<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=K-278_Komsomolets</id>
	<title>K-278 Komsomolets - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=K-278_Komsomolets"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=K-278_Komsomolets&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-11T08:02:08Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=K-278_Komsomolets&amp;diff=7101294&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;InternetArchiveBot: Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=K-278_Komsomolets&amp;diff=7101294&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2024-03-10T14:41:01Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image=[[Tập tin:Mike class SSN.svg|300px]]&lt;br /&gt;
|Ship caption=K-278 &amp;#039;&amp;#039;Komsomolets&amp;#039;&amp;#039; profile&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image=[[Tập tin:DN-SN-87-07042-Mike class submarine-1 Jan 1986.JPEG|300px|K-278 underway in 1986]]&lt;br /&gt;
|Ship caption=K-278, 1 tháng 1 năm 1986&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
|Hide header=&lt;br /&gt;
|Ship country=Liên Xô&lt;br /&gt;
|Ship flag=[[Hình:Naval Ensign of the Soviet Union (1950–1991).svg|45px|Soviet naval pennant]]&lt;br /&gt;
|Ship name=*&amp;#039;&amp;#039;K-278&amp;#039;&amp;#039; (1983–1989)&lt;br /&gt;
* K-278 Komsomolets (1989–1990)&lt;br /&gt;
|Ship namesake=&lt;br /&gt;
|Ship owner=&lt;br /&gt;
|Ship operator=&lt;br /&gt;
|Ship registry=&lt;br /&gt;
|Ship route=&lt;br /&gt;
|Ship ordered=&lt;br /&gt;
|Ship awarded=&lt;br /&gt;
|Ship builder=[[Sevmash]]&lt;br /&gt;
|Ship original cost=&lt;br /&gt;
|Ship yard number=510&lt;br /&gt;
|Ship way number=&lt;br /&gt;
|Ship laid down=22 tháng 4 năm 1978&lt;br /&gt;
|Ship launched=9 tháng 5 năm 1983 (3 tháng 6 năm 1983)&lt;br /&gt;
|Ship sponsor=&lt;br /&gt;
|Ship christened=&lt;br /&gt;
|Ship completed=&lt;br /&gt;
|Ship acquired=&lt;br /&gt;
|Ship commissioned=28 tháng 12 năm 1983&lt;br /&gt;
|Ship recommissioned=&lt;br /&gt;
|Ship decommissioned=6 tháng 6 năm 1990&lt;br /&gt;
|Ship maiden voyage=&lt;br /&gt;
|Ship in service=&lt;br /&gt;
|Ship out of service=&lt;br /&gt;
|Ship renamed=&lt;br /&gt;
|Ship reclassified=&lt;br /&gt;
|Ship refit=&lt;br /&gt;
|Ship struck=&lt;br /&gt;
|Ship reinstated=&lt;br /&gt;
|Ship homeport=[[Bolshaya Lopatka]] tại [[Zapadnaya Litsa (cảng hải quân)|Zapadnaya Litsa]]&lt;br /&gt;
|Ship identification=&lt;br /&gt;
|Ship motto=&lt;br /&gt;
|Ship nickname=&lt;br /&gt;
|Ship honours=&lt;br /&gt;
|Ship honors=&lt;br /&gt;
|Ship captured=&lt;br /&gt;
|Ship fate=Chìm do hỏa hoạn vào ngày 7 tháng 4 năm 1989, giết chết 42 người&lt;br /&gt;
|Ship status=Vị trí ở [[biển Barents]] dưới độ sâu {{convert|1600|m|ft|abbr=on}} và sự ô nhiễm không đáng kể chất phóng xạ&lt;br /&gt;
|Ship notes=&lt;br /&gt;
|Ship badge=&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
|Hide header=&lt;br /&gt;
|Header caption=&lt;br /&gt;
|Ship class= lớp tàu ngầm &amp;quot;Mike&amp;quot; trong [[Tên báo cáo của NATO]]&lt;br /&gt;
|Ship tonnage=&lt;br /&gt;
|Ship displacement=4,400–5,750 tấn khi nổi, 6,400–8,000 tấn khi lặn&lt;br /&gt;
|Ship tons burthen=&lt;br /&gt;
|Ship length={{convert|117,5|m|ft|abbr=on}}&lt;br /&gt;
|Ship beam={{convert|10,7|m|ft|abbr=on}}&lt;br /&gt;
|Ship height=&lt;br /&gt;
|Ship draught=&lt;br /&gt;
|Ship draft={{convert|8|to|9|m|ft|abbr=on}}&lt;br /&gt;
|Ship depth=&lt;br /&gt;
|Ship hold depth=&lt;br /&gt;
|Ship decks=&lt;br /&gt;
|Ship deck clearance=&lt;br /&gt;
|Ship ramps=&lt;br /&gt;
|Ship ice class=&lt;br /&gt;
|Ship power=&lt;br /&gt;
|Ship propulsion=Một [[Lò phản ứng nước áp lực]] 190 MW [[OK-650 reactor|OK-650 b-3]], hai [[Tuốc bin hơi nước]] 45000 [[mã lực trục|shp]], một trục&lt;br /&gt;
|Ship sail plan=&lt;br /&gt;
|Ship speed={{convert|14|kn}} nổi, {{convert|26|to|30|kn}} lặn&lt;br /&gt;
|Ship range=&lt;br /&gt;
|Ship endurance=&lt;br /&gt;
|Ship test depth=1,000 m an toàn, 1,250 m thiết kế, 1,500 m áp lực&lt;br /&gt;
|Ship boats=&lt;br /&gt;
|Ship capacity=&lt;br /&gt;
|Ship troops=&lt;br /&gt;
|Ship complement=30 sĩ quan, 22 sĩ quan dự bị, 12 hạ sĩ quan và lính nhập ngũ&lt;br /&gt;
|Ship crew=&lt;br /&gt;
|Ship time to activate=&lt;br /&gt;
|Ship sensors=&lt;br /&gt;
|Ship EW=&lt;br /&gt;
|Ship armament=&lt;br /&gt;
* Tên lửa [[SS-N-15|SS-N-15 Starfish]]&lt;br /&gt;
* Ống phóng ngư lôi 6 x 533 mm (21-inch) [[53-65 torpedo]]&lt;br /&gt;
|Ship armour=&lt;br /&gt;
|Ship armor=&lt;br /&gt;
|Ship aircraft=&lt;br /&gt;
|Ship aircraft facilities=&lt;br /&gt;
|Ship notes=&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;K-278 Komsomolets&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; là chiếc Plavnik duy nhất của Dự án 685 (có tên là &amp;quot;vây&amp;quot;, còn được biết đến với tên theo báo cáo của NATO là tàu ngầm tấn công hạt nhân &amp;quot;Mike&amp;quot; của [[Hải quân Liên Xô]]). Vào ngày 4 tháng 8 năm 1984 K-278 lặn sâu kỷ lục 1.020 mét (3.350 feet) trên [[biển Na Uy]].&amp;lt;ref&amp;gt;{{chú thích web| url =http://vpk-news.ru/articles/6891| title =Хождение за три глубины| publisher =Военно-промышленный курьер| author =| access-date =ngày 9 tháng 5 năm 2013| archive-date =2021-04-30| archive-url =https://web.archive.org/web/20210430164926/https://vpk-news.ru/articles/6891| url-status =dead}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Chiếc tàu bị đắm năm 1989 và hiện đang nằm ở đáy biển Barents, ở sâu một dặm, với lò phản ứng hạt nhân và hai đầu đạn hạt nhân vẫn còn trên tàu. Tàu của Dự án 685 duy nhất được phát triển để thử nghiệm công nghệ cho [[tàu ngầm hạt nhân]] thế hệ thứ tư của Liên Xô. Mặc dù chủ yếu là một mô hình phát triển, nó hoàn toàn có khả năng chiến đấu, nhưng đã chìm sau khi một đám cháy bùng phát trong khoang kỹ thuật phía sau trong cuộc tuần tra hoạt động đầu tiên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Komsomolets đã có thể nổi lên sau khi đám cháy bắt đầu và duy trì hoạt động trong khoảng 5 giờ trước khi chìm.&amp;lt;ref name=ACT&amp;gt;{{Chú thích tạp chí|first=Brian|last=Pope|jstor=23624029|title=Soviet Nuclear-Powered Attack Submarine Sinks Off Norway|volume=19|issue=4|pages=24|date=May 1989|journal=Arms Control Today}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Trong số 42 thuyền viên đã chết, chỉ có bốn người chết vì lửa và khói, trong khi 34 người chết vì [[hạ thân nhiệt]] và chết đuối trong vùng nước lạnh lẽo trong khi chờ giải cứu mà cứu hộ không đến kịp. Mất mát gây sốc này đã dẫn đến một cuộc điều tra rất công khai.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Thiết kế==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Project 685 được thiết kế bởi Cục thiết kế Rubin nhằm đáp ứng thách thức phát triển tàu ngầm tiên tiến có thể mang theo hỗn hợp [[ngư lôi]] và [[tên lửa hành trình]] với đầu đạn hạt nhân hoặc thông thường. Lệnh thiết kế tàu ngầm được ban hành vào năm 1966 và thiết kế được hoàn thành vào năm 1974. Keel đầu tiên (và duy nhất) được đặt vào ngày 22 tháng 4 năm 1978 tại Severodvinsk. K-278 được hạ thủy vào ngày 3 tháng 6 năm 1983 và được đưa vào hoạt động vào ngày 28 tháng 12 năm 1983.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
K-278 có thân tàu đôi, lớp bên trong được làm bằng titan, giúp nó có thể lặn ở độ sâu lớn hơn nhiều so với các tàu ngầm tốt nhất của Mỹ. Vỏ áp lực bao gồm bảy khoang với khoang thứ hai và thứ ba được bảo vệ bởi các vách ngăn phía trước và phía sau mạnh hơn tạo ra một &amp;quot;vùng an toàn&amp;quot; trong trường hợp khẩn cấp. Một khoang thoát hiểm được lắp trong khoang phía trên cho phép thủy thủ đoàn từ bỏ tàu trong trường hợp khẩn cấp dưới nước. Các ước tính ban đầu của tình báo phương Tây về tốc độ K-278, dựa trên giả định rằng nó được cung cấp bởi một cặp [[Lò phản ứng kim loại lỏng]]-[[chì]]-[[Bismut]]. Khi Liên Xô tiết lộ rằng tàu ngầm đã sử dụng một lò phản ứng nước áp lực thông thường OK-650b-3, các ước tính tốc độ này đã bị hạ thấp.&amp;lt;ref group=&amp;quot;Note&amp;quot;&amp;gt;[[OK-650 reactor]] đã được cài đặt cho Dự án 971 (Akula), Dự án 945 (Sierra), và Dự án 941 (Typhoon).&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Thủy thủ đoàn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo Norman Polmar và Kenneth J. Moore - hai chuyên gia phương Tây về thiết kế và vận hành tàu ngầm của Liên Xô - thiết kế tiên tiến của Dự án 685 bao gồm nhiều hệ thống tự động, trình tự, đã cho phép ít thuyền viên hơn so với dự kiến cho một tàu ngầm có kích cỡ lớn. Bảng điều khiển được [[Bộ Quốc phòng Liên Xô]] phê duyệt năm 1982 đã sắp xếp một thủy thủ đoàn chỉ có 57 người. Điều này sau đó đã được tăng lên thành 64: 30 sĩ quan, 22 sĩ quan dự bị và 12 sĩ quan nhỏ và thủy thủ.&amp;lt;ref&amp;gt;Norman Polmar, and Kenneth J. Moore; &amp;#039;&amp;#039;Cold War Submarines: The Design and Construction of U.S. and Soviet Submarines&amp;#039;&amp;#039;; Published 2004 by Brassey&amp;#039;s, Inc. (Dulles, Virginia); tr. 286–287; {{ISBN|1-57488-594-4}}; Google books, truy cập 28 tháng 3 năm 2011.&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tàu ngầm K-278 có tên==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào tháng 10 năm 1988, K-278 đã được vinh danh khi trở thành một trong số ít các tàu ngầm Liên Xô được đặt tên thật: [[Komsomol]] (có nghĩa là &amp;quot;một thành viên của Komsomol&amp;quot;), và sĩ quan chỉ huy của tàu, Đại úy Cấp 1 Yuriy Zelenskiy đã thực hiện lặn sâu đến độ sâu 1.020 mét (3.350 feet).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tai nạn==&lt;br /&gt;
{{Chính|Sự cố tàu ngầm nguyên tử Komsomolets}}Vào ngày 7 tháng 4 năm 1989, trong vùng [[biển Na Uy]], cách đảo Ours 180&amp;amp;nbsp;km về hướng Tây Nam và cách bờ biển Na Uy 490&amp;amp;nbsp;km, chiếc tàu ngầm đang trở về căn cứ sau một chuyến công tác ở độ sâu bình thường.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lúc 11 giờ, các thủy thủ ca đầu đã thức giấc, trong khi ca ba sắp sửa dùng bữa trưa. Viên sĩ quan trực Alexandre Verezgov thu thập các báo cáo của từng khoang. Anh thản nhiên báo cáo vào micro: &amp;quot;Đã kiểm tra khoang số 7. Độ ngăn cách và thành phần không khí bình thường. Không có gì báo cáo&amp;quot;.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lúc 11 giờ 03, một tín hiệu phát ra trên bảng điều khiển của anh cơ khí viên trực Viatcheslav Youdine: &amp;quot;Nhiệt độ trong khoang số 7 cao hơn 70 độ C&amp;quot;. Youdine thông báo với viên thuyền trưởng, ông này đã ban lệnh báo động toàn diện. Tiếng còi hú vang khắp các khoang. Những sĩ quan chạy bộ về phòng chỉ huy. Thuyền trưởng liên tục gọi khoang số 7 có lẽ đang bị lửa hoành hành, nhưng không nghe trả lời. Youdine đề nghị: &amp;quot;Thưa thuyền trưởng, cần cho khí freon vào khoang số 7 gấp&amp;quot;.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thuyền trưởng Evgueni Vanine do dự - khí freon là một hỗn hợp khí có thể ngăn lửa lan tràn, nhưng nó cũng gây tử vong chắc chắn cho ai ở trong khu vực có nó. Nhưng anh thủy thủ trực khoang số 7 vẫn không có động tỉnh gì qua liên lạc... thế là thuyền trưởng bèn quyết định: &amp;quot;Cho freon vào khoang số 7!&amp;quot;. Kể từ giây phút đó, thủy thủ Nodar Boukhnikachvili chẳng còn cơ may nào sống sót.&amp;lt;ref name=&amp;quot;reason&amp;quot;/&amp;gt; Mọi người đều hi vọng đây sẽ là nạn nhân duy nhất cho sự cố trên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khí freon lẽ ra đã có thể dập tắt được ngọn lửa tại khoang số 7 nhưng một ống dẫn khí nén bị đứt, hơi khí nén này như mồi lửa của một ngọn đèn xì, khoang số 7 bị biến thành một lò lửa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vài giây sau, một tia lửa đã bén vào khoang số 6 cạnh đó. Những thủy thủ trong ấy không có cả thời gian để mang mặt nạ phòng hơi độc. Chỉ trong thoáng chốc, cả nơi đây đã biến thành một biển lửa. Thủy thủ đoàn cho dừng máy phát điện bên trái, còn máy bên phải thì bị hỏng tự dừng hoạt động. Bộ phận an toàn tự động của lò phản ứng đã bật, chiếc tàu ngầm tự dừng lại. Trong khi lặn, tình huống đó nguy hiểm hơn là sự trục trặc của một động cơ của một phi cơ đang bay. Phi cơ còn có thể lượn, còn tàu ngầm thì sẽ chìm thẳng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nguyên nhân sự cố thực sự vẫn chưa được xác định. Một nguyên nhân có thể là sự đánh lửa của thiết bị điện (máy tách dầu).&amp;lt;ref name=&amp;quot;reason&amp;quot;&amp;gt;[https://podlodka.info/education/26-accidents/311-proceedings-of-the-accident-and-the-damage-control-pla-komsomolets.html Ход развития аварии и борьбы за живучесть ПЛА «КОМСОМОЛЕЦ»] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20210429172040/https://podlodka.info/education/26-accidents/311-proceedings-of-the-accident-and-the-damage-control-pla-komsomolets.html |date=2021-04-29 }}, (tiếng Nga) truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Hậu quả==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngoài tám ngư lôi tiêu chuẩn của tàu, K-278 còn mang theo hai ngư lôi được trang bị đầu đạn hạt nhân. Dưới áp lực của Na Uy, Liên Xô đã sử dụng tàu lặn dưới biển sâu hoạt động từ tàu nghiên cứu hải dương học [[Akademik Mstislav Keldysh]] để tìm kiếm K-278. Vào tháng 6 năm 1989, hai tháng sau khi chìm, xác tàu đã được định vị. Các quan chức Liên Xô tuyên bố rằng bất kỳ rò rỉ có thể là không đáng kể và không gây ra mối đe dọa cho môi trường.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Việc kiểm tra xác tàu vào tháng 5 năm 1992 cho thấy các vết nứt dọc theo toàn bộ [[chiều dài]] thân tàu bằng titan, một số trong đó rộng 30–40&amp;amp;nbsp;cm (12 -16 inch), cũng như có thể nứt lan vào trong các ống làm mát lò phản ứng. Một cuộc khảo sát [[hải dương học]] của khu vực vào tháng 8 năm 1993 đã cho thấy rằng nước tại khu vực này không bị trộn lẫn theo chiều dọc, và do đó, đời sóng biển trong khu vực không bị ô nhiễm nhanh chóng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một cuộc thám hiểm vào giữa năm 1994 đã tiết lộ một số rò rỉ [[plutoni]] từ một trong hai ngư lôi hạt nhân. Vào ngày 24 tháng 6 năm 1995, Keldysh đã lên đường trở lại từ St. Petersburg đến tàu để hàn kín các vết nứt thân tàu ở Khoang 1 và che đầu đạn hạt nhân, và tuyên bố thành công vào cuối cuộc lặn tiếp theo vào tháng 7 năm 1996. Chính phủ Nga đã tuyên bố nguy cơ [[ô nhiễm phóng xạ]] của môi trường không đáng kể cho đến năm 2015 hoặc 2025.&amp;lt;ref&amp;gt;[https://www.extremetech.com/extreme/238645-komsomolets-advanced-prototype-soviet-nuclear-sub-still-resting-bottom-ocean Komsomolets: the prototype Soviet nuclear sub still resting at the bottom of the ocean], truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref&amp;gt;[https://www.themoscowtimes.com/2014/11/14/soviet-nuclear-submarine-wrecks-at-bottom-of-arctic-ocean-video-a41348 Soviet Nuclear Submarine Wrecks at Bottom of Arctic Ocean (Video)], truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chính quyền Na Uy từ Cơ quan Bức xạ và Cơ quan Môi trường Biển đã lấy một số mẫu vào tháng 8 năm 2008 và không tìm thấy bức xạ nào. Họ đã kiểm tra các chất phóng xạ khác nhau bao gồm các chất phát gamma, plutonium, americium và strontium.&amp;lt;ref&amp;gt;{{chú thích web |url=http://www.imr.no/nyhetsarkiv/2008/august/atomubaten_komsomolets_radioaktiv/nb-no |title=Havforskningsinstituttet - Sjekker atomubåten &amp;quot;Komsomolets&amp;quot; for radioaktiv lekkasje |publisher=Imr.no |date=ngày 22 tháng 8 năm 2008 |access-date=ngày 16 tháng 1 năm 2019 |archive-date=2019-07-09 |archive-url=https://web.archive.org/web/20190709070852/http://www.imr.no/nyhetsarkiv/2008/august/atomubaten_komsomolets_radioaktiv/nb-no |url-status=dead }}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1993, Phó đô đốc (đã nghỉ hưu) Chernov, một chỉ huy của tàu ngầm Komsomolets, đã thành lập Hội tưởng niệm tàu ngầm hạt nhân Komsomolets, và một tổ chức từ thiện để hỗ trợ các góa phụ và trẻ mồ côi của thủy thủ đoàn. Kể từ đó, điều lệ của Hội đã mở rộng để cung cấp hỗ trợ cho gia đình của tất cả thủy thủ đoàn tàu ngầm Liên Xô và Nga bị mất trên biển. Ngoài ra, ngày 7 tháng 4 đã trở thành một ngày tưởng niệm cho tất cả các tàu ngầm bị mất trên biển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Ghi chú==&lt;br /&gt;
&amp;lt;references group=&amp;quot;Note&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Tham khảo==&lt;br /&gt;
{{tham khảo}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
{{thể loại Commons|Mike class submarines|K-278 Komsomolets}}&lt;br /&gt;
* [http://www.american.edu/TED/komso.htm TED Case Studies: Komsomolets Submarine and Radiation Leakage]&lt;br /&gt;
* {{chú thích web|url=http://www.deepstorm.ru/DeepStorm.files/45-92/nts/685/list.htm|title=Проект 685 &amp;quot;Плавник&amp;quot; (NATO – &amp;quot;Mike&amp;quot;)|author=А. С. Николаев|date=2002–2003|work=«Штурм Глубины»|publisher=www.deepstorm.ru|access-date =ngày 6 tháng 4 năm 2011}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích web|url=http://www.deepstorm.ru/DeepStorm.files/45-92/nts/685/k-278/k-278.htm|title=К-278, &amp;quot;Комсомолец&amp;quot; проект 685|author=А. С. Николаев, И. С. Курганов|date=2002–2008|work=«Штурм Глубины»|publisher=www.deepstorm.ru|access-date =ngày 6 tháng 4 năm 2011}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích web|url=http://www.submarines.narod.ru/Substory/6_685_gr604.html|title=604 экипаж проекта 685 &amp;quot;Плавник&amp;quot;|author=А. С. Николаев, И. С. Курганов|year=2007|work=сайт «Русский Подплав»|publisher=www.submarines.narod.ru|access-date =ngày 6 tháng 4 năm 2011}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích web|url=http://submarine.id.ru/book/l220.shtml|title=Пламя в отсеках|author=Н. А. Черкашин|date=1997–2001|work=«Российский подводный флот»|publisher=www.submarine.id.ru|access-date =ngày 6 tháng 4 năm 2011|url-status=dead|archiveurl=https://www.webcitation.org/61CSJQXXq?url=http://submarine.id.ru/book/l220.shtml|archivedate=ngày 25 tháng 8 năm 2011|df=dmy-all}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích web|url=http://grinda.info/008.htm|title=Обследование затонувшей АПЛ &amp;quot;Комсомолец&amp;quot; силами ВМФ|work=Центральный Военно-Морской Портал|publisher=grinda.info|access-date =ngày 6 tháng 4 năm 2011|archive-date = ngày 26 tháng 4 năm 2011 |archive-url=https://web.archive.org/web/20110426191549/http://grinda.info/008.htm}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích web|url=http://grinda.info/vahtennyiy-zhurnal.html|title=Вахтенный журнал|work=Центральный Военно-Морской Портал|publisher=grinda.info|access-date =ngày 6 tháng 4 năm 2011|archive-date = ngày 17 tháng 8 năm 2011 |archive-url=https://web.archive.org/web/20110817125713/http://grinda.info/vahtennyiy-zhurnal.html}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích web|url=http://aqua.sm.bmstu.ru/projects/komsomolets/komsomolets_r.htm|title=Проект локализации АПЛ &amp;quot;Комсомолец&amp;quot;|author=МГТУ им. Баумана, отдел Подводные системы|publisher=aqua.sm.bmstu.ru|access-date =ngày 6 tháng 4 năm 2011|url-status=dead|archiveurl=https://www.webcitation.org/61CSLt0xg?url=http://aqua.sm.bmstu.ru/projects/komsomolets/komsomolets_r.htm|archivedate=ngày 25 tháng 8 năm 2011|df=dmy-all}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích web|url=http://submarine.id.ru/api/w88.shtml|title=Возможен ли подъём &amp;quot;Комсомольца&amp;quot;?|author=Н. Мормуль|work=«Российский подводный флот»|publisher=www.submarine.id.ru|access-date =ngày 6 tháng 4 năm 2011|url-status=dead|archiveurl=https://www.webcitation.org/61CSNJ01g?url=http://submarine.id.ru/api/w88.shtml|archivedate=ngày 25 tháng 8 năm 2011|df=dmy-all}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu ngầm hạt nhân Liên Xô]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tai nạn hàng hải năm 1989]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Liên Xô năm 1989]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;InternetArchiveBot</name></author>
	</entry>
</feed>