<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=Ng%C3%B4_Quang_Tr%C6%B0%E1%BB%9Fng</id>
	<title>Ngô Quang Trưởng - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=Ng%C3%B4_Quang_Tr%C6%B0%E1%BB%9Fng"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=Ng%C3%B4_Quang_Tr%C6%B0%E1%BB%9Fng&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-07T12:39:08Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=Ng%C3%B4_Quang_Tr%C6%B0%E1%BB%9Fng&amp;diff=16004&amp;oldid=prev</id>
		<title>~2026-41459-90: /* Quân đội Quốc gia Việt Nam */</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=Ng%C3%B4_Quang_Tr%C6%B0%E1%BB%9Fng&amp;diff=16004&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-07-26T08:35:03Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;span class=&quot;autocomment&quot;&gt;Quân đội Quốc gia Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{{Viên chức&lt;br /&gt;
| tên = Ngô Quang Trưởng&lt;br /&gt;
| hình = [[Hình: Lt. Gen. Ngo Quang Truong (ca. 1972).jpg|200px]]&lt;br /&gt;
| cỡ hình = &lt;br /&gt;
| miêu tả = Ngô Quang Trưởng năm 1972&lt;br /&gt;
| chức vụ = [[Hình: QD I VNCH.jpg|22px]]&amp;lt;br&amp;gt;Tư lệnh [[Quân đoàn I (Việt Nam Cộng hòa)|Quân đoàn I]]&lt;br /&gt;
| bắt đầu = 5/1972&lt;br /&gt;
| kết thúc = 29/3/1975&lt;br /&gt;
| trưởng chức vụ = Cấp bậc&lt;br /&gt;
| trưởng viên chức = Trung tướng&lt;br /&gt;
| tiền nhiệm = [[Hoàng Xuân Lãm]]&lt;br /&gt;
| kế nhiệm = &amp;#039;&amp;#039;Quân đoàn thất thủ&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
| địa hạt = [[Quân đoàn I (Việt Nam Cộng hòa)|Quân đoàn I]]&lt;br /&gt;
| phó chức vụ = Tư lệnh phó&lt;br /&gt;
| phó viên chức = {{hlist|[[Lâm Quang Thi]] &amp;#039;&amp;#039;(Tư lệnh phó 1)&amp;#039;&amp;#039;|[[Hoàng Văn Lạc]] &amp;#039;&amp;#039;(Tư lệnh phó 2)&amp;#039;&amp;#039;|Hoàng Mạnh Đáng &amp;#039;&amp;#039;(Tham mưu truỏng)&amp;#039;&amp;#039;}}&lt;br /&gt;
| chức vụ 2 = [[Hình: QD IV VNCH.jpg|22px]]&amp;lt;br&amp;gt;Tư lệnh [[Quân đoàn IV (Việt Nam Cộng hòa)|Quân đoàn IV]]&lt;br /&gt;
| bắt đầu 2 = 8/1970&lt;br /&gt;
| kết thúc 2 = 5/1972&lt;br /&gt;
| trưởng chức vụ 2 = Cấp bậc&lt;br /&gt;
| trưởng viên chức 2 = {{hlist|Thiếu tướng|Trung tướng (11/1971)}}&lt;br /&gt;
| tiền nhiệm 2 = [[Ngô Du|Ngô Dzu]]&lt;br /&gt;
| kế nhiệm 2 = [[Nguyễn Vĩnh Nghi]]&lt;br /&gt;
| địa hạt 2 = [[Quân đoàn IV (Việt Nam Cộng hòa)|Quân đoàn IV]]&lt;br /&gt;
| chức vụ 3 = [[Hình: ARVN 1st Division SSI.svg|22px]]&amp;lt;br&amp;gt;Tư lệnh [[Sư đoàn 1 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa]]&lt;br /&gt;
| bắt đầu 3 = 6/1966&lt;br /&gt;
| kết thúc 3 = 8/1970&lt;br /&gt;
| trưởng chức vụ 3 = Cấp bậc&lt;br /&gt;
| trưởng viên chức 3 = {{hlist|Đại tá|Chuẩn tướng (2/1967)|Thiếu tướng (6/1968)}}&lt;br /&gt;
| tiền nhiệm 3 = [[Phan Xuân Nhuận]]&lt;br /&gt;
| kế nhiệm 3 = [[Phạm Văn Phú]]&lt;br /&gt;
| địa hạt 3 = [[Quân đoàn I (Việt Nam Cộng hòa)|Vùng I Chiến thuật]]&lt;br /&gt;
| chức vụ 4 = [[Hình: Vietnamese Airborne Division &amp;#039;s Insignia.svg|22px]]&amp;lt;br&amp;gt;Tư lệnh phó Sư đoàn [[Binh chủng Nhảy dù Việt Nam Cộng hòa|Nhảy dù]]&lt;br /&gt;
| bắt đầu 4 = 1/1966&lt;br /&gt;
| kết thúc 4 = 6/1966&lt;br /&gt;
| trưởng chức vụ 4 = Cấp bậc&lt;br /&gt;
| trưởng viên chức 4 = {{hlist|Trung tá|Đại tá (6/1966)}}&lt;br /&gt;
| địa hạt 4 = [[Biệt khu Thủ đô]]&lt;br /&gt;
| phó chức vụ 4 = Tư lệnh Sư đoàn&lt;br /&gt;
| phó viên chức 4 = [[Dư Quốc Đống]]&lt;br /&gt;
| chức vụ 5 = [[Hình: Vietnamese Airborne Division &amp;#039;s Insignia.svg|22px]]&amp;lt;br&amp;gt;Tham mưu trưởng Lữ đoàn Nhảy dù&amp;lt;br&amp;gt;(từ 1/12/1965 thành Sư đoàn)&lt;br /&gt;
| bắt đầu 5 = 4/1965&lt;br /&gt;
| kết thúc 5 = 1/1966&lt;br /&gt;
| trưởng chức vụ 5 = Cấp bậc&lt;br /&gt;
| trưởng viên chức 5 = [[Trung tá]]&lt;br /&gt;
| địa hạt 5 = [[Biệt khu Thủ đô]]&lt;br /&gt;
| phó chức vụ 5 = Tư lệnh Lữ đoàn&lt;br /&gt;
| phó viên chức 5 = [[Dư Quốc Đống]]&lt;br /&gt;
| chức vụ 6 = [[Hình: Vietnamese Airborne Division &amp;#039;s Insignia.svg|22px]]&amp;lt;br&amp;gt;Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 [[Binh chủng Nhảy dù Việt Nam Cộng hòa|Nhảy dù]]&lt;br /&gt;
| bắt đầu 6 = 7/1963&lt;br /&gt;
| kết thúc 6 = 4/1965&lt;br /&gt;
| trưởng chức vụ 6 = Cấp bậc&lt;br /&gt;
| trưởng viên chức 6 = {{hlist|Đại úy (1/1961)|Thiếu tá (2/1964)|Trung tá (4/1965)}}&lt;br /&gt;
| tiền nhiệm 6 = [[Hồ Tiêu]]&lt;br /&gt;
| địa hạt 6 = [[Biệt khu Thủ đô]]&lt;br /&gt;
| quốc tịch = {{flagcountry|US|1960}}&amp;lt;br&amp;gt;{{flag|Việt Nam Cộng hòa}} (&amp;#039;&amp;#039;Đã sụp đổ&amp;#039;&amp;#039;)&lt;br /&gt;
| nguyên nhân mất = Tuổi già&lt;br /&gt;
| nơi ở = [[Falls Church, Virginia]], [[Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
| nghề nghiệp = Quân nhân&lt;br /&gt;
| dân tộc = [[Người Việt|Kinh]]&lt;br /&gt;
| tôn giáo = không&lt;br /&gt;
| vợ = Nguyễn Tường Nhung&lt;br /&gt;
| họ hàng = [[Thạch Lam]] (cha vợ)&lt;br /&gt;
| con = 4 người con&lt;br /&gt;
| học vấn = [[Tú tài I và II|Tú tài bán phần]]&lt;br /&gt;
| học trường = Trường Trung học Pháp ngữ tại Cần Thơ&amp;lt;br&amp;gt;[[Trường Bộ binh Thủ Đức|Trường Sĩ quan Trù bị Thủ Đức]]&amp;lt;br&amp;gt;Trung tâm Huấn luyện Nhảy dù Bà Quẹo, [[Gia Định]]&lt;br /&gt;
| quê quán = &lt;br /&gt;
| ngày sinh = [[13 tháng 12]] năm [[1929]]&lt;br /&gt;
| ngày mất = {{ngày mất và tuổi|2007|1|22|1929|12|13|df=yes}}&lt;br /&gt;
| nơi sinh = [[Thạnh Phong]], [[Thạnh Phú]], [[Bến Tre (tỉnh)|Bến Tre]], [[Nam Kỳ]], [[Liên bang Đông Dương]]&lt;br /&gt;
| nơi mất = [[Falls Church, Virginia]], [[Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
| phục vụ = [[Hình: Flag of South Vietnam.svg|22px]] [[Việt Nam Cộng hòa]]&lt;br /&gt;
| thuộc = [[Hình: Flag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg|22px]] [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa]]&lt;br /&gt;
| năm phục vụ = [[1953]]–[[1975]]&lt;br /&gt;
| cấp bậc = [[Hình: US-O9 insignia.svg|48px]] [[Trung tướng]]&lt;br /&gt;
| đơn vị = [[Hình: Vietnamese Airborne Division &amp;#039;s Insignia.svg|20px]] [[Binh chủng Nhảy dù Việt Nam Cộng hòa|Binh chủng Nhảy dù]]&amp;lt;br&amp;gt;[[Hình: ARVN 1st Division SSI.svg|20px]] [[Sư đoàn 1 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Sư đoàn 1 Bộ binh]]&amp;lt;br&amp;gt;[[Hình: QD IV VNCH.jpg|20px]] [[Quân đoàn IV (Việt Nam Cộng hòa)|Quân đoàn IV và QK 4]]&amp;lt;br&amp;gt;[[Hình: QD I VNCH.jpg|20px]] [[Quân đoàn I (Việt Nam Cộng hòa)|Quân đoàn I và QK 1]]&lt;br /&gt;
| chỉ huy = [[Hình: Flag of the Vietnamese National Army.svg|20px]] [[Quân đội Quốc gia Việt Nam|Quân đội Quốc gia]]&amp;lt;br/&amp;gt;[[Hình: Flag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg|20px]] [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa]]&lt;br /&gt;
| tham chiến = [[Chiến tranh Việt Nam]]&lt;br /&gt;
| tiền tố = [[Trung tướng]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Ngô Quang Trưởng&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; ([[13 tháng 12]] năm [[1929]] – 22 tháng 1 năm [[2007]]) là một cựu [[Trung tướng Quân lực Việt Nam Cộng hòa]]. Xuất thân từ những khóa đầu tại trường Sĩ quan Trừ bị của [[Quốc gia Việt Nam]], ông có hơn 12 năm phục vụ trong [[Binh chủng Nhảy dù Việt Nam Cộng hòa|Binh chủng Nhảy dù]]. Năm [[1972]], ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh [[Quân đoàn I (Việt Nam Cộng hòa)|Quân đoàn I]], là chỉ huy cao nhất trong trận đánh tái chiếm Thành cổ [[Quảng Trị]]. Năm [[1975]], Quân đoàn I do ông chỉ huy thất bại nhanh chóng do bị rút Sư đoàn Dù về [[Sài Gòn]] theo lệnh của Tổng thống [[Nguyễn Văn Thiệu]] cộng thêm việc tinh thần binh sĩ ở vùng hỏa tuyến hoang mang khi [[Thủy quân lục chiến Việt Nam Cộng hòa|Sư đoàn Thủy quân lục chiến]] rút khỏi [[Quảng Trị]] trong [[Chiến dịch Huế - Đà Nẵng|Chiến dịch Huế – Đà Nẵng]]. Dù tuyên bố cứng rắn &amp;#039;&amp;#039;“Việt cộng phải bước qua xác tôi mới vào được Cố đô Huế”&amp;#039;&amp;#039;, nhưng ngày [[29 tháng 3]] năm [[1975]], ông và một số tướng lãnh đã bỏ Sở chỉ huy, bơi ra tàu hải quân neo đậu ngoài khơi [[Đà Nẵng]] để vào [[Sài Gòn (thành phố)|Sài Gòn]], sau đó di tản sang [[Hoa Kỳ|Mỹ]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tiểu sử và Binh nghiệp==&lt;br /&gt;
Ông sinh vào tháng 12 năm 1929 trong một gia đình đại điền chủ giàu có tại xã [[Thạnh Phong]], huyện [[Thạnh Phú (huyện)|Thạnh Phú]], tỉnh [[Bến Tre (tỉnh)|Bến Tre]] (nay là xã [[Thạnh Phong]], tỉnh [[Vĩnh Long]]), miền Tây Nam phần Việt Nam.&amp;lt;ref&amp;gt;Thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa, Tổng thống [[Ngô Đình Diệm]] đổi tên tỉnh Bến Tre thành Kiến Hòa, Tỉnh lỵ là Trúc Giang.&amp;lt;/ref&amp;gt; Do gia đình có điều kiện kinh tế nên ông có được trình độ học vấn căn bản. Năm 1948, ông tốt nghiệp phổ thông Trung học chương trình Pháp tại Cần Thơ với văn bằng Tú tài I (Part I). Sau đó được bổ dụng làm Công chức ngoại ngạch tại Mỹ Tho một thời gian trước khi gia nhập Quân đội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===Quân đội Quốc gia Việt Nam===&lt;br /&gt;
Tháng 10 năm 1953, thi hành theo lệnh động viên của Quốc trưởng [[Bảo Đại]] ông nhập ngũ vào [[Quân đội Quốc gia Việt Nam]], mang số quân: 49/100.012. Theo học khóa 4 Cương Quyết tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, khai giảng ngày 7 tháng 11 năm 1953. Ngày 1 tháng 6 năm 1954, mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc [[Thiếu úy]].&amp;lt;ref&amp;gt;Năm 1951, Chính phủ Quốc gia Việt Nam mở ra 2 cơ sở huấn luyện quân sự cấp trung, tiếp nhận thí sinh từ 3 miền Bắc-Trung-Nam với mục đích đào tạo sĩ quan trừ bị phục vụ cho Quân đội Quốc gia. Ở miền Bắc đặt cơ sở ở tỉnh Nam Định được gọi là trường &amp;quot;Sĩ quan Trừ bị Nam Định&amp;quot;, miền Nam đặt cơ sở tại Thủ Đức thuộc tỉnh Gia Định được gọi là trường &amp;quot;Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức&amp;quot;. Cả hai trường đều khai giảng khóa học đầu tiên cùng một thời điểm. Tuy nhiên, trường Sĩ quan Nam Định chỉ đào tạo duy nhất một khóa đặt tên là khóa Lê Lợi. Sau đó tất cả thí sinh trên toàn quốc được tiếp nhận để đào tạo tại trường Sĩ quan Thủ Đức. Hai khóa đầu của trường Nam Định-Thủ Đức và các khóa: 2, 3, 3p, 4, 4p, 5 của trường Thủ Đức, sĩ quan tốt nghiệp được mang cấp bậc Thiếu úy theo quy chế hiện dịch đồng thời được lên cấp tướng giống như sĩ quan tốt nghiệp ở trường Võ bị. Từ khóa 6 trở về sau, sĩ quan tốt nghiệp theo quy chế trừ bị chỉ mang cấp bậc Chuẩn úy và được thăng đến cấp cao nhất là Đại tá, ngoại trừ trường hợp được xét thi chuyển qua ngạch hiện dịch.&amp;lt;/ref&amp;gt; Ra trường, ông tình nguyện gia nhập Binh chủng Nhảy dù, được tiếp tục theo học khoá huấn luyện căn bản Nhảy dù tại Trung tâm Huấn luyện Nhảy dù Bà Quẹo, Tân Sơn Nhứt, Gia Định.&amp;lt;ref&amp;gt;Cùng theo học khóa căn bản Nhảy Dù với Thiếu úy Trưởng còn có các tân Thiếu úy:&amp;lt;br /&amp;gt;-[[Lê Quang Lưỡng]] (SN 1932, Võ khoa Thủ Đức K4, chức vụ sau cùng: Chuẩn tướng Tư lệnh Sư đoàn Nhảy dù)&amp;lt;br /&amp;gt;-[[Vũ Văn Giai]] (SN 1934, Võ bị Đà Lạt K10, sau cùng: Chuẩn tướng Tư lệnh Sư đoàn 3 Bộ binh)&amp;lt;br /&amp;gt;-[[Nguyễn Đức Huy (Đại tá, Quân lực Việt Nam Cộng hòa)|Nguyễn Đức Huy]] (Sinh năm 1933 tại Bắc Ninh, tốt nghiệp s10 Võ bị Đà Lạt. Cấp bậc sau cùng: Đại tá Trưởng phòng 4 Sư đoàn Nhảy dù)&amp;lt;br /&amp;gt;-[[Nguyễn Đình Vinh (Đại tá, Quân lực Việt Nam Cộng hòa)|Nguyễn Đình Vinh]] (Sinh năm 1935 tại Đà Lạt, tốt nghiệp khóa 10 Võ bị Đà Lạt. Cấp bậc sau cùng: Đại tá Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn IV).&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tháng 7 năm 1954 (có thể tháng 05 mới đúng - vì ngày 07/05 Điện Biên Phủ đã đầu hàng rồi...), mãn khóa căn bản Nhảy dù ông được điều về làm Trung đội trưởng trong Tiểu đoàn 5 Nhảy dù dưới quyền Đại úy [[Phạm Văn Phú]]&amp;lt;ref&amp;gt;Trong trận giao tranh với Việt Minh tại Điện Biên Phủ, Đại úy Phú bị bắt làm tù binh cho đến tháng 9 năm 1955 mới được trao trả về với Quân đội Quốc gia. Sau cùng là Thiếu tướng Tư lệnh Quân đoàn II, tự sát ngày 30 tháng 4 năm 1975.&amp;lt;/ref&amp;gt; Khi [[Chiến dịch Điện Biên Phủ|trận Điện biên phủ]] đang diễn ra, đơn vị của ông được phân công nhảy dù xuống mặt trận để tăng viện cho quân đồn trú Pháp. Tuy nhiên, đơn vị chưa kịp điều động thì Điện biên phủ thất thủ, ông tránh được việc bị bắt làm tù binh như Đại úy Phạm Văn Phú.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===[[Quân lực Việt Nam Cộng hòa]]===&lt;br /&gt;
Đầu năm 1955, ông được cử làm Đại đội trưởng Đại đội 1 của Tiểu đoàn 5 Nhảy dù. Tháng 5, ông bị thương trong trận đánh quân Bình Xuyên tại Sài Gòn. Sau khi [[Quân đội Quốc gia Việt Nam]] đổi tên thành [[Quân đội Việt Nam Cộng hòa]]. Tháng 10 cùng năm, ông được đặc cách thăng cấp [[Trung úy]] tại nhiệm. Đến đầu năm 1961, ông được thăng cấp [[Đại úy]] và được cử làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 5 Nhảy dù. Tháng 7 năm 1963 ông lên làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 thay thế Thiếu tá [[Hồ Tiêu (Đại tá, Quân lực Việt Nam Cộng hòa)|Hồ Tiêu]].&amp;lt;ref&amp;gt;Thiếu tá Hồ Tiêu sinh năm 1922 tại Quảng Trị, tốt nghiệp khóa 2 trường Võ bị Địa phương Trung Việt (Huế). Sau cùng là Đại tá Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt&amp;lt;/ref&amp;gt; Tháng 2 năm 1964, sau [[Cuộc chỉnh lý tại Việt Nam Cộng hòa 1964|Cuộc Chỉnh lý nội bộ]] của tướng [[Nguyễn Khánh]], ông được thăng cấp [[Thiếu tá]] tại nhiệm.&amp;lt;ref&amp;gt;Năm 1964, Tiểu đoàn 5 do ông chỉ huy trực thăng vận nhảy vào mật khu Đỗ Xá, thuộc quận Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi, phá vỡ một căn cứ Bộ Tư lệnh Mặt trận B1 của Mặt Trận Dân tộc giải phóng miền Nam, tịch thu 160 súng đủ loại. Một thời gian sau đơn vị ông lại được trực thăng vận nhảy vào mật khu Hắc Dịch, thuộc vùng núi ông Trinh, tỉnh Phước Tuy, căn cứ của Công trường 7 (F.7 của quân giải phóng). Sau hai ngày chạm súng, đơn vị của ông tuyên bố đã gây thiệt hại nặng cho hai Trung đoàn thuộc Công trường 7.&amp;lt;/ref&amp;gt; Tháng 4 năm 1965, nhờ những thành tích chỉ huy chiến đấu, ông được đặc cách thăng cấp [[Trung tá]] được cử giữ chức vụ Tham mưu trưởng Lữ đoàn Nhảy dù, do Chuẩn tướng [[Dư Quốc Đống]] Tư lệnh Lữ đoàn.&amp;lt;ref&amp;gt;Trong năm 1965, Lữ đoàn Nhảy dù với 2 Chiến đoàn gồm 5 Tiểu đoàn đã mở cuộc hành quân Thần Phong 7 cùng với Sư đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ đặt dưới quyền điều động của Quân đoàn II, tham gia chiến dịch Trường Chinh tại Pleiku do Quân đoàn II phát động.&amp;lt;br/&amp;gt; Cuối năm 1965, Lữ đoàn Nhảy dù được nâng lên thành cấp Sư đoàn, sau khi đã tổ chức và trang bị hoàn chỉnh thành 3 Chiến đoàn trực thuộc.&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đầu năm 1966, ông được cử giữ chức Tư lệnh phó Sư đoàn Nhảy dù vẫn Chuẩn tướng [[Dư Quốc Đống]] làm Tư lệnh. Sau vụ &amp;quot;biến động miền Trung&amp;quot;. Ngày Quân lực 19 tháng 6 cùng năm, ông được thăng cấp [[Đại tá]] tại nhiệm. Sau đó, ông chuyển sang đơn vị Bộ binh được bổ nhiệm làm Tư lệnh [[Sư đoàn 1 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Sư đoàn 1]] thay thế Chuẩn tướng [[Phan Xuân Nhuận]] (bị cách chức vì liên can đến vụ biến động miền Trung).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đầu năm 1967, các đơn vị thuộc Sư đoàn 1 do ông chỉ huy, gồm Đại đội Hắc Báo Trinh sát, cùng Chi Đoàn 2/7 Thiết vận xa M.113 và Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù tăng phái do Thiếu tá [[Nguyễn Thế Nhã (Đại tá, Quân lực Việt Nam Cộng hòa)|Nguyễn Thế Nhã]]&amp;lt;ref&amp;gt;Thiếu tá Nhã sau thăng cấp Trung tá. Năm 1974 tử trận được truy thăng Đại tá.&amp;lt;/ref&amp;gt; chỉ huy. Tấn công và phá vỡ hạ tầng cơ sở của lực lượng du kích địa phương trên 3 địa danh: Lương Cổ, Đồng Xuyên, Mỹ Xá thuộc quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Sau trận này ông được đặc cách thăng cấp [[Chuẩn tướng]] vào ngày 4 tháng 2 cùng năm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1968, Sư đoàn 1 và Chiến Đoàn I Nhảy Dù (gồm các Tiểu đoàn 2, 7 và 9) tăng phái do Trung tá [[Lê Quang Lưỡng]] chỉ huy đã tham chiến cùng với quân đội Hoa Kỳ tại [[Huế]] trong 26 ngày (từ 30 tháng 1 đến 24 tháng 2). Trong 1 tháng, các đơn vị này cùng quân Mỹ giao chiến ác liệt, đẩy bật các đơn vị xung kích của phía đối phương là Quân Giải phóng miền Nam&amp;lt;ref&amp;gt;Các đơn vị của Quân Giải phóng miền Nam gồm: Đoàn 5 có các Tiểu đoàn K4A, K4B, TĐ 12 đặc công nội thành, Thành Đoàn Huế. Đoàn 6 gồm các Tiểu đoàn K41, K6, Tiểu đoàn 13 Đặc công nội thành Huế, các Đại đội Đặc công 15, 16, 17, 18 tăng cường thêm một Đại đội súng Phòng không 37mm, hai Đại đội Du kích quận Hương Trà, Phong Điền, hai Đại đội Biệt động nội thành Huế và hai Tiểu đoàn 416, 418 thuộc Đoàn 9 Cù Chính Lan.&amp;lt;/ref&amp;gt; Sau trận [[Tết Mậu Thân]], đầu tháng 6 cùng năm, ông được đặc cách thăng cấp [[Thiếu tướng]] tại nhiệm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trung tuần tháng 8 năm 1970, ông nhận lệnh bàn giao Sư đoàn 1 Bộ binh lại cho Chuẩn tướng [[Phạm Văn Phú]] để chuyển sang chức vụ Tư lệnh Quân đoàn IV và Quân khu 4 thay thế Thiếu tướng [[Ngô Du|Ngô Dzu]] chuyển ra Cao nguyên miền Trung giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn II và Quân khu 2. Ngày Quốc khánh Đệ nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1971, ông được thăng cấp [[Trung tướng]] tại nhiệm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cuối tháng 3 năm 1972, quân Giải phóng tấn công lớn ở Quảng Trị, khu vực do tướng Hoàng Xuân Lãm phụ trách. Chỉ sau 1 tháng, phòng tuyến ở đây tan vỡ, QLVNCH bị tổn thất nặng. Tại Sài Gòn, đại tướng Mỹ [[Creighton Abrams]] rất tức giận khi các tướng QLVNCH đổ lỗi thất bại cho việc thiếu vũ khí. Ông ta quát mắng rằng binh sĩ QLVNCH thất bại vì họ hèn nhát: &amp;#039;&amp;#039;&amp;quot;Họ không mất xe tăng vì bị quân địch phá hủy. Họ mất xe tăng vì, mẹ kiếp, họ vứt bỏ chúng.&amp;quot;&amp;#039;&amp;#039; Abrams cũng to tiếng với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: &amp;#039;&amp;#039;&amp;quot;Trang thiết bị không phải là điều các ông cần. Cái các ông cần là những sĩ quan chỉ huy và binh sĩ dám chiến đấu... Các ông đã đánh mất gần hết đại bác vì chúng bị vứt bỏ.&amp;quot;&amp;#039;&amp;#039;&amp;lt;ref&amp;gt;Vietnam. An epic tragedy 1945-1975. Max Hastings. Chapter 24, p.484&amp;lt;/ref&amp;gt; Đầu tháng 5 năm 1972, ông được lệnh bàn giao Quân đoàn IV và Quân khu 4 lại cho Thiếu tướng [[Nguyễn Vĩnh Nghi]] (nguyên Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh) để đi nhận chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu 1&amp;lt;ref&amp;gt;Vào thời điểm Trung tướng Ngô Quang Trưởng nhậm chức Tư lệnh Quân đoàn I, đã xảy ra sự mâu thuẫn giữa tướng Trưởng và hai vị tướng Tư lệnh 2 đơn vị Tổng trừ bị: [[Lê Nguyên Khang]] (Tư lệnh Sư đoàn Thủy Quân Lục chiến), [[Dư Quốc Đống]] (Tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù), vì hai vị này đã là Trung tướng thực thụ và thuộc diện tướng đàn anh của tướng Trưởng trong khi tướng Trưởng chỉ là Trung tướng nhiệm chức. Do đó, khi bị đặt dưới quyền chỉ huy của tướng Trưởng, 2 vị tướng này tỏ vẻ bất mãn (Tướng Khang lên Chuẩn tướng và Thiếu tướng năm 1964, Trung tướng năm 1966. Tướng Đống lên Chuẩn tướng năm 1965, Thiếu tướng năm 1968 và Trung tướng năm 1970. Trong khi vào thời điểm năm 1964 tướng Trưởng mới là Thiếu tá và năm 1965 mới lên Trung tá). Để giải quyết mâu thuẫn này Tổng thống Thiệu liền ký quyết định phong Trung tướng thực thụ cho tướng Trưởng. Sau đó thuyên chuyển tướng Khang về Bộ Tổng Tham mưu giữ chức vụ Tổng thanh tra Quân lực, đồng thời bổ nhiệm Đại tá Bùi Thế Lân (Tư lệnh phó) làm Tư lệnh Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Trung tuần tháng 11 năm 1972, bổ nhiệm Đại tá Lê Quang Lưỡng Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 1 Nhảy Dù đang Xử lý Thường vụ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù được chính thức làm Tư lệnh thay thế Trung tướng Đống.&amp;lt;/ref&amp;gt; thay thế Trung tướng [[Hoàng Xuân Lãm]].&amp;lt;ref&amp;gt;Tướng [[Hoàng Xuân Lãm]] bị cách chức Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu 1, được điều về Trung ương làm Phụ tá cho Tổng trưởng Quốc phòng, chỉ là một chức vụ không quan trọng giống như &amp;quot;ngồi chơi xơi nước&amp;quot; vậy.&amp;lt;/ref&amp;gt; Thời điểm này, Quân đoàn I được tăng cường toàn bộ Lực lượng Tổng trừ bị&amp;lt;ref&amp;gt;Lực lượng Tổng trừ bị gồm Sư đoàn Nhảy dù và Sư đoàn Thủy quân Lục chiến cùng các Liên đoàn Biệt Động quân là Lực lượng Tổng trừ bị của Quân khu.&amp;lt;/ref&amp;gt; của Quân lực Việt Nam Cộng hòa và được yểm trợ từ xa bởi [[Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ|Hạm đội Đệ thất]] của Hoa Kỳ ở ngoài khơi biển Đông đã giao chiến ác liệt với đối phương. 2 bên đều tổn thất lớn, Quân lực Việt Nam Cộng hòa tái chiếm được Cổ thành Quảng Trị và các phần đất ở phía nam sông Thạch Hãn, nhưng không chiếm lại được cảng Cửa Việt và nửa phía bắc tỉnh Quảng Trị.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Năm 1975==&lt;br /&gt;
[[Hình: Air Vice Marshal Ky arrives on the USS Midway.jpg|nhỏ|trái|220px|Ngô Quang Trưởng và Nguyễn Cao Kỳ khi di tản ra tàu sân bay Mỹ vào ngày 29 tháng 4 năm 1975]]&lt;br /&gt;
Tháng 3 năm 1975, khi quân Giải phóng mở chiến dịch đồng loạt tấn công miền Nam, với chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu I, Trưởng được lệnh phải giữ bằng được Huế. Trong tình hình này, ông tuyên bố: &amp;#039;&amp;#039;“Việt cộng phải bước qua xác tôi mới vào được cố đô Huế”&amp;#039;&amp;#039;. Còn Tổng thống Thiệu thì tuyên bố trên đài Sài Gòn: &amp;#039;&amp;#039;“Bỏ Kon Tum, Pleiku để bảo toàn lực lượng, còn Đà Nẵng, Huế, Quân khu 3 sẽ phải giữ đến cùng”&amp;#039;&amp;#039;.&amp;lt;ref name=baophu /&amp;gt; Nhưng sau ít lâu, có lệnh di tản Bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn I vào Đà Nẵng. Lại cộng thêm xích mích gay gắt giữa ông với Tổng thống Thiệu. Cùng lúc đó tin tức về việc bỏ Cao Nguyên cùng dòng người di tản hàng trăm ngàn người ùn ùn đổ vào Đà Nẵng khiến thành phố trở nên hoảng loạn và không thể kiểm soát được. Cộng với việc rút Sư đoàn Dù về Sài Gòn và tin đồn Tổng thống Thiệu muốn rút cả Sư đoàn Thủy quân Lục Chiến đã khiến tinh thần binh sĩ của tướng Trưởng xuống rất thấp, quan và lính tranh nhau lên máy bay, gây ra cảnh ẩu đả náo loạn. Sĩ quan, binh sĩ đưa theo gia đình tháo chạy gây ra cảnh cướp bóc, ẩu đả, bắn lẫn nhau...&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hàng vạn lính mắc kẹt tại [[Đà Nẵng]] chạy ra [[Sơn Trà|bán đảo Sơn Trà]] hòng thoát về phía nam bằng đường biển, gây ra cảnh chen lấn giẫm đạp tranh nhau xuống tàu, binh lính đạp cả sĩ quan xuống biển. Cuộc di tản hoàn toàn thất bại, tổn thất toàn bộ lực lượng quân sự và cơ giới của Quân đoàn I trong thời gian rất ngắn. Thiệt hại đáng kể nhất là việc quân đội [[Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]] mất hoàn toàn quyền kiểm soát vùng lãnh thổ có 3 triệu dân, và việc tan rã 4 Sư đoàn quân chủ lực, trong đó có hai Sư đoàn thuộc hàng thiện chiến nhất của [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa]] là [[Sư đoàn 1 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Sư đoàn 1 Bộ Binh]] và [[Thủy quân lục chiến Việt Nam Cộng hòa|Sư đoàn Thủy quân Lục chiến]], đưa đến sụp đổ toàn bộ QLVNCH một cách nhanh chóng và bất ngờ. Trong vòng 32 giờ, hơn 100.000 quân ở Đà Nẵng dưới quyền của tướng Trưởng đã hoàn toàn tan rã và đầu hàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tướng Ngô Quang Trưởng đã không giữ lời hứa &amp;#039;&amp;#039;“chết trong thành phố Huế”&amp;#039;&amp;#039;, mà tìm cách bơi ra tàu chiến đang neo ngoài khơi Đà Nẵng để thoát khỏi vòng vây.&amp;lt;ref name=baophu&amp;gt;{{Chú thích web |url=http://www.baophuyen.com.vn/76/130239/chien-dich-hue-da-nang.html |ngày truy cập=2016-05-03 |tựa đề=Bản sao đã lưu trữ |archive-date=2020-11-29 |archive-url=https://web.archive.org/web/20201129203118/http://www.baophuyen.com.vn/76/130239/chien-dich-hue-da-nang.html |url-status=dead }}&amp;lt;/ref&amp;gt; Ngày 29/3, khi tướng Trưởng đang ở trên tàu HQ-404 thì Nguyễn Văn Thiệu ra một mệnh lệnh qua điện thoại yêu cầu ông tổ chức lực lượng quay lại tái chiếm Đà Nẵng, ông từ chối nhận nhiệm vụ với lý do là binh sĩ đã mất hết tinh thần chiến đấu&amp;lt;ref&amp;gt;Lê Anh Kiệt. Tướng lĩnh Sài Gòn tự thuật. Nhà xuất bản Công an nhân dân. Hà Nội. 2003. trang 163.&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tướng Trưởng phải bơi ra tàu đang neo đậu ngoài khơi Đà Nẵng, do sóng to và tàu neo xa bờ khiến ông khi lên được tàu trong tình trạng sức khỏe kém, tàu cập bến Vũng Tàu chở theo ông và hơn 4.000 Thủy Quân Lục Chiến. Sau đó ông được chuyển vào Tổng Y Viện Cộng hòa chữa trị.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những ngày cuối tháng 4 năm 1975, một sĩ quan lục quân Mỹ từng làm việc với Ngô Quang Trưởng đã đến gặp gia đình ông và đề nghị di tản khỏi Sài Gòn trước khi Quân giải phóng từ mọi hướng đổ về làm chủ thành phố. Vợ con Ngô Quang Trưởng theo sự hướng dẫn của viên sĩ quan người Mỹ xuống tàu thủy để ra đi. Riêng Ngô Quang Trưởng, đến ngày 30/4/1975, ông di tản bằng trực thăng của tướng [[Nguyễn Cao Kỳ]] ra tàu sân bay của Hạm đội 7, rồi từ đó ông ta đến đảo Guam để đoàn tụ gia đình. Tại đây, với sự giới thiệu của tướng Cushman &amp;#039;&amp;#039;(từng là cố vấn quân sự của Mỹ tại Vùng 4 chiến thuật)&amp;#039;&amp;#039;, ông cùng người con trai bắt đầu đi học nghề nông ở một nông trại cho đến lúc chuyển đến định cư tại [[Falls Church, Virginia]] – miền Đông nước Mỹ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Gia đình và những năm tháng lưu vong==&lt;br /&gt;
Ngô Quang Trưởng cưới con gái lớn của nhà văn [[Thạch Lam]] là Nguyễn Tường Nhung. Hai người có bốn người con, sống với nhau cho đến ngày ông trút hơi thở cuối cùng lúc 3h sáng ngày 22 tháng 1 năm 2007, hưởng thọ 78 tuổi. Theo ước nguyện của ông, năm 2008 tro cốt của ông được gia đình đem về [[Việt Nam]] và được rải trên đỉnh đèo Hải Vân (ranh giới giữa hai thành phố [[Đà Nẵng]] và [[Huế]]).&amp;lt;ref&amp;gt;[https://cand.com.vn/Tu-lieu-antg/Bai-tuong-Ngo-Quang-Truong-i304060/ Bại tướng Ngô Quang Trưởng]&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Các tác phẩm quân sự==&lt;br /&gt;
Bắt đầu năm [[1979]], theo lời mời của [[Quân đội Hoa Kỳ|Trung tâm Quân sử Quân lực Hoa Kỳ]] (&amp;#039;&amp;#039;U.S. Army Center of Military History&amp;#039;&amp;#039;), ông ghi lại kinh nghiệm chiến đấu qua 3 quyển sách hiện còn lưu trữ tại trung tâm kể trên.&lt;br /&gt;
*&amp;quot;The Easter Offensive of 1972&amp;quot; (1983).&lt;br /&gt;
*&amp;quot;Territorial Forces&amp;quot; (1984).&lt;br /&gt;
*&amp;quot;RVANF and US Operational Cooperational Coordination&amp;quot; (1984).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Chú thích==&lt;br /&gt;
{{Tham khảo|30em}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tham khảo==&lt;br /&gt;
* Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). &amp;#039;&amp;#039;Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Thư mục==&lt;br /&gt;
*&amp;#039;&amp;#039;Chiến tranh Việt Nam Toàn Tập&amp;#039;&amp;#039;, Tiến sĩ Nguyễn Đức Phương, nxb Làng Văn, Canada, 2001&lt;br /&gt;
*&amp;#039;&amp;#039;Đề Cương Tuyên truyền Kỷ Niệm 60 Năm Ngày Thành Lập QĐND Việt Nam&amp;#039;&amp;#039;, Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương Đảng CSVN, Hà Nội, 2005&lt;br /&gt;
*&amp;#039;&amp;#039;Decent Interval&amp;#039;&amp;#039;, Frank Snepp, Penguin Books, New York, 1980&lt;br /&gt;
*&amp;#039;&amp;#039;Những Cột Trụ Chống Giữ Quê Hương&amp;#039;&amp;#039;, Phan Nhật Nam, nxb Nắng Mới Miền Nam, California, 2003&lt;br /&gt;
*&amp;#039;&amp;#039;Những uất hận trong trận chiến mất nước 197&amp;#039;&amp;#039;5, Đại tá Phạm Huấn, tác giả tự xuất bản, San Jose, 1988&lt;br /&gt;
*&amp;#039;&amp;#039;55 ngày &amp;amp; 55 đêm: Cuộc sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa&amp;#039;&amp;#039;, Chính Đạo, Houston: Văn hóa, 1999&lt;br /&gt;
*&amp;#039;&amp;#039;It Doesn&amp;#039;t Take a Hero&amp;#039;&amp;#039;, General H. Norman Schwarzkopf, Bantam Books, New York, 1993&lt;br /&gt;
*&amp;#039;&amp;#039;The Easter Offensive of 1972&amp;#039;&amp;#039;, Lt. General Ngo Quang Truong, U.S. Army Center of Military History, Washington, D.C. – Indochina Monograph Series, 1979&lt;br /&gt;
*&amp;#039;&amp;#039;The Siege at Hue&amp;#039;&amp;#039;, George W. Smith, Lynne Rienenr Publishing, London, 1999.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Liên kết ngoài==&lt;br /&gt;
*[http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2007/01/070122_general_truong.shtml Tướng Ngô Quang Trưởng qua đời] – BBC tiếng Việt&lt;br /&gt;
*[http://vietnam.ictglobal.net/modules.php?name=News&amp;amp;file=article&amp;amp;sid=226 Tưởng niệm Vị Tướng Của Mùa Hè Ðỏ Lửa (Phần 1)]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{thời gian sống|1929|2007}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Trung tướng Quân lực Việt Nam Cộng hòa]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Người Bến Tre]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Người Mỹ gốc Việt]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>~2026-41459-90</name></author>
	</entry>
</feed>