<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=HMS_Sturgeon_%2873S%29</id>
	<title>HMS Sturgeon (73S) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=HMS_Sturgeon_%2873S%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=HMS_Sturgeon_(73S)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-10T18:48:01Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=HMS_Sturgeon_(73S)&amp;diff=7911075&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;Dieu2005: /* Chuyến tuần tra thứ nhất */</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=HMS_Sturgeon_(73S)&amp;diff=7911075&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-02-10T01:04:25Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;span class=&quot;autocomment&quot;&gt;Chuyến tuần tra thứ nhất&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{{Dablink|Về những tàu chiến Anh Quốc khác mang cùng tên, xin xem [[HMS Sturgeon]].}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image= HMS Sturgeon.jpg&lt;br /&gt;
|Ship image size= 300px&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu ngầm HMS &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; vào năm 1933&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
|Hide header=&lt;br /&gt;
|Ship country= Anh Quốc&lt;br /&gt;
|Ship flag={{shipboxflag|United Kingdom|naval}}&lt;br /&gt;
|Ship name= HMS &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; (73S)&lt;br /&gt;
|Ship namesake= [[họ Cá tầm|cá tầm]]&lt;br /&gt;
|Ship ordered= [[2 tháng 7]], [[1930]]&lt;br /&gt;
|Ship awarded=&lt;br /&gt;
|Ship builder= [[Xưởng tàu Chatham]]&lt;br /&gt;
|Ship laid down= [[3 tháng 1]], [[1931]]&lt;br /&gt;
|Ship launched= [[8 tháng 1]], [[1932]]&lt;br /&gt;
|Ship christened=&lt;br /&gt;
|Ship commissioned= [[27 tháng 2]], [[1933]]&lt;br /&gt;
|Ship fate= Chuyển cho [[Hà Lan]], [[11 tháng 10]], [[1943]]&lt;br /&gt;
|Ship badge=&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
|Hide header=title&lt;br /&gt;
|Ship recommissioned= [[17 tháng 11]], [[1945]]&lt;br /&gt;
|Ship fate= Tháo dỡ, [[tháng 1]], [[1946]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
|Hide header=title&lt;br /&gt;
|Ship country= Hà Lan&lt;br /&gt;
|Ship flag={{shipboxflag|Netherlands|naval}}&lt;br /&gt;
|Ship name=HNLMS &amp;#039;&amp;#039;Zeehond&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
|Ship acquired=&lt;br /&gt;
|Ship commissioned= [[11 tháng 10]], [[1943]]&lt;br /&gt;
|Ship recommissioned=&lt;br /&gt;
|Ship decommissioned= [[14 tháng 9]], [[1945]]&lt;br /&gt;
|Ship in service=&lt;br /&gt;
|Ship out of service=&lt;br /&gt;
|Ship renamed=&lt;br /&gt;
|Ship reclassified=&lt;br /&gt;
|Ship refit=&lt;br /&gt;
|Ship captured=&lt;br /&gt;
|Ship struck=&lt;br /&gt;
|Ship reinstated=&lt;br /&gt;
|Ship fate= Hoàn trả cho Anh, [[17 tháng 11]], [[1945]]&lt;br /&gt;
|Ship homeport=&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
|Hide header=&lt;br /&gt;
|Header caption=&lt;br /&gt;
|Ship class= [[S (lớp tàu ngầm Anh) (1931)#Nhóm I|lớp S nhóm I]] &lt;br /&gt;
|Ship type= [[tàu ngầm]] Diesel-điện&lt;br /&gt;
|Ship displacement= * {{convert|640|LT|t|lk=on|abbr=on}} (nổi)&lt;br /&gt;
*{{convert|935|LT|t|abbr=on}} (ngầm)&lt;br /&gt;
|Ship length= {{convert|202|ft|6|in|m|abbr=on|1}}&lt;br /&gt;
|Ship beam= {{convert|24|ft|m|abbr=on|1}}&lt;br /&gt;
|Ship height=&lt;br /&gt;
|Ship draught= {{convert|11|ft|11|in|m|abbr=on}}&lt;br /&gt;
|Ship propulsion= * 2 × [[động cơ diesel]] {{convert|1550|hp|abbr=on}}&lt;br /&gt;
* 2 × [[động cơ điện]] {{convert|1300|hp|abbr=on}}&lt;br /&gt;
* 2 × trục &lt;br /&gt;
|Ship speed= * {{convert|13,75|kn|km/h|lk=in}} (nổi)&lt;br /&gt;
* {{convert|10|kn|km/h|abbr=on}} (ngầm)&lt;br /&gt;
|Ship range=* {{convert|3700|nmi|km}} ở tốc độ {{convert|10|kn|km/h}} (nổi)&lt;br /&gt;
* {{convert|64|nmi|km}} ở tốc độ {{convert|2|kn|km/h}} (lặn)&lt;br /&gt;
|Ship endurance=&lt;br /&gt;
|Ship test depth=&lt;br /&gt;
|Ship complement= 36-38&lt;br /&gt;
|Ship sensors=&lt;br /&gt;
|Ship EW=&lt;br /&gt;
|Ship armament= * 6 × ống phóng [[ngư lôi]] [[ngư lôi 21-inch Anh|{{convert|21|in|mm|abbr=on}}]] (trước mũi)&lt;br /&gt;
* 12 quả ngư lôi Mark VIII&lt;br /&gt;
* 1 × hải pháo [[hải pháo QF 3-inch 20 cwt|{{convert|3|in|mm}}]] &lt;br /&gt;
* 1 × pháo phòng không [[Oerlikon 20 mm]]&lt;br /&gt;
* 1 × súng máy .303-calibre&lt;br /&gt;
|Ship notes=&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;HMS &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; (73S)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; (tên [[tiếng Anh]] đặt theo họ [[họ Cá tầm|cá tầm]]), là một [[tàu ngầm]] [[S (lớp tàu ngầm Anh) (1931)|lớp S (1931)]] thuộc Nhóm I, được [[Hải quân Hoàng gia Anh]] chế tạo vào đầu [[thập niên 1930]] trong giai đoạn hiện đại hóa lực lượng tàu ngầm. Hoạt động trong [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]], &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; đã thực hiện ba mươi chuyến tuần tra tại các khu vực [[Đại Tây Dương]] và [[Địa Trung Hải]]. Đến [[tháng 5]], [[1943]], con tàu được chuyển giao cho [[Hải quân Hoàng gia Hà Lan]], và hoạt động dưới tên gọi &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;HNLMS &amp;#039;&amp;#039;Zeehond&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; cho đến khi xung đột kết thúc, rồi được hoàn trả cho Anh và bị tháo dỡ năm [[1946]]. &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; là chiếc duy nhất trong số bốn chiếc thuộc Nhóm I của lớp tàu ngầm S sống sót qua Thế Chiến II.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
=== Thiết kế ===&lt;br /&gt;
{{main|S (lớp tàu ngầm Anh) (1931)}}&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Shadowgraph S british class groupe I submarine.svg|thumb|left|Hình dạng bên ngoài của tàu ngầm lớp S, nhóm I]]&lt;br /&gt;
[[Tập tin:British S-class submarine schematic drawing.jpg|thumb|350px|left|Sơ đồ cấu trúc bên trong của tàu ngầm lớp S]]&lt;br /&gt;
Lớp tàu ngầm S được thiêt kế nhằm thay thế cho {{sclass|H|tàu ngầm|1}}, như là một kiểu tàu ngầm nhỏ để tuần tra tại vùng biển bị giới hạn như [[Bắc Hải (châu Âu)|Bắc Hải]], [[biển Baltic|Baltic]] và [[Địa Trung Hải]].&amp;lt;ref&amp;gt;{{chú thích web | last=Harrison | first=A. N. | title=The Development of HM Submarines From Holland No. 1 (1901) to Porpoise (1930) (BR3043) | url=http://rnsubs.co.uk/dits-bits/br-3043.html | date=January 1979 | publisher=RN Subs | access-date=27 September 2022}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Chúng có [[trọng lượng choán nước]] {{convert|730|LT|t|0|disp=flip}} khi nổi và {{convert|927|LT|t|0|disp=flip}} khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung {{convert|202|ft|6|in|m|abbr=on}}, mạn tàu rộng {{convert|24|ft|m|abbr=on}} và mớn nước sâu {{convert|11|ft|11|in|m|abbr=on}}.{{sfnp|Chesneau|1980|p=49}} Con tàu có thể lặn sâu đến {{convert|300|ft|m|abbr=on}}, và có một thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 38 sĩ quan và thủy thủ.{{sfnp|McCartney|2006|p=4}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lớp S trang bị hai [[động cơ diesel]] công suất {{convert|775|bhp|lk=in|0|adj=on}}, mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một [[động cơ điện]] công suất {{convert|650|hp|0|adj=on}}. Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa {{convert|13,75|kn|lk=in}} và {{convert|10|kn}} khi lặn dưới nước.{{sfnp|Bagnasco|1977|p=110}} Tầm xa hoạt động của Nhóm 1 là {{convert|3700|nmi|lk=in}} ở tốc độ {{convert|10|kn}}, và có thể lặn xa {{convert|64|nmi|abbr=on}} ở tốc độ {{convert|2|kn}}.{{sfnp|McCartney|2006|p=4}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các con tàu có sáu [[ống phóng ngư lôi]] {{convert|21|in|mm|abbr=on}}, tất cả được bố trí trước mũi, và có sáu quả [[ngư lôi]] dự phòng, nâng tổng số ngư lôi mang theo là 12 quả. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo [[QF 3-inch 20 cwt|{{convert|3|in|mm|adj=on|0}}]] cùng một pháo phòng không [[Oerlikon 20 mm]].{{sfnp|Chesneau|1980|p=49}} &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Chế tạo ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; được đặt hàng vào ngày [[2 tháng 7]], [[1930]] trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1929, và được đặt lườn tại [[Xưởng tàu Chatham]] của Hải quân Hoàng gia ở [[Kent]] vào ngày [[3 tháng 1]], [[1931]]. Nó được hạ thủy vào ngày [[8 tháng 1]], [[1932]], và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày [[27 tháng 2]], [[1932]].{{sfnp|Chesneau|1980|p=49}}&amp;lt;ref name=Sturgeon&amp;gt;{{chú thích web | last=Helgason | first=Guðmundur | title=HMS Sturgeon (N 73) – Submarine of the S Class | url=http://uboat.net/allies/warships/ship/3418.html | website=Allied Warships - uboat.net | access-date=3 December 2025}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Nó là chiếc tàu chiến thứ ba của Hải quân Hoàng gia được đặt [[HMS Sturgeon|cái tên này]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
=== HMS &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; ===&lt;br /&gt;
Vào lúc [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]] sắp bắt đầu, &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; phục vụ trong thành phần Chi hạm đội Tàu ngầm 2. Từ ngày [[23 tháng 8]], [[1939]], Chi hạm đội đã di chuyển đến căn cứ của đơn vị tại [[Dundee]], [[Scotland]] và [[Blyth, Northumberland|Blyth]], [[Northumberland]], Anh.{{sfnp|Rohwer|2005|p=1}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ nhất ====&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; cùng các tàu ngầm chị em {{HMS|Spearfish|69S|2}} và {{HMS|Swordfish|61S|2}} xuất phát từ [[đảo Portland|Portland]] vào ngày [[23 tháng 8]], và hai ngày sau đó đã bắt đầu hoạt động trong vùng biển [[Bắc Hải (châu Âu)|Bắc Hải]] về phía Tây Nam [[Stavanger]], [[Na Uy]]. Sau khi Anh Quốc tuyên chiến với [[Đức Quốc xã]] vào ngày [[3 tháng 9]], đây trở thành chuyến tuần tra đầu tiên của nó trong chiến tranh. Trên đường quay trở về Dundee vào ngày [[4 tháng 9]], chiếc tàu ngầm bị một máy bay [[Không quân Hoàng gia Anh]] ném bom tấn công lúc 16 giờ 20 phút tại tọa độ {{coord|56|34|N|01|04|W|display=inline}}, rồi thêm một đợt nữa lúc 16 giờ 42 phút. &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; đã không bị hư hại trong cả hai lượt bị ném bom nhầm, và về đến Dundee vào ngày hôm sau.&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ hai ====&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ Dundee vào ngày [[13 tháng 9]] cho chuyến tuần tra thứ hai để tiếp tục hoạt động về phía Tây Nam Stavanger. Sang ngày hôm sau [[14 tháng 9]], ở vị trí về phía Đông Nam [[Aberdeen]], Scotland, nó phát hiện một tàu ngầm lạ nên đã phóng ba quả [[ngư lôi]] tấn công tại tọa độ {{coord|56|22|N|01|28|W}}. Mục tiêu, là tàu ngầm chị em HMS &amp;#039;&amp;#039;Swordfish&amp;#039;&amp;#039;, đã lặn xuống nên né tránh được. &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; kết thúc chuyến tuần tra tại Dundee vào ngày [[21 tháng 9]].&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ ba ====&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; lại xuất phát từ Dundee vào ngày [[8 tháng 10]] cho chuyến tuần tra thứ ba, và đã hoạt động tại khu vực eo biển [[Skagerrak]]. Tại đây vào ngày [[14 tháng 10]], nó phát hiện tàu U-boat Đức [[U-23 (tàu ngầm Đức) (1936)|&amp;#039;&amp;#039;U-23&amp;#039;&amp;#039;]] ở vị trí về phía Tây Bắc [[Skagen]], [[Đan Mạch]], nên phóng một loạt ba quả ngư lôi tấn công tại tọa độ {{coord|57|49|N|09|59|E}}; cả ba quả ngư lôi đều bị trượt. Đến ngày [[16 tháng 10]], &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; va chạm đáy biển ở độ sâu {{convert|60|ft|m|0|abbr=on}} và bị hư hại vòm [[sonar]] ASDIC. Con tàu quay trở về cảng [[Rosyth]] vào ngày [[21 tháng 10]] để sửa chữa.&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ tư ====&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; rời Rosyth vào ngày [[11 tháng 11]] cho chuyến tuần tra thứ tư, và hoạt động tại khu vực [[Heligoland]] về phía Tây Đan Mạch. Tại đây vào ngày [[20 tháng 11]], nó phóng ngư lôi đánh chìm chiếc [[tàu đánh cá]] vũ trang Đức &amp;#039;&amp;#039;V 209 / Gauleiter Telshow&amp;#039;&amp;#039; {{GRT|428|link=off}} ở vị trí cách Heligoland {{convert|50|nmi|km|abbr=on}} về phía Tây Bắc, tại tọa độ {{coord|54|34|N|06|28|E}}.&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt; Đây là chiến công đánh chìm một tàu đối phương đầu tiên của một tàu ngầm Anh trong Thế Chiến II.&amp;lt;ref&amp;gt;{{chú thích web | last=Kindell | first=Don | title=Naval Events, November 1939, Part 2 of 2 | url=http://www.naval-history.net/xDKWW2-3911-08NOV02.htm | date=17 September 2008 | work=Naval-History.Net | access-date=12 December 2010}}&amp;lt;/ref&amp;gt; &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; quay trở về cảng [[Blyth]] vào ngày [[29 tháng 11]].&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ năm và thứ sáu ====&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ Blyth vào ngày [[13 tháng 12]] cho chuyến tuần tra thứ năm dọc theo bờ biển phía Đông của Anh, nhưng được gọi quay trở lại cảng hai ngày sau đó.&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt; Nó lại khởi hành từ Blyth vào ngày [[17 tháng 12]] cho chuyến tuần tra tiếp theo, và đã hoạt động dọc theo bờ biển phía Tây Đan Mạch cho đến ngày [[20 tháng 12]], khi được lệnh chuyển sang hoạt động trong eo biển [[Skagerrak]]. Chiếc tàu ngầm quay trở lại khu vực tuần tra cũ một ngày sau đó, rồi kết thúc chuyến tuần tra tại Blyth vào ngày [[30 tháng 12]].&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ bảy và thứ tám ====&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ Blyth vào ngày [[21 tháng 1]], [[1940]] cho chuyến tuần tra thứ bảy, và đã hoạt động tại khu vực Bắc Hải về phía Tây Bắc Đan Mạch trước khi quay trở về Blyth vào ngày [[31 tháng 1]].&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt; Chiếc tàu ngầm được bảo trì tại [[Wallsend]], rồi đến ngày [[30 tháng 4]] đã lại xuất phát từ Blyth cho chuyến tuần tra tiếp theo. Nó hoạt động tại vùng biển về phía Tây Bắc [[Terschelling]], [[Hà Lan]] cho đến khi quay trở lại Blyth vào ngày [[11 tháng 5]].&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ chín, thứ mười và thứ mười một ====&lt;br /&gt;
Từ ngày [[22 tháng 5]] đến ngày [[5 tháng 6]], &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; thực hiện chuyến tuần tra thứ chín, cùng xuất phát và kết thúc tại Blyth, để hoạt động tại khu vực về phía Tây Bắc Terschelling.&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt; Nó lại khởi hành từ Blyth vào ngày [[9 tháng 6]] cho chuyến tuần tra tiếp theo dọc bờ biển phía Đông của Anh nhằm đề phòng đối phương đánh phá khu vực này, nhưng được gọi quay trở lại vào ngày hôm sau.&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt; Từ ngày [[26 tháng 6]], chiếc tàu ngầm hoạt động ngoài khơi [[Texel]], Hà Lan trong chuyến tuần tra thứ mười một. Bốn ngày sau đó nó va chạm đáy biển ở độ sâu {{convert|50|ft|m|0|abbr=on}} và bị hư hại nhẹ, và kết thúc chuyến tuần tra vào ngày [[11 tháng 7]].&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ mười hai ====&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; xuất phát từ Blyth vào ngày [[27 tháng 7]] cho chuyến tuần tra thứ mười hai để lại hoạt động ngoài khơi Texel. Vào ngày [[4 tháng 8]], nó phát hiện tàu tuần tra Đức &amp;#039;&amp;#039;V-811&amp;#039;&amp;#039; đang được một [[tàu kéo]] kéo đi sau khi bị hư hại do trúng [[thủy lôi]], nên phóng một loạt sáu quả ngư lôi tấn công, nhưng tất cả đều bị trượt. Các tàu hộ tống &amp;#039;&amp;#039;FL 21&amp;#039;&amp;#039; và &amp;#039;&amp;#039;FL 24&amp;#039;&amp;#039; đã phản công trong suốt 30 với sáu quả mìn sâu được thả xuống, nhưng không có kết quả. &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; quay trở lại Blyth vào ngày [[9 tháng 8]].&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ mười ba ====&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ Blyth vào ngày [[27 tháng 8]] cho chuyến tuần tra thứ mười ba, và đã hoạt động tại khu vực eo biển Skagerrak. Vào ngày [[2 tháng 9]], nó phóng ngư lôi đánh chìm chiếc tàu chở quân Đức {{MV|Pionier|1933|2}} {{GRT|3264|link=off}} ở vị trí khoảng {{convert|5|nmi|km|abbr=on}} về phía Bắc Skagen, Đan Mạch, tại tọa độ {{coord|57|56|N|10|46|E}}. Đến ngày [[10 tháng 9]], nó phát hiện tàu ngầm [[U-43 (tàu ngầm Đức) (1939)|&amp;#039;&amp;#039;U-43&amp;#039;&amp;#039;]] tại tọa độ {{coord|57|14|N|06|04|E}}, nên phóng một loạt sáu quả ngư lôi tấn công, nhưng tất cả đều bị trượt. &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; kết thúc chuyến tuần tra và quay trở lại Blyth vào ngày [[13 tháng 9]].&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ mười bốn và mười lăm ====&lt;br /&gt;
Trong chuyến tuần tra tiếp theo, cùng xuất phát và kết thúc tại Blyth và diễn ra từ ngày [[29 tháng 9]] đến ngày [[14 tháng 10]], &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; hoạt động ở lối ra vào phía Tây của eo biển Skagerrak.&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt; Chiếc tàu ngầm lại khởi hành từ Blyth vào ngày [[26 tháng 10]] cho chuyến tuần tra thứ mười lăm để hoạt động gần eo biển Skagerrak. Tại đây vào ngày [[3 tháng 11]], nó đánh chìm chiếc tàu buôn Đan Mạch {{SS|Sigrun|1904|2}} {{GRT|1337|link=off}} bằng ngư lôi ở vị trí khoảng {{convert|10|nmi|km|abbr=on}} về phía Đông Nam [[Larvik]], Na Uy, tại tọa độ {{coord|58|59|N|10|22|E}}. Sang ngày hôm sau, nó tìm cách tấn công chiếc tàu buôn Na Uy {{SS|Ulv|1921|2}} tại tọa độ {{coord|58|41|N|09|21|E}}, nhưng cả hai quả ngư lôi phóng ra đều bị trượt. Đến ngày [[6 tháng 11]], nó phóng hai quả ngư lôi tấn công chiếc tàu buôn Na Uy {{SS|Delfinus|1912|2}} {{GRT|1294|link=off}}, và một quả trúng đích đã đánh chìm mục tiêu ở vị trí về phía Tây Nam [[Varhaug]], Na Uy, tại tọa độ {{coord|58|34|N|05|37|E}}. &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; và quay trở lại Blyth vào ngày [[9 tháng 11]].&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Các chuyến tuần tra từ thứ mười sáu đến mười chín ====&lt;br /&gt;
Trong giai đoạn từ ngày [[28 tháng 11]], [[1940]] đến ngày [[23 tháng 2]], [[1941]], &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; lần lượt thực hiện ba chuyến tuần tra tại các vùng biển ngoài khơi [[Stadlandet]], [[Bergen]] và [[Lista]], Na Uy, nhưng không bắt gặp mục tiêu nào đáng kể.&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt; Chiếc tàu ngầm xuất phát từ Blyth vào ngày [[11 tháng 3]] cho chuyến tuần tra tiếp theo để hoạt động tại các vùng biển Na Uy, nơi ngư lôi nó phóng ra trượt khỏi một tàu buôn vào ngày [[20 tháng 3]], rồi quay trở về cảng Blyth vào ngày [[25 tháng 3]].&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Các chuyến tuần tra từ thứ hai mươi đến hai mươi ba ====&lt;br /&gt;
Sau khi chuyển căn cứ hoạt động đến [[Portsmouth]], &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; có chuyến tuần tra thứ hai mươi từ ngày [[12 tháng 4|12]] đến ngày [[30 tháng 4]] để hoạt động tại [[vịnh Biscay]].&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt; Chiếc tàu ngầm khởi hành từ [[Dartmouth, Devon|Dartmouth]] vào ngày [[22 tháng 5]] cho chuyến tuần tra tiếp theo, và lại hoạt động tại khu vực vịnh Biscay, kéo dài cho đến ngày [[10 tháng 6]], khi nó quay trở lại Portsmouth.&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt; Chuyến tuần tra thứ hai mươi hai bắt đầu vào ngày [[24 tháng 6]], nhưng buộc phải quay trở lại cảng Portsmouth vào ngày hôm sau, sau khi phát hiện ra vết nứt trên lườn áp lực.&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt; Sau khi được sửa chữa, con tàu lại tuần tra trong vịnh Biscay từ ngày [[26 tháng 7]] đến ngày [[11 tháng 8]].&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; sau đó được sửa chữa và đại tu tại [[Troon]], Scotland từ ngày [[15 tháng 8]] đến ngày [[11 tháng 12]].&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt;Sau khi hoàn tất, con tàu thực hành huấn luyện tại các vùng biển Scotland cho đến ngày [[1 tháng 1]], [[1942]], khi nó xuất phát từ [[Scapa Flow]] để đi sang [[Polyarny, tỉnh Murmansk|Polyarny]], [[Liên Xô]], đến nơi vào ngày [[11 tháng 1]].&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ hai mươi bốn và hai mươi lăm ====&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; xuất phát từ Polyarny vào ngày [[17 tháng 1]] cho chuyến tuần tra thứ hai mươi bốn, và hoạt động dọc theo bờ biển phía Tây Bắc Na Uy. Nó kết thúc chuyến tuần tra tại cảng [[Lerwick]], Scotland vào ngày [[13 tháng 2]].&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau đó chiếc tàu ngầm lần lượt đi đến Holy Loch, rồi đến [[Plymouth]], nơi nó xuất phát vào ngày [[23 tháng 3]] cho chuyến tuần tra thứ hai mươi lăm tại vịnh Biscay. &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; đảm nhiếm vai trò cột mốc dẫn đường cho Chiến dịch Chariot, cuộc [[đột kích St Nazaire|đột kích]] lên cảng [[Saint-Nazaire|St. Nazaire]] của Pháp đã bị Đức chiếm đóng. &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; hoàn thành nhiệm vụ và quay trở về Holy Loch vào ngày [[3 tháng 4]].&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ hai mươi sáu và hai mươi bảy ====&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; rời Holy Loch vào ngày [[24 tháng 4]] cho chuyến tuần tra thứ hai mươi sáu, và hoạt động trong [[biển Na Uy]] để hỗ trợ hộ tống từ xa cho Đoàn tàu PQ-15 trong hành trình từ Anh đi sang phía Bắc Liên Xô. Nó bị hư hại do bị máy bay Anh không kích nhầm vào ngày [[28 tháng 4]], và kết thúc chuyến tuần tra khi quay trở về Lerwick vào ngày [[6 tháng 5]].&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt; Chiếc tàu ngầm chuyển đến [[Elderslie, Scotland|Elderslie]], Scotland vào ngày [[11 tháng 5]] để sửa chữa [[ắc-quy]], rồi quay trở lại Lerwick vào ngày [[14 tháng 6]].&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; xuất phát từ Lerwick vào ngày [[25 tháng 6]] cho chuyến tuần tra thứ hai mươi bảy, và hoạt động dọc theo bờ biển phía Tây Na Uy để hỗ trợ hộ tống từ xa cho [[Đoàn tàu PQ-17]] trong hành trình từ Anh đi sang phía Bắc Liên Xô. &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; hoàn thành nhiệm vụ và quay trở về Lerwick vào ngày [[12 tháng 7]].&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ hai mươi tám ====&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; lại khởi hành từ Lerwick vào ngày [[4 tháng 8]] cho chuyến tuần tra thứ hai mươi tám, và đã hoạt động tại khu vực ngoài khơi Lista, Na Uy. Tại đây vào ngày [[12 tháng 8]], nó phóng ngư lôi tấn công và đánh chìm được chiếc tàu buôn Đức {{SS|Boltenhagen|1912|2}} {{GRT|3335|link=off}} tại tọa độ {{coord|58|07|N|06|21|E}}. Chiếc tàu ngầm quay trở về Lerwick vào ngày [[16 tháng 8]].&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ hai mươi chín ====&lt;br /&gt;
Rời Lerwick vào ngày [[2 tháng 9]] cho chuyến tuần tra thứ hai mươi chín, &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; đang hoạt động trong biển Na Uy vào ngày hôm sau khi nó bắt gặp một tàu U-boat tại tọa độ {{coord|62|15|N|01|05|E}}, có thể là chiếc [[U-216 (tàu ngầm Đức)|&amp;#039;&amp;#039;U-216&amp;#039;&amp;#039;]] đang trên đường hướng ra Đại Tây Dương trong chuyến tuần tra đầu tiên. &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; tìm cách tấn công, nhưng không thể rút ngắn khoảng cách giữa hai chiếc tàu ngầm. Đến ngày [[6 tháng 9]], bánh lái ngang phía đuôi của &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; bị kẹt khiến nó gặp khó khăn khi lặn. Con tàu buộc phải kết thúc chuyến tuần tra và về đến Lerwick vào ngày [[10 tháng 9]].&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi được sửa chữa tại [[Xưởng tàu Chatham]] và tại Scapa Flow, &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; lên đường vào ngày [[27 tháng 10]] để đi sang [[Gibraltar]], nơi nó tạm thời được điều sang Chi hạm đội Tàu ngầm 8 để hoạt động tại khu vực [[Địa Trung Hải]]. Tuy nhiên trên đường đi vào ngày [[6 tháng 11]], nó bị một [[máy bay ném bom]] [[Lockheed Hudson]] tấn công nhầm với ba quả [[mìn sâu]] được ném xuống tại tọa độ {{coord|36|02|N|06|33|W}}, nhưng may mắn không gây ra hư hại nào. Con tàu đi đến Gibraltar cùng ngày hôm đó.&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ ba mươi ====&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; xuất phát từ Gibraltar vào ngày [[10 tháng 11]] cho chuyến tuần tra thứ ba mươi. Nó đã hoạt động tại các vùng biển ngoài khơi [[Toulon]], [[Pháp]] và [[Naples]], [[Ý]] trước khi quay trở về Gibraltar vào ngày [[2 tháng 12]].&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt;&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
Con tàu di chuyển từ Gibraltar đến [[Algiers]], từ ngày [[20 tháng 12|20]] đến ngày [[24 tháng 12]], và sau đó lại chuyển đến [[Mers El Kébir]] từ ngày [[12 tháng 1|12]] đến ngày [[14 tháng 1]], [[1943]]. Trong giai đoạn từ ngày [[16 tháng 1]] đến ngày [[ 15 tháng 2]], &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; thực hành [[chiến tranh chống tàu ngầm|chống tàu ngầm]] phối hợp cùng các hạm tàu nổi Hải quân Hoàng gia khác tại vùng biển ngoài khơi Mers El Kébir, rồi quay trở lại Algiers vào ngày [[16 tháng 2]]. Nó lại thực hành huấn luyện tại khu vực Gibraltar cho đến ngày [[23 tháng 4]], khi nó lên đường quay trở về Portsmouth.&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào ngày [[13 tháng 5]], [[1943]], &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; chuyển đến [[Plymouth]] cho một đợt tái trang bị. Tuy nhiên trước khi công việc này hoàn tất, con tàu được chuyển giao cho [[Hà Lan]] vào ngày [[11 tháng 10]], [[1943]], và nhập biên chế cùng [[Hải quân Hoàng gia Hà Lan]] cùng ngày hôm đó dưới tên gọi HNLMS &amp;#039;&amp;#039;Zeehond&amp;#039;&amp;#039;.&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt;&amp;lt;ref name=Zeehond&amp;gt;{{chú thích web | last=Helgason | first=Guðmundur | title=HNMS Zeehond (N 73) – Submarine of the S Class | url=http://uboat.net/allies/warships/ship/2909.html | website=Allied Warships - uboat.net | access-date=3 December 2025}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Tóm tắt chiến công ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; đã đánh chìm được bốn tàu buôn có tổng tải trọng {{GRT|9530|link=off}}, cùng một tàu chiến phụ trợ tải trọng {{GRT|428|link=off}}.&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt;&lt;br /&gt;
{|class=&amp;quot;wikitable sortable&amp;quot; border=&amp;quot;1&amp;quot;&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
! Ngày&lt;br /&gt;
! Tên tàu&lt;br /&gt;
! Quốc tịch&lt;br /&gt;
! Tải trọng&amp;lt;ref group=&amp;quot;Ghi chú&amp;quot;&amp;gt;Tàu buôn theo [[tổng dung tích|tấn đăng ký toàn phần]]. Tàu quân sự theo [[trọng lượng choán nước]].&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
! Số phận&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;right&amp;quot;|20 tháng 11, 1939&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;left&amp;quot; |&amp;#039;&amp;#039;V 209 / Gauleiter Telshow&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;left&amp;quot; |{{hải quân|Đức Quốc xã}}&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;right&amp;quot;|428&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;left&amp;quot; |Bị đánh chìm&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;right&amp;quot;|2 tháng 9, 1940&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;left&amp;quot; |{{MV|Pionier|1933|2}}&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;left&amp;quot; |{{lá cờ|Đức Quốc xã}}&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;right&amp;quot;|3.264&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;left&amp;quot; |Bị đánh chìm&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;right&amp;quot;|3 tháng 11, 1940&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;left&amp;quot; |{{SS|Sigrun|1904|2}}&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;left&amp;quot; |{{lá cờ|Đan Mạch}}&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;right&amp;quot;|1.337&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;left&amp;quot; |Bị đánh chìm&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;right&amp;quot;|6 tháng 11, 1940&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;left&amp;quot; |{{SS|Delfinus|1912|2}}&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;left&amp;quot; |{{lá cờ|Na Uy}}&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;right&amp;quot;|1.294&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;left&amp;quot; |Bị đánh chìm&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;right&amp;quot;|4 tháng 8, 1942&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;left&amp;quot; |{{SS|Boltenhagen|1912|2}}&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;left&amp;quot; |{{lá cờ|Đức Quốc xã}}&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;right&amp;quot;|3.335&lt;br /&gt;
|align=&amp;quot;left&amp;quot; |Bị đánh chìm&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== HNLMS &amp;#039;&amp;#039;Zeehond&amp;#039;&amp;#039; ===&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Onderzeeboot Hr.Ms. Zeehond (ex-HMS Sturgeon) (2158 017038).jpg|thumb|right|Tàu ngầm HNLMS &amp;#039;&amp;#039;Zeehond&amp;#039;&amp;#039;]]&lt;br /&gt;
Dưới quyền chỉ huy của [[Thiếu tá Hải quân]] Hà Lan Donald Theodoor Mackay, &amp;#039;&amp;#039;Zeehond&amp;#039;&amp;#039; di chuyển đến Portsmouth, rồi lên đường đi [[sông Clyde]] vào ngày [[11 tháng 11]], [[1943]]. Nó thực hành huấn luyện ngoài khơi [[Rothesay]] thuộc khu vực Clyde từ ngày [[14 tháng 11]] đến ngày [[10 tháng 12]], rồi xuất phát từ Rothesay với dự định đi sang [[St. John&amp;#039;s, Newfoundland và Labrador|St. John&amp;#039;s]], [[Newfoundland (đảo)|Newfoundland]], [[Canada]]. Tuy nhiên con tàu gặp phải thời tiết xấu nên tiêu hao nhiều nhiên liệu, và buộc phải quay trở lại cảng [[Londonderry]], [[Bắc Ireland]]. Sau đó nó cùng tàu ngầm {{HMS|Proteus|N29|6}} thực hành ngoài khơi sông Clyde từ ngày [[1 tháng 2|1]] đến ngày [[8 tháng 2]].&amp;lt;ref name=Zeehond/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Zeehond&amp;#039;&amp;#039; di chuyển đến Lerwick, và khởi hành từ đây vào ngày [[17 tháng 2]] cho chuyến tuần tra đầu tiên dưới lá cờ Hà Lan, với nhiệm vụ tuần tra chống tàu ngầm trong [[biển Na Uy]]. Nó quay trở về Lerwick vào ngày [[26 tháng 2]], và tiếp tục di chuyển qua nhiều cảng Anh. Chiếc tàu ngầm lại xuất phát từ Lerwick vào ngày [[18 tháng 3]] cho chuyến tuần tra tiếp theo để hoạt động dọc theo bờ biển Na Uy, trước khi được gọi quay trở về vào ngày [[21 tháng 3]], và về đến Lerwick hai ngày sau đó.&amp;lt;ref name=Zeehond/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ ngày [[24 tháng 3]], [[1944]] cho đến khi Thế Chiến II kết thúc, &amp;#039;&amp;#039;Zeehond&amp;#039;&amp;#039; thực hành huấn luyện cùng với nhiều hạm tàu nổi và tàu ngầm Anh tại nhiều thành phố cảng Anh và Hà Lan. Nó đi đến Dundee vào ngày [[8 tháng 9]], [[1945]], nơi nó được hoàn trả cho Hải quân Anh.&amp;lt;ref name=Zeehond/&amp;gt; HMS &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; bị tháo dỡ tại [[Granton, Edinburgh|Granton]], [[Edinburgh]], Scotland trong [[tháng 1]], [[1946]]. Trong tổng số bốn chiếc thuộc Nhóm I của [[S (lớp tàu ngầm Anh) (1931)|lớp S]], &amp;#039;&amp;#039;Sturgeon&amp;#039;&amp;#039; là chiếc duy nhất sống sót qua cuộc xung đột.&amp;lt;ref name=Sturgeon/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Xem thêm ==&lt;br /&gt;
* [[Trận Đại Tây Dương (1939-1945)]]&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
=== Ghi chú ===&lt;br /&gt;
{{Tham khảo|group=&amp;quot;Ghi chú&amp;quot;}}&lt;br /&gt;
=== Chú thích ===&lt;br /&gt;
{{Tham khảo}}&lt;br /&gt;
=== Thư mục ===&lt;br /&gt;
{{Refbegin}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last=Akermann | first=Paul | title=Encyclopaedia of British Submarines 1901–1955 | edition=reprint of the 1989 | year=2002 | publisher=Periscope Publishing | location=Penzance, Cornwall | isbn=1-904381-05-7}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last=Bagnasco | first=Erminio | title=Submarines of World War Two | url=https://archive.org/details/submarinesofworl0000bagn_n7e7 | year=1977 | publisher=Naval Institute Press | location=Annapolis, Maryland | isbn=0-87021-962-6}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | editor-last=Chesneau | editor-first=Roger | title=Conway&amp;#039;s All the World&amp;#039;s Fighting Ships 1922–1946 | url=https://archive.org/details/conwaysallworlds1922unse | year=1980 | publisher=Conway Maritime Press | location=Greenwich, UK | isbn=0-85177-146-7}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last1=Colledge | first1=J. J. | last2=Warlow | first2=Ben | title=Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.) | year=1969 | publisher=Chatham | location=London | isbn=978-1-86176-281-8 | oclc=67375475}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách |last=Hutchinson |first=Robert |title=Submarines, War Beneath The Waves, From 1776 To The Present Day |url=https://archive.org/details/janessubmarinesw0000hutc_l6u2 | year=2005 | publisher=Harper Paperback | isbn=978-0060819002}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last=McCartney | first=Innes | title=British Submarines 1939–1945 | series=New Vanguard | volume=129 | year=2006 | publisher=Osprey | location=Oxford, UK | isbn=1-84603-007-2}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last=Rohwer | first=Jürgen | title=Chronology of the War at Sea 1939–1945: The Naval History of World War Two | url=https://archive.org/details/chronologyofwara0000rohw_v7p9 | year=2005 | edition=Revised &amp;amp; Expanded | publisher=Naval Institute Press | location=Annapolis, Maryland | isbn=1-59114-119-2}}&lt;br /&gt;
{{Refend}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
* {{chú thích web | last=Helgason | first=Guðmundur | title=HMS Sturgeon (N 73) – Submarine of the S Class | url=http://uboat.net/allies/warships/ship/3418.html | website=Allied Warships - uboat.net | access-date=2 December 2025}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích web | last=Helgason | first=Guðmundur | title=HNMS Zeehond (N 73) – Submarine of the S Class | url=http://uboat.net/allies/warships/ship/2909.html | website=Allied Warships - uboat.net | access-date=3 December 2025}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích web | last=Harrison | first=A. N. | title=The Development of HM Submarines From Holland No. 1 (1901) to Porpoise (1930) (BR3043) | url=http://rnsubs.co.uk/dits-bits/br-3043.html | date=January 1979 |publisher=RN Subs | access-date=27 September 2022}}&lt;br /&gt;
* [http://www.iwm.org.uk/collections/item/object/80008944 IWM Interview with Mervyn Wingfield, who commanded HMS Sturgeon from 1941 to 1942]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu ngầm S Anh}}&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Anh|Hà Lan}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Sturgeon, HMS}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu ngầm S Anh (1931)]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia Anh trong Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia Hà Lan trong Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu thủy năm 1932]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;Dieu2005</name></author>
	</entry>
</feed>