | access-date=10 December 2025}}&lt;br /&gt;
* [https://web.archive.org/web/20150626001415/http://www.citadel.edu/root/monuments#seraph Seraph monument at The Citadel The Military College of South Carolina]&lt;br /&gt;
* [http://www.uboat.net/allies/warships/ship/3438.html History of HMS SERAPH (P.219)] uboat.net&lt;br /&gt;
* [https://web.archive.org/web/20170410173423/http://historisches-marinearchiv.de/projekte/asa/uebersicht.php Allied Submarine Attacks] &amp;#039;&amp;#039;Suche&amp;#039;&amp;#039;: SERAPH&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu ngầm S Anh}}&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Anh}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Seraph (P219)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu ngầm S Anh (1931)]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia Anh trong Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu thủy năm 1941]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Chiến dịch Mincemeat]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;InternetArchiveBot</name></author>
	</entry>
</feed>