<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=MGM-52_Lance</id>
	<title>MGM-52 Lance - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=MGM-52_Lance"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=MGM-52_Lance&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-10T09:45:43Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=MGM-52_Lance&amp;diff=7958964&amp;oldid=prev</id>
		<title>~2026-41272-59 vào lúc 01:47, ngày 24 tháng 7 năm 2026</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=MGM-52_Lance&amp;diff=7958964&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-07-24T01:47:14Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{{Chất lượng kém/nguồn|ngày=24|tháng=07|năm=2026|lý do=dịch máy kém chất lượng}}{{Infobox weapon&lt;br /&gt;
| is_missile         = yes&lt;br /&gt;
| name               = MGM-52 Lance&lt;br /&gt;
| image              = File:Een FMC M752 lanceervoertuig voor de Lance raket van 129 Afdeling veldartillerie (2001 516-79-I11).jpg&lt;br /&gt;
| image_size         = 300&lt;br /&gt;
| caption            = Tên lửa MGM-52C Lance được dựng ở tư thế phóng trên xe mang phóng tự hành bánh xích M752.&lt;br /&gt;
| origin             = Hoa Kỳ&lt;br /&gt;
| type               = [[Tên lửa đạn đạo chiến thuật]]&lt;br /&gt;
| vehicle_range      = {{convert|45|-|80|mi|km|abbr=on}}, tùy thuộc loại đầu đạn&amp;lt;ref name=modernUSA/&amp;gt;&lt;br /&gt;
| filling            = 1 đầu đạn hạt nhân W70 hoặc đầu đạn M251 mang đạn con nổ mạnh&amp;lt;ref name=modernUSA/&amp;gt;&lt;br /&gt;
| yield              = {{convert|1|–|100|ktonTNT}}&lt;br /&gt;
| engine             = Tên lửa nhiên liệu lỏng&lt;br /&gt;
| guidance           = [[hệ thống dẫn đường quán tính]]&lt;br /&gt;
| accuracy           = [[CEP]] 150 m&lt;br /&gt;
| speed              = &amp;gt;[[Mach]] 3&lt;br /&gt;
| length             = {{convert|21|ft|m|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| diameter           = {{convert|22|in|mm|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| weight             = {{convert|2850|-|3367|lb|kg|abbr=on}} tùy theo đầu đạn trang bị&amp;lt;ref name=modernUSA/&amp;gt;&lt;br /&gt;
| payload_capacity   = &lt;br /&gt;
| manufacturer       = [[Ling-Temco-Vought|LTV]]&amp;lt;br&amp;gt;[[Lockheed Martin Missiles and Fire Control]]&lt;br /&gt;
| unit_cost          = ~Khoảng 800.000 USD (theo giá năm 1996)&amp;lt;ref name=&amp;quot;Brookings&amp;quot;&amp;gt;{{cite web&lt;br /&gt;
 |url         = http://www.brookings.edu/projects/archive/nucweapons/lance.aspx&lt;br /&gt;
 |title       = Lance Missile (MGM-52C)&lt;br /&gt;
 |date        = August 1998&lt;br /&gt;
 |work        = U.S. Nuclear Weapons Cost Study Project&lt;br /&gt;
 |publisher   = Brookings Institution&lt;br /&gt;
 |location    = Washington, DC&lt;br /&gt;
 |access-date  = 11 October 2011 |quote = The Lance missile was deployed with U.S. Army forces from 1972 to 1991, largely in West Germany. It was also deployed with British, Belgian, Dutch, Italian, and West German armies. More than 2,300 were purchased at a cost of over $2 billion (in constant 1996 dollars). The Lance had a range of 3 to 78 miles (5 to 125 kilometers), although its accuracy decreased at longer ranges. The Lance was a dual-capable weapon, that is it could carry either a conventional or a nuclear warhead. The nuclear warhead, the W70, had a yield of 1–100 kilotons and was produced both as a standard fission weapon and an enhanced radiation (ER) weapon. &lt;br /&gt;
 |url-status     = dead&lt;br /&gt;
 |archive-url  = https://web.archive.org/web/20110910043644/http://www.brookings.edu/projects/archive/nucweapons/lance.aspx&lt;br /&gt;
 |archive-date = 10 September 2011&lt;br /&gt;
 |df          = dmy-all&lt;br /&gt;
}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;br /&amp;gt;~khoảng 1,5 triệu USD (theo giá trị quy đổi năm 2024)({{Inflation-year|US-GDP}}){{Inflation-fn|US-GDP}}&lt;br /&gt;
| number             = 2.133&amp;lt;ref name=modernUSA/&amp;gt;&lt;br /&gt;
| service            = 1972–1992&lt;br /&gt;
| used_by            = Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Bỉ, Hà Lan, Ý và Tây Đức&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tên lửa đạn đạo chiến thuật đối đất &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;MGM-52 Lance&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; phóng từ bệ phóng cơ động là phuơng tiện pháo binh dã chiến nhằm cung cấp [[yểm trợ hỏa lực]] bộ binh bằng cả đầu đạn hạt nhân và đầu đạn thông thường cho [[Lục quân Hoa Kỳ]]. Đầu đạn của tên lửa được phát triển tại [[Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Livermore]]. MGM-52 Lance sau này được thay thế bởi &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;[[MGM-140 ATACMS]]&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;.&amp;lt;ref name=&amp;quot;LA Times 1987&amp;quot;&amp;gt;{{Cite journal|title=Senate Permits Study for New Tactical Nuclear Missile |journal=[[Los Angeles Times]] |first=Melissa |last=Healy |date=3 October 1987 |url=https://www.latimes.com/archives/la-xpm-1987-10-03-mn-2950-story.html |access-date=8 August 2012}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Lịch sử==&lt;br /&gt;
Những tên lửa Lance đầu tiên được triển khai vào năm 1972, thay thế (cùng với các tên lửa phòng không mang đầu đạn hạt nhân &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;[[RIM-2 Terrier|RIM-2D]]&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; và &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;[[RIM-8 Talos|RIM-8E/B/D]]&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; của Hải quân Hoa Kỳ) cho rocket &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;[[MGR-1 Honest John]]&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; và tên lửa đạn đạo tầm ngắn &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;[[MGM-29 Sergeant]]&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;. So với các hệ thống trước đó, MGM-52 Lance giúp giảm đáng kể khối lượng và kích thước của toàn bộ hệ thống, đồng thời cải thiện cả độ chính xác lẫn tính cơ động.&amp;lt;ref name=modernUSA&amp;gt;{{cite book |title= The new illustrated guide to the modern US Army|last=Ripley |first=Tim |year= 1992|publisher=Salamander Books Ltd |isbn=0-86101-671-8 |pages=92–93 }}&amp;lt;/ref&amp;gt; Sau năm 1972, hệ thống này được triển khai rộng rãi tại châu Âu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1990, có thông tin cho biết 90 bệ phóng MGM-52 Lance được bố trí tại Tây Âu, với 300 đầu đạn nổ mạnh thông thường và 700 đầu đạn hạt nhân sẵn sàng chiến đấu. Ngoài ra, Hoa Kỳ còn được cho là lưu trữ 150 đầu đạn hạt nhân khác, nâng tổng số đầu đạn hạt nhân dành cho MGM-52 Lance lên ít nhất 850. Hiện nay, tất cả số đầu đạn này được cho là đã bị Hoa Kỳ tiêu hủy.&amp;lt;ref name=&amp;quot;:0&amp;quot;&amp;gt;{{Cite book |last=Lennox |first=Duncan |url=http://archive.org/details/janes-strategic-weapon-systems-issue-38-2003 |title=Jane&amp;#039;s strategic weapons systems |date=1989 |publisher=Coulsdon, Surry, Eng. ; Alexandria, VA : Jane&amp;#039;s Information Group |isbn=978-0-7106-0880-2}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tên lửa Lance dần được loại khỏi biên chế trong giai đoạn 1991–1994, và trong vai trò sử dụng đầu đạn thông thường, nó được thay thế một phần bởi MGM-140 ATACMS. Một số tên lửa Lance dư thừa được chuyển đổi thành mục tiêu bay để các hệ thống phòng không [[MIM-23 Hawk]] và [[MIM-104 Patriot]] đánh chặn trong các cuộc thử nghiệm.&amp;lt;ref name=&amp;quot;:0&amp;quot; /&amp;gt; Một chương trình nâng cấp Lance mang tên Follow-on-to-Lance (FOTL) từng được đề xuất. Các nhà hoạch định của Lục quân Hoa Kỳ dự kiến phát triển một loại tên lửa mới có tầm bắn 250–270 dặm (402–435 km), xa hơn đáng kể so với Lance nhưng vẫn nằm trong giới hạn đối với tên lửa tầm ngắn theo quy định của [[Hiệp ước Lực lượng hạt nhân tầm trung|Hiệp ước Các lực lượng hạt nhân tầm trung]] (INF). Tuy nhiên, trong bối cảnh tiến trình giải trừ vũ khí hạt nhân, Hội nghị thượng đỉnh NATO tháng 5 năm 1990 đã quyết định không tiếp tục chương trình hiện đại hóa lên tiêu chuẩn FOTL.&amp;lt;ref&amp;gt;{{cite web |date=17 October 2001 |title=LTV MGM-52 Lance |url=http://www.designation-systems.net/dusrm/m-52.html |website=www.designation-systems.net}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện nay, [[Bảo tàng Công nghệ Quốc phòng Bundeswehr]] tại [[Koblenz]] (Đức) đang lưu giữ một tên lửa Lance trong bộ sưu tập của mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Thiết kế==&lt;br /&gt;
[[File:Een FMC M668 transportvoertuig voor de Lance-raket van 129 Afdeling Veldartillerie (2001 516-79-B-1).jpg|thumb|left|Xe vận chuyển/tiếp đạn bánh xích M688 (sử dụng cùng khung gầm với xe mang phóng M752) đang chuyển tên lửa từ một xe tải vận tải đa dụng.]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Tải trọng ===&lt;br /&gt;
Tên lửa Lance có thể mang đầu đạn hạt nhân W70 với đương lượng nổ 1–100 kiloton TNT (4,2–418,4 TJ) hoặc nhiều loại đầu đạn thông thường khác nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phiên bản W70 Mod 3 (W70-3) là một trong những đầu đạn đầu tiên đạt trạng thái sẵn sàng chiến đấu với khả năng bức xạ tăng cường (&amp;#039;&amp;#039;enhanced radiation&amp;#039;&amp;#039;), hay còn gọi là [[bom neutron]].&amp;lt;ref&amp;gt;Rybak, E.F.; Gruszczyński, J. (1998). &amp;#039;&amp;#039;Amerykańskie rakiety operacyjno-taktyczne i taktyczne. Cz. IV. Ku nowym wojnom&amp;#039;&amp;#039;. „Nowa Technika Wojskowa” Nr 7/1998, ISSN 1230-1655, p.32 (in Polish)&amp;lt;/ref&amp;gt; Đầu đạn W70-3 được đưa vào trang bị từ sau năm 1982 và chỉ được biên chế cho các lực lượng Hoa Kỳ.&amp;lt;ref name=&amp;quot;:0&amp;quot; /&amp;gt; Các loại đầu đạn thông thường gồm:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Đầu đạn đơn nổ lõm (shaped-charge), dùng để xuyên phá các mục tiêu kiên cố và công sự ngầm.&lt;br /&gt;
* Đầu đạn chùm, chứa 836 bom con M74, sử dụng để tiêu diệt sinh lực và phương tiện của đối phương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thiết kế ban đầu cũng từng tính đến phương án trang bị đầu đạn vũ khí hóa học, nhưng chương trình này đã bị hủy bỏ vào năm 1970.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Dẫn đường, dẫn hướng và điều khiển ===&lt;br /&gt;
Tên lửa Lance được trang bị hệ thống dẫn đường quán tính đơn giản, sử dụng các cảm biến để theo dõi chuyển động của tên lửa và so sánh với vị trí xuất phát đã biết nhằm dẫn tên lửa đến mục tiêu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong quá trình bay, tên lửa được ổn định bằng chuyển động quay quanh trục (&amp;#039;&amp;#039;spin stabilization&amp;#039;&amp;#039;) nhằm nâng cao độ chính xác, đạt [[sai số vòng tròn xác suất]] (CEP) khoảng 150 m.&amp;lt;ref name=&amp;quot;:0&amp;quot; /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Động cơ ===&lt;br /&gt;
Lance sử dụng nhiên liệu lỏng có thể bảo quản lâu dài.&amp;lt;ref name=&amp;quot;:0&amp;quot; /&amp;gt; Động cơ của tên lửa có cấu hình khá đặc biệt: động cơ hành trình cỡ nhỏ được đặt bên trong động cơ tăng tốc hình vành khăn&amp;lt;ref name=&amp;quot;Manley&amp;quot;&amp;gt;[https://www.youtube.com/watch?v=Ehp2Y_JWVO8 A Rocket Engine Inside Another Rocket Engine - The Lance Missile] - [[Scott Manley]]&amp;lt;/ref&amp;gt; Tên lửa có thể đạt tốc độ lớn hơn Mach 3 và có tầm bắn tối đa 129 km.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Bệ phóng và trang bị hỗ trợ ===&lt;br /&gt;
Một khẩu đội Lance (gồm hai đơn vị hỏa lực) bao gồm:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* 2 xe mang phóng M752, mỗi xe mang 1 tên lửa.&lt;br /&gt;
* 2 xe tiếp đạn M688, mỗi xe mang 2 tên lửa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy, tổng cộng một khẩu đội có 6 tên lửa. Tốc độ bắn của mỗi đơn vị hỏa lực đạt khoảng 3 tên lửa mỗi giờ.&amp;lt;ref name=&amp;quot;:0&amp;quot; /&amp;gt; Ngoài tên lửa Lance, các xe mang phóng M752 còn có thể mang và phóng tên lửa MGR-1 Honest John thông qua một bộ thiết bị chuyển đổi chuyên dụng, nhằm tăng tính linh hoạt trong tác chiến tùy theo yêu cầu của chiến trường.&amp;lt;ref name=&amp;quot;modernUSA&amp;quot; /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Các nước từng trang bị==&lt;br /&gt;
[[File:MGM-52 operators.png|thumb|400px|Các nước từng vận hành MGM-52 Lance]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{USA}} [[Lục quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
*Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Pháo binh Dã chiến số 12 (1973–1992), Fort Sill, Oklahoma.&amp;lt;ref name=modernUSA/&amp;gt;&lt;br /&gt;
*Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Pháo binh Dã chiến số 32 (1975–1991), Hanau, Đức.&lt;br /&gt;
*Tiểu đoàn 6, Trung đoàn Pháo binh Dã chiến số 33 (1975–1987); năm 1987 được đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 6, Trung đoàn Pháo binh Dã chiến số 32 (1987–1991), Fort Sill, Oklahoma.&amp;lt;ref&amp;gt;{{cite web|url=http://www.globalsecurity.org/military/agency/army/6-32fa.htm|title = 6th Battalion, 32nd Field Artillery Regiment}}&amp;lt;/ref&amp;gt; (Một khẩu đội được triển khai tiền phương tại Hàn Quốc.)&amp;lt;ref&amp;gt;{{cite web |url=http://wiley2-5fa.com/favorite.htm#lance |title=2/5FA |access-date=28 October 2012 |archive-url=https://web.archive.org/web/20120103131713/http://wiley2-5fa.com/favorite.htm#lance |archive-date=3 January 2012 |url-status=dead }}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
*Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Pháo binh Dã chiến số 42 (1974–1987); năm 1987 được đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 4, Trung đoàn Pháo binh Dã chiến số 12 (1987–1991), Crailsheim, Đức.&lt;br /&gt;
*Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Pháo binh Dã chiến số 79 (1974–1986); năm 1986 được đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Pháo binh Dã chiến số 32 (1986–1991), Giessen, Đức.&lt;br /&gt;
*Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Pháo binh Dã chiến số 80 (1974–1987); năm 1987 được đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Pháo binh Dã chiến số 12 (1987–1991), Aschaffenburg, Đức.&lt;br /&gt;
*Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Pháo binh Dã chiến số 333 (1973–1986); năm 1986 được đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Pháo binh Dã chiến số 32 (1986–1992), Wiesbaden, Đức.&lt;br /&gt;
*Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Pháo binh Dã chiến số 377 (1974–1987); năm 1987 được đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Pháo binh Dã chiến số 12 (1987–1992), Herzogenaurach, Đức.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{UK}} &lt;br /&gt;
*&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Trung đoàn Tên lửa số 50, Pháo binh Hoàng gia&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;. Đơn vị này giải thể và loại bỏ toàn bộ vũ khí vào năm 1993.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{ISR}} &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{NLD}} &lt;br /&gt;
*Tiểu đoàn Pháo binh số 129 (1979–1992).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{BEL}} &lt;br /&gt;
*Tiểu đoàn Pháo binh số 3 (1977-1992)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{ITA}} &lt;br /&gt;
* Lữ đoàn Tên lửa số 3 &amp;quot;Aquileia&amp;quot; (đến năm 1991); từ năm 1992 đến năm 2001 được tổ chức lại thành Trung đoàn Tên lửa số 3.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEU}} &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Tiểu đoàn Pháo phản lực số 150.&lt;br /&gt;
* Tiểu đoàn Pháo phản lực số 250.&lt;br /&gt;
* Tiểu đoàn Pháo phản lực số 350.&lt;br /&gt;
* Tiểu đoàn Pháo phản lực số 650.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Xem thêm==&lt;br /&gt;
* [[UUM-125 Sea Lance]] – tên lửa phóng từ tàu ngầm của Hoa Kỳ có tên gọi tương tự, nhưng không có liên quan đến tên lửa MGM-52 Lance.&lt;br /&gt;
* [[Pluton (missile)|Pluton]], tên lửa đạn đạo chiến thuật mang đầu đạn hạt nhân của Pháp, được phóng từ xe mang phóng tự hành.&lt;br /&gt;
* [[List of missiles]]&lt;br /&gt;
* [[M-numbers]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tham khảo==&lt;br /&gt;
{{Reflist}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Liên kết ngoài==&lt;br /&gt;
{{Commons}}&lt;br /&gt;
*[https://www.youtube.com/watch?v=YUbMsD9uSkA Video of Lance missiles being launched by British Army in 1992 – #1]&lt;br /&gt;
*[https://www.youtube.com/watch?v=vZkAdQzmCWE Video of British Army Lance launches in 1992 – #2]&lt;br /&gt;
*[https://www.youtube.com/watch?v=ik6Kp-7h7GI&amp;amp;mode=related&amp;amp;search= Video of British Army Lance launches in 1992 – #3]&lt;br /&gt;
*[https://web.archive.org/web/20060221234107/http://www.redstone.army.mil/history/lance/welcome.html Redstone Arsenal History] – Lance&lt;br /&gt;
*[http://www.herzobase.org Herzobase.org] – Lance Missile base in Germany&lt;br /&gt;
*[http://www.designation-systems.net/dusrm/m-52.html Designation Systems Article]&lt;br /&gt;
*[https://web.archive.org/web/20110910043644/http://www.brookings.edu/projects/archive/nucweapons/lance.aspx Brookings Institution photos and data]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{US missiles}}&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>~2026-41272-59</name></author>
	</entry>
</feed>