<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=Ho%E1%BA%B1ng_Tr%C3%AD_Ch%C3%ADnh_Gi%C3%A1c</id>
	<title>Hoằng Trí Chính Giác - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=Ho%E1%BA%B1ng_Tr%C3%AD_Ch%C3%ADnh_Gi%C3%A1c"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=Ho%E1%BA%B1ng_Tr%C3%AD_Ch%C3%ADnh_Gi%C3%A1c&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-11T08:41:48Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=Ho%E1%BA%B1ng_Tr%C3%AD_Ch%C3%ADnh_Gi%C3%A1c&amp;diff=6800098&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;ThitxongkhoiAWB: /* Cơ duyên ngộ đạo */ clean up, replaced: [[Hà Nam (Trung Quốc)| → [[Hà Nam|</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=Ho%E1%BA%B1ng_Tr%C3%AD_Ch%C3%ADnh_Gi%C3%A1c&amp;diff=6800098&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-07-14T16:35:59Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;span class=&quot;autocomment&quot;&gt;Cơ duyên ngộ đạo: &lt;/span&gt; clean up, replaced: [[Hà Nam (Trung Quốc)| → [[Hà Nam|&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{{Thông tin tu sĩ Phật giáo&lt;br /&gt;
| tiền tố = Thiền sư&lt;br /&gt;
| tên = Hoằng Trí Chính Giác&lt;br /&gt;
| tên gốc = 宏智正覺&lt;br /&gt;
| hình = Tiantong Hongzhi Zhengjue Zen.jpg&lt;br /&gt;
| tông phái = [[Thiền tông]]&lt;br /&gt;
| lưu phái = [[Tào Động tông]]&lt;br /&gt;
| chi phái = Hoằng Trí phái&lt;br /&gt;
| sư phụ = [[Đan Hà Tử Thuần]]&lt;br /&gt;
| đệ tử = [[Tuyết Đậu Tự Tông]] &amp;lt;br&amp;gt; [[Tự Đắc Huệ Huy]]&lt;br /&gt;
| tên khai sinh = họ [[Lý]]&lt;br /&gt;
| ngày sinh = 1091&lt;br /&gt;
| nơi sinh = [[Thấp Châu]], [[Sơn Tây]]&lt;br /&gt;
| thụy = Hoằng Trí Thiền sư&lt;br /&gt;
| ngày mất = 1157&lt;br /&gt;
| nơi mất = Thiên Đồng Cảnh Đức Thiền tự, [[Ninh Ba]], [[Chiết Giang|Triết Giang]]&lt;br /&gt;
| nơi an táng = [[Núi Thiên Đồng]]&lt;br /&gt;
| quốc tịch = [[Đại Tống]]&lt;br /&gt;
}}&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Hoằng Trí Chính Giác&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; (zh. 宏智正覺, ja. &amp;#039;&amp;#039;Wanshi Shōgaku,&amp;#039;&amp;#039; 1091-1157) là [[Thiền sư]] Trung Quốc đời Tống, thuộc đời pháp thứ 10 của [[Tào Động tông]]. Người đời sau còn nhớ đến sư qua những cuộc tranh luận (trên tinh thần bạn bè) với Thiền sư [[Đại Huệ Tông Cảo]] về phương pháp tu hành của [[Lâm Tế tông|tông Lâm Tế]] (&amp;#039;&amp;#039;[[Công án|Thiền Công Án]]&amp;#039;&amp;#039;) và [[Tào Động tông|tông Tào Động]] (&amp;#039;&amp;#039;[[Thiền Mặc Chiếu]]&amp;#039;&amp;#039;).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sư là người đã đề xướng phương pháp &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;quot;Mặc Chiếu Thiền&amp;quot;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;. Sau này, phương pháp này cùng với phương pháp &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;quot;Tham công án, thoại đầu&amp;quot;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; trở thành hai phương thức tu tập phổ biến để đạt được giác ngộ trong [[Thiền tông]]. Vào thế kỷ 13, Thiền sư [[Đạo Nguyên Hi Huyền]] đã hấp thụ tinh hoa của Thiền Mặc Chiếu và sau đó truyền bá mạnh mẽ tại Nhật Bản. Trong các tác phẩm Thiền của Đạo Nguyên như &amp;#039;&amp;#039;Chính Pháp Nhãn Tạng&amp;#039;&amp;#039; (Shōbō Genzō), Hoằng Trí là nhân vật điển hình được Đạo Nguyên trích dẫn và nhắc đến nhiều nhất.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sư là tổ sáng lập ra phái Hoằng Trí - một trong các nhánh chính của Tông Tào Động dưới [[Nhà Tống|thời Tống]], [[Nhà Nguyên|Nguyên]]. Dòng pháp này được truyền qua pháp tử của sư là Thiền sư [[Tự Đắc Huệ Huy]] khoảng 10 đời thì thất truyền.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Cơ duyên ngộ đạo ==&lt;br /&gt;
{{Thiền sư Trung Quốc}}&lt;br /&gt;
Sư [[Lý (họ)|họ Lý]], quê ở [[Thấp Châu]], [[Sơn Tây]]. Tương truyền, mẹ sư mộng thấy một vị tăng ở Ngũ Đài cởi chiếc vòng và mang vào cánh tay bà. Sau đó, bà mang thai và sinh ra sư.&amp;lt;ref name=&amp;quot;:0&amp;quot;&amp;gt;{{Chú thích web|url=http://www.thuongchieu.net/index.php/chuyende/thiensutrunghoa/2408-thiensuchanhgiac|tựa đề=Thiền Sư Chánh Giác Hiệu Hoằng Trí|tác giả=Thích Thanh Từ|website=Thiền Viện Thường Chiếu|url-status=live|ngày truy cập=ngày 7 tháng 9, 2023}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 11 tuổi, sư xuất gia với pháp sư Bản Tông ở Tịnh Minh tự. Đến năm 14 tuổi, sư thọ giới cụ túc với luật sư Trí Quỳnh tại Từ Vân tự ở vùng [[Tấn Châu]], [[Lâm Phần]], [[Sơn Tây]].&amp;lt;ref name=&amp;quot;:1&amp;quot;&amp;gt;{{Chú thích web|url=https://phatgiao.org.vn/tu-dien-phat-hoc-online/hoang-tri-chanh-giac-k4143.html/p6?keys=r|tựa đề=Hoằng Trí Chánh Giác|website=Phật Giáo|url-status=live|ngày truy cập=ngày 7 tháng 9, 2023}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Năm 18 tuổi, sư đi du phương học đạo và tham vấn các bậc tôn túc khắp nơi. Sư từng phát nguyện với ông nội rằng: &amp;#039;&amp;#039;&amp;quot;Nếu con không phát minh việc lớn, thề không trở về!&amp;quot;&amp;#039;&amp;#039;&amp;lt;ref name=&amp;quot;:0&amp;quot; /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trước tiên, sư đến Hương Sơn tự ở Nhữ Châu, huyện Lâm An, tỉnh Hà Nam và tham học với Thiền sư [[Khô Mộc Pháp Thành]] - môn đệ đắc pháp của Thiền sư [[Phù Dung Đạo Khải]]. Sau, sư đến tham học với Thiền sư [[Đan Hà Tử Thuần]] ở núi Đơn Hà, tỉnh [[Hà Nam]]. Sau đó, Thiền sư Đan Hà dời đến núi Đại Thừa ở Đường Châu, huyện [[Bí Dương]], tỉnh [[Hà Nam (tỉnh Việt Nam)|Hà Nam]] và núi Đại Hồng ở [[Tùy Châu]], tỉnh [[Hồ Bắc]], sư đều đi theo làm thị giả cho Đan Hà.&amp;lt;ref name=&amp;quot;:1&amp;quot; /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một hôm, sư đến tham vấn. Đan Hà hỏi sư: &amp;#039;&amp;#039;&amp;quot;Trước kiếp không ta là ai?&amp;quot;&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sư đáp: &amp;#039;&amp;#039;&amp;quot;Con ếch nuốt trăng ngồi đáy giếng, Canh ba chẳng mượn dạ minh rèm.&amp;quot;&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đan Hà bảo: &amp;#039;&amp;#039;&amp;quot;Chưa được gì lại nói rồi!&amp;quot;&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sư đang phân vân thì bị Đan Hà đánh cho một phất trần và bảo: &amp;#039;&amp;#039;&amp;quot;Lại nói không mượn?&amp;quot;&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngay lời nói này, sư đại ngộ, liền đảnh lễ Đan Hà. Đan Hà hỏi: &amp;#039;&amp;#039;&amp;quot;Sao ông không nói một lời nào thế?&amp;quot;&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sư thưa: &amp;#039;&amp;#039;&amp;quot;Hoằng Trí hôm nay bỏ mất dịp may, thật đắc tội.&amp;quot;&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đan Hà nói:&amp;#039;&amp;#039;&amp;quot;Chưa rảnh để đánh ông đấy. Hãy xéo đi cho.&amp;quot;&amp;lt;ref name=&amp;quot;:0&amp;quot; /&amp;gt;&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Không lâu sau, sư được Đan Hà [[Ấn khả chứng minh|ấn khả]] và trở thành pháp tử của Đan Hà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Hoằng pháp ==&lt;br /&gt;
Năm thứ 3 (1121) niên hiệu Tuyên Hòa, sư được Đan Hà đề cử làm chức Thủ tọa (zh. 首座) trong pháp hội của mình. Đến năm sau, sư huynh của sư là Thiền sư [[Chân Yết Thanh Liễu]] sai tăng rước sư đến trụ trì tại Phổ Chiếu tự ở [[Từ Châu|Tứ Châu]], tỉnh [[An Huy]]. Sư ăn mặc rách rưới, tăng chúng lấy làm lạ. Chân Yết thấy vậy bèn sai thị giả đem đổi giày mới cho sư. Sư bảo: &amp;#039;&amp;#039;&amp;quot;Tôi vì giày mà đến sao?&amp;quot;&amp;#039;&amp;#039; Chúng tăng nghe được đều hết lòng kính phục, tán thán đức hạnh của sư không thôi.&amp;#039;&amp;#039;&amp;lt;ref name=&amp;quot;:0&amp;quot; /&amp;gt;&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào năm đầu (1127) niên hiệu Kiến Viêm, sư dời đến trụ trì tại Thái Bình tự ở vùng Thư Châu, tỉnh [[An Huy]]. Sau đó lại dời đến núi Vân Cư ở [[Giang Tây]]. Thỉnh thoảng sư cũng có khai mở đạo tràng thuyết giảng tại núi Trường Lô, tỉnh [[Giang Tô]].&amp;lt;ref name=&amp;quot;:1&amp;quot; /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau, sư đến trụ trì tại Thiên Đồng Cảnh Đức Thiền tự ở núi Thiên Đồng (nay thuộc thành phố [[Ninh Ba]], tỉnh [[Chiết Giang]]). Lúc bấy giờ trên núi Thiên Đồng rất nghèo túng, nhà cửa chật hẹp, nhưng kể từ khi sư đến trụ trì về sau thì thóc lúa đầy kho, ngôi già lam cũng được hoàn chỉnh trang nghiêm. Đặc biệt, ngôi đại pháp đường được sư chỉnh trang đúng với thanh quy của Thiền tông. Sư trụ trì tại đây hơn 30 năm và được tôn xưng là vị Tổ trung hưng của núi Thiên Đồng.&amp;lt;ref name=&amp;quot;:3&amp;quot;&amp;gt;{{Chú thích sách|title=Thiền Tông Lâm Tế, Thiền Tông Tào Động|last=Thích Trúc Thông Quảng|publisher=Nxb Tôn Giáo|year=2016|pages=201}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phong cách của sư rất bình dị, chất phác và gần gũi với mọi người. Bình thường, khi được người cúng dường sư không vui mừng, đến lúc cho đi sư không chán ngán, mỗi ngày sư chỉ ăn một bữa và không ăn quá ngọ.&amp;lt;ref name=&amp;quot;:3&amp;quot; /&amp;gt; Ngôn từ của sư rất xảo diệu, sánh ngang hàng với Thiền sư [[Tuyết Đậu Trọng Hiển]]. Sư cùng với Thiền sư [[Đại Huệ Tông Cảo]] của [[Lâm Tế tông]] được tùng lâm tôn xưng là &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Nhị Đại Cam Lồ Môn&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; của [[Thiền tông]].&amp;lt;ref name=&amp;quot;:1&amp;quot; /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sư có đóng góp rất lớn đối với tông Tào Động thông qua việc đề xướng Thiền Mặc Chiếu thành phương pháp tu hành đặc thù riêng của tông Tào Động. Học giả Morten Schlütter nhận xét sư và Thiền sư [[Chân Yết Thanh Liễu]] là &amp;quot;Đại diện tiêu biểu nhất cho Thiền phái Tào Động dưới đời Tống&amp;quot; (&amp;#039;&amp;#039;the most illustrious representative of the Caodong tradition in the Song&amp;#039;&amp;#039;).&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích sách|title=How Zen Became Zen: The Dispute Over Enlightenment and the Formation of Chan Buddhism in Song-Dynasty China|last=Schlütter, Morten|publisher=University of Hawaii Press|year=2010|isbn=978-0-8248-3508-8|pages=65, 68, 123}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày mồng 8 tháng mười năm [[Đinh Sửu]] (1157), niên hiệu Thiệu Hưng thứ 27, sư đắp y ngồi ngay thẳng nói chuyện với đại chúng rồi an nhiên thị tịch, trụ thế 67 năm, hạ lap 56 năm. Vua [[Tống Cao Tông]] ban tặng cho sư thụy hiệu là &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Hoằng Trí Thiền Sư&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;. Nhục thân của sư lưu lại bảy ngày mà gương mặt vẫn tươi như còn sống. Tháp mộ được an trí ở Đông Cốc, đến nay vẫn còn ở núi Thiên Đồng. Trước khi tịch, sư viết kệ cho Thiền sư [[Đại Huệ Tông Cảo|Đại Huệ]] việc thỉnh người thừa kế núi Thiên Đồng:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:Mộng huyễn không hoa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:Sáu mươi bảy năm,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:Chim trắng khói lặn,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:Nước thu tiếp trời.&amp;#039;&amp;#039;&amp;lt;ref name=&amp;quot;:2&amp;quot;&amp;gt;{{Chú thích web|url=https://phatgiao.org.vn/tu-dien-phat-hoc-online/hoang-tri-chinh-giac-k971.html|tựa đề=Hoằng Trí Chính Giác|website=Phật Giáo|url-status=live|ngày truy cập=ngày 7 tháng 9, 2023}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đệ tử nối pháp của sư có 14 vị, trong đó điển hình nhất là Thiền sư [[Tuyết Đậu Từ Tông]] và [[Tự Đắc Huệ Huy]].&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích web|url=https://blog.phapthihoi.org/gt-member/0-ts-hoang-tri-chanh-giac/|tựa đề=0-TS Hoằng Trí Chánh Giác|website=Pháp Thí Hội|url-status=live|ngày truy cập=ngày 7 tháng 9, 2023}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Pháp ngữ ==&lt;br /&gt;
Sư thượng đường nói: &amp;#039;&amp;#039;&amp;quot;Gác vàng rèm sổ ai truyền tin nhà, màn đỏ phủ tối ném chân châu, chính khi ấy thấy nghe có chỗ chẳng đến, nói năng có chỗ chẳng kịp, làm sao thông được tin tức? Mộng về đêm tối mờ mờ sáng, cười chỉ gia phong rực rỡ xuân.&amp;quot;&amp;#039;&amp;#039;&amp;lt;ref name=&amp;quot;:4&amp;quot;&amp;gt;{{Chú thích web|url=https://tangthuphathoc.net/quang-luc-cua-thien-su-hoang-tri/|tựa đề=Quảng Lục Của Thiền Sư Hoằng Trí|website=Tạng Thư Phật Học|url-status=live|ngày truy cập=ngày 7 tháng 9, 2023}}{{Liên kết hỏng|date=2026-05-06 |bot=InternetArchiveBot }}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sư thượng đường nói: &amp;#039;&amp;#039;&amp;quot;Tâm không thể duyên miệng không thể luận, dù cho lui bước gánh vác, tối kỵ đương đầu chạm húy. Gió mát trăng trong bến đò xưa, thuyền đêm chèo chuyển lưu ly dấy.&amp;quot;&amp;lt;ref name=&amp;quot;:4&amp;quot; /&amp;gt;&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sư thượng đường nói: &amp;#039;&amp;#039;&amp;quot;Không kiếp có chân tông, trước tiếng hỏi chính mình, đỏ cùng kế sống mới, trong trắng gia phong xưa, quả thật ngoài tam thừa, lặng lẽ trong một ấn, trở lại đi dị loại, muôn dòng tự về đông.&amp;quot;&amp;lt;ref name=&amp;quot;:4&amp;quot; /&amp;gt;&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tác phẩm==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sư có để lại rất nhiều tác phẩm Thiền học, còn được lưu truyền đến ngày nay:&amp;lt;ref name=&amp;quot;:1&amp;quot; /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
*&amp;#039;&amp;#039;Hoằng Trí Giác Hòa Thượng Ngữ Yếu&amp;#039;&amp;#039; (zh. 宏智覺和尚語要, 1 quyển).&lt;br /&gt;
*&amp;#039;&amp;#039;Hoằng Trí Giác Thiền Sư Ngữ Lục&amp;#039;&amp;#039; (zh. 宏智覺禪師語錄, 4 quyển).&lt;br /&gt;
*&amp;#039;&amp;#039;Hoằng Trí Quảng Lục&amp;#039;&amp;#039; (zh. 宏智廣錄, 9 quyển).&lt;br /&gt;
*&amp;#039;&amp;#039;Thiên Đồng Bách Tắc Tụng Cổ&amp;#039;&amp;#039; (zh. 天童百則頌古).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Nguồn tham khảo ==&lt;br /&gt;
{{tham khảo|30em}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Viết tắt Phật học}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Thiền sư Trung Quốc]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Nhà văn Trung Quốc thời Tống]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Người Sơn Tây (Trung Quốc)]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tào Động tông]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Sinh năm 1091]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Mất năm 1157]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Im lặng]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;ThitxongkhoiAWB</name></author>
	</entry>
</feed>