<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Baya_%28SS-318%29</id>
	<title>USS Baya (SS-318) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Baya_%28SS-318%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Baya_(SS-318)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-11T16:54:28Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Baya_(SS-318)&amp;diff=7737607&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;AnsterBot: (Bot) AlphamaEditor, Executed time: 00:00:01.2949396, replaced: accessdate → access-date (6)</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Baya_(SS-318)&amp;diff=7737607&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-06-25T13:03:51Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;(Bot) &lt;a href=&quot;/wiki/Th%C3%A0nh_vi%C3%AAn:AnsterBot#AlphamaEditor&quot; title=&quot;Thành viên:AnsterBot&quot;&gt;AlphamaEditor&lt;/a&gt;, Executed time: 00:00:01.2949396, replaced: accessdate → access-date (6)&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image= USS Baya (AGSS-318) in 1962.jpeg&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu ngầm USS &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; (AGSS-318), sau khi được cải biến vào năm 1962&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
|Ship country= Hoa Kỳ &lt;br /&gt;
|Ship flag= {{USN flag|1972}}&lt;br /&gt;
|Ship name= USS &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
|Ship namesake=[[Mycteroperca jordani|một loài]] thuộc [[họ Cá mú]] &amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref name=NavSource/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship ordered=&lt;br /&gt;
|Ship awarded=&lt;br /&gt;
|Ship builder= [[General Dynamics Electric Boat|Electric Boat Company]], [[Groton, Connecticut]]&amp;lt;ref name=F285304&amp;gt;{{harvnb|Friedman|1995|pp=285–304}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship original cost=&lt;br /&gt;
|Ship laid down= [[8 tháng 4]], [[1943]] &amp;lt;ref name=F285304/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship launched= [[2 tháng 1]], [[1944]] &amp;lt;ref name=F285304/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship sponsor= bà Charles C. Kirkpatrick&lt;br /&gt;
|Ship completed=&lt;br /&gt;
|Ship acquired=&lt;br /&gt;
|Ship commissioned= [[20 tháng 5]], [[1944]] &amp;lt;ref name=F285304/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship recommissioned= [[10 tháng 2]], [[1948]] &amp;lt;ref name=F285304/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship decommissioned= * [[14 tháng 5]], [[1946]] &amp;lt;ref name=F285304/&amp;gt;&lt;br /&gt;
* [[30 tháng 10]], [[1972]] &amp;lt;ref name=F285304/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship in service=&lt;br /&gt;
|Ship out of service=&lt;br /&gt;
|Ship renamed=&lt;br /&gt;
|Ship reclassified= &lt;br /&gt;
|Ship struck= [[30 tháng 10]], [[1972]] &amp;lt;ref name=F285304/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship nickname=&lt;br /&gt;
|Ship honors= 4 × [[Ngôi sao Chiến trận]] &lt;br /&gt;
|Ship captured=&lt;br /&gt;
|Ship fate= Bán để tháo dỡ, [[12 tháng 10]], [[1973]] &amp;lt;ref name=F285304/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship status=&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
|Hide header=&lt;br /&gt;
|Header caption=&lt;br /&gt;
|Ship type= [[tàu ngầm]] Diesel-điện&lt;br /&gt;
|Ship class= [[Balao (lớp tàu ngầm)|&amp;#039;&amp;#039;Balao&amp;#039;&amp;#039;]]&lt;br /&gt;
|Ship displacement=* {{convert|1526|LT|t|abbr=on}} (mặt nước)&amp;lt;ref name=B275&amp;gt;{{Harvnb|Bauer|Roberts|1991|pp=275-280}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
* {{convert|2414|LT|t|abbr=on}} (lặn)&amp;lt;ref name=B275/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship length={{convert|311|ft|9|in|m|abbr=on}} &amp;lt;ref name=B275/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship beam={{convert|27|ft|3|in|m|abbr=on}} &amp;lt;ref name=B275/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship draft={{convert|16|ft|10|in|m|abbr=on}} tối đa &amp;lt;ref name=B275/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship propulsion=* 4 × [[động cơ diesel]] [[Electro-Motive Diesel|General Motors]] Kiểu 16-278-A V16 dẫn động [[máy phát điện]]&amp;lt;ref name=B270&amp;gt;{{Harvnb|Bauer|Roberts|1991|pp=270-280}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref name=F261&amp;gt;{{harvnb|Friedman|1995|pp=261-263}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
* 2 × [[ắc quy]] 126-cell [[USS Sargo (SS-188)|&amp;#039;&amp;#039;Sargo&amp;#039;&amp;#039;]]&amp;lt;ref name=F305311/&amp;gt;&lt;br /&gt;
* 4 × [[động cơ điện]] [[General Electric]] với hộp số giảm tốc &amp;lt;ref name=B270/&amp;gt;&lt;br /&gt;
* 2 × trục chân vịt&amp;lt;ref name=B270/&amp;gt;&lt;br /&gt;
* {{convert|5400|shp|abbr=on|lk=in}} (mặt nước)&amp;lt;ref name=B270/&amp;gt;&lt;br /&gt;
* {{convert|2740|shp|abbr=on}} (lặn)&amp;lt;ref name=B270/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship speed=* {{convert|20,25|kn|km/h|lk=in}} (mặt nước)&amp;lt;ref name=F305311&amp;gt;{{harvnb|Friedman|1995|pp=305–311}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
* {{convert|8,75|kn|km/h}} (lặn)&amp;lt;ref name=F305311/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship range= {{convert|11000|nmi|km}} trên mặt nước ở tốc độ {{convert|10|kn|km/h}}&amp;lt;ref name=F305311/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship endurance=* 48 giờ lặn ở tốc độ {{convert|2|kn|km/h}}&amp;lt;ref name=F305311/&amp;gt;&lt;br /&gt;
* 75 ngày (tuần tra)&lt;br /&gt;
|Ship test depth={{convert|400|ft|m|-1|abbr=on}}&amp;lt;ref name=F305311/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship complement=10 sĩ quan, 70 thủy thủ&amp;lt;ref name=F305311/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship sensors= * [[radar]] SD phòng không &amp;lt;ref name=Visual/&amp;gt;&lt;br /&gt;
* radar SJ dò tìm mặt biển &amp;lt;ref name=Visual/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship EW=&lt;br /&gt;
|Ship armament= * 10 × ống phóng [[ngư lôi]] {{convert|21|in|mm|abbr=on}} &lt;br /&gt;
** 6 trước mũi, 4 phía đuôi&lt;br /&gt;
** 24 quả ngư lôi&amp;lt;ref name=F305311/&amp;gt;&lt;br /&gt;
* 1 × [[hải pháo 5 inch/25 caliber]]&amp;lt;ref name=F305311/&amp;gt;&amp;lt;ref name=Lenton/&amp;gt;&lt;br /&gt;
* 1 × pháo phỏng không [[Bofors 40mm]]&lt;br /&gt;
* 1 × pháo phỏng không [[Oerlikon 20mm]]&lt;br /&gt;
* 2 × súng máy [[Browning M2]] &amp;lt;ref name=Lenton&amp;gt;{{Harvnb|Lenton|1973|p=79}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship notes=&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;USS &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; (SS/AGSS-318)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; là một {{sclass|Balao|tàu ngầm|2}} từng phục vụ cùng [[Hải quân Hoa Kỳ]] trong [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]]. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt cái tên này, theo tên [[Mycteroperca jordani|một loài]] thuộc [[họ Cá mú]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref name=NavSource/&amp;gt; Nó đã phục vụ trong suốt Thế Chiến II, thực hiện tổng cộng năm chuyến tuần tra, đánh chìm bốn tàu Nhật Bản với tổng tải trọng 8.855 tấn.&amp;lt;ref name=JANAC/&amp;gt; Được cho ngừng hoạt động sau khi xung đột chấm dứt vào năm [[1946]], nó được huy động trở lại để tiếp tục phục vụ trong cuộc [[Chiến tranh Lạnh]] từ năm [[1948]] đến năm [[1972]], và xếp lại lớp như một tàu ngầm thử nghiệm phụ trợ &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;AGSS-318&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;. Con tàu cuối cùng bị bán để tháo dỡ vào năm [[1973]]. &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng bốn [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
{{main|Balao (lớp tàu ngầm)}} &lt;br /&gt;
Thiết kế của lớp &amp;#039;&amp;#039;Balao&amp;#039;&amp;#039; được cải tiến dựa trên {{sclass|Gato|tàu ngầm|2}} dẫn trước, là một kiểu tàu ngầm hạm đội có tốc độ trên mặt nước cao, tầm hoạt động xa và vũ khí mạnh để tháp tùng hạm đội chiến trận.&amp;lt;ref&amp;gt;{{harvnb|Friedman|1995|pp=99–104}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Khác biệt chính so với lớp &amp;#039;&amp;#039;Gato&amp;#039;&amp;#039; là ở cấu trúc lườn chịu áp lực bên trong dày hơn, và sử dụng thép có độ đàn hồi cao (HTS: High-Tensile Steel), cho phép lặn sâu hơn đến {{convert|400|ft|m|-1|abbr=on}}.&amp;lt;ref name=Visual&amp;gt;{{chú thích web | last=Johnston | first=David L. | title=A Visual Guide to the U.S. Fleet Submarines Part Three: Balao and Tench Classes 1942–1950 | date=July 2019 | url=http://navsource.org/archives/08/pdf/0829295.pdf | publisher=Navsource Naval History | access-date=ngày 27 tháng 8 năm 2022 | archive-date=2017-05-19 | archive-url=https://web.archive.org/web/20170519140110/http://navsource.org/archives/08/pdf/0829295.pdf | url-status=dead }}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref&amp;gt;{{harvnb|Friedman|1995|pp=208–209}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Con tàu dài {{convert|311|ft|9|in|m|abbr=on}} và có [[trọng lượng choán nước]] {{convert|1526|LT|t|abbr=on}} khi nổi và {{convert|2424|LT|t|abbr=on}} khi lặn.&amp;lt;ref name=B270/&amp;gt; Chúng trang bị [[động cơ diesel]] dẫn động [[máy phát điện]] để cung cấp điện năng cho bốn [[động cơ điện]],&amp;lt;ref name=B270/&amp;gt;&amp;lt;ref name=F261/&amp;gt; đạt được công suất {{convert|5400|shp|abbr=on|lk=in}} khi nổi và {{convert|2740|shp|abbr=on}} khi lặn,&amp;lt;ref name=B270/&amp;gt; cho phép đạt tốc độ tối đa {{convert|20,25|kn|km/h|lk=in}} và {{convert|8,75|kn|km/h}} tương ứng.&amp;lt;ref name=F305311/&amp;gt; Tầm xa hoạt động là {{convert|11000|nmi|km}} khi đi trên mặt nước ở tốc độ {{convert|10|kn|km/h}} và có thể hoạt động kéo dài đến 75 ngày.&amp;lt;ref name=F305311/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tương tự như lớp &amp;#039;&amp;#039;Gato&amp;#039;&amp;#039; dẫn trước, lớp &amp;#039;&amp;#039;Balao&amp;#039;&amp;#039; được trang bị mười ống phóng [[ngư lôi]] {{convert|21|in|mm|abbr=on}}, gồm sáu ống trước mũi và bốn ống phía phía đuôi tàu, chúng mang theo tối đa 24 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu gồm một [[hải pháo 4 inch/50 caliber]], một khẩu pháo phòng không [[Bofors 40 mm]] nòng đơn và một khẩu đội [[Oerlikon 20 mm]] nòng đôi, kèm theo hai [[súng máy]] [[Browning M2|.50 caliber]].&amp;lt;ref name=F305311/&amp;gt; Trên [[tháp chỉ huy]], ngoài hai [[kính tiềm vọng]], nó còn trang bị ăn-ten [[radar]] SD phòng không và SJ dò tìm mặt biển.&amp;lt;ref name=Visual/&amp;gt; Tiện nghi cho thủy thủ đoàn bao gồm [[điều hòa không khí]], thực phẩm trữ lạnh, máy lọc nước, máy giặt và giường ngủ cho hầu hết mọi người, giúp họ chịu đựng cái nóng nhiệt đới tại [[Thái Bình Dương]] cùng những chuyến tuần tra kéo dài đến hai tháng rưỡi.&amp;lt;ref&amp;gt;{{harvnb|Alden|1979|pp=48, 97}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref&amp;gt;{{harvnb|Blair|2001|p=65}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng [[Electric Boat Company]] ở [[Groton, Connecticut|Groton]], [[Connecticut]] vào ngày [[8 tháng 4]], [[1943]].&lt;br /&gt;
Nó được hạ thủy vào ngày [[2 tháng 1]], [[1944]], được đỡ đầu bởi phu nhân của Charles C. Kirkpatrick, và được cho nhập biên chế cùng Hải quân Hoa Kỳ vào ngày [[20 tháng 5]], [[1944]] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, [[Thiếu tá Hải quân]] Arnold Henry Holtz.&amp;lt;ref name=DANFS&amp;gt;{{cite DANFS | title=Baya (SS-318) | author=[[Naval Historical Center]] | url=https://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/b/baya-i.html | access-date=ngày 29 tháng 8 năm 2022}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref name=NavSource&amp;gt;{{chú thích web | last=Yarnall | first=Paul R. | title=Baya (SS-318) (AGSS-318) | url=http://www.navsource.org/archives/08/08318.htm | website=NavSource.org | access-date=ngày 29 tháng 8 năm 2022 | archive-date=2022-09-02 | archive-url=https://web.archive.org/web/20220902005946/http://www.navsource.org/archives/08/08318.htm | url-status=dead }}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref name=Uboat&amp;gt;{{chú thích web | last=Helgason | first=Guðmundur | title=Baya (SS-318) | url=https://uboat.net/allies/warships/ship/3064.html | website=uboat.net | access-date=ngày 29 tháng 8 năm 2022}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
=== 1944 ===&lt;br /&gt;
Sau khi hoàn tất việc chạy thử máy huấn luyện tại các vùng biển ngoài khơi [[New England]], &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; chuẩn bị để được điều động sang khu vực [[Mặt trận Thái Bình Dương trong Thế chiến thứ hai|Mặt trận Thái Bình Dương]]. Nó khởi hành từ Căn cứ Tàu ngầm Hải quân New London vào ngày [[25 tháng 6]], [[1944]] băng qua [[kênh đào Panama]] và đi đến [[Trân Châu Cảng]] thuộc [[quần đảo Hawaii]], nơi nó được sửa chữa và tiếp tục huấn luyện.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ nhất ====&lt;br /&gt;
Khởi hành từ Trân Châu Cảng vào ngày [[23 tháng 8]] cho chuyến tuần tra đầu tiên, &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; hoạt động trong thành phần một đội tấn công phối hợp [[Bầy sói (chiến thuật hải quân)|&amp;quot;Bầy sói&amp;quot;]] vốn bao gồm các tàu ngầm chị em {{USS|Becuna|SS-319|3}} và {{USS|Hawkbill|SS-366|3}}. Sau một chặng dừng ngắn tại [[Saipan]] thuộc [[quần đảo Mariana]] để tiếp thêm nhiên liệu, &amp;quot;Bầy sói&amp;quot; đi đến khu vực quần đảo [[Palau]] để gia nhập cùng hai đội tấn công phối hợp khác, có nhiệm vụ thu thập tin tức tình báo hỗ trợ cho [[Chiến dịch quần đảo Mariana và Palau|cuộc đổ bộ]] của lực lượng [[Khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai|Đồng Minh]] lên Palau. Họ phải chống chọi với thời tiết xáu mà không bắt gặp mục tiêu nào.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đang khi tuần tra tại khu vực [[eo biển Luzon]] vào đêm [[25 tháng 9]], &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; phải lặn xuống để né tránh bị máy bay tuần tra đối phương phát hiện. Khi nó trồi lên mặt nước 30 phút sau đó, một cơn sóng lớn bất ngờ quét qua đuôi tàu, cuốn hai sĩ quan và một hạ sĩ quan rơi xuống biển, và lầm ngập nước con tàu qua cửa hầm tháp chỉ huy. Chiếc tàu ngầm chìm xuống độ sâu {{convert|45|ft|m|adj=on}} trước khi nắp hầm đóng lại được, kiểm soát được độ sâu rồi trồi lên mặt biển và cứu vớt những người bị sóng cuốn. Nó tiến hành sửa chữa khẩn cấp trước khi tiếp tục chuyến tuần tra.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong [[biển Đông]] vào ngày [[7 tháng 10]], &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; phát hiện qua [[radar]] một tàu buôn được hai tàu hộ tống bảo vệ. &amp;#039;&amp;#039;Hawkbill&amp;#039;&amp;#039; và &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; đều biết về sự hiện diện của đồng đội trong khu vực nhưng không biết rằng cả hai đang tấn công cùng một mục tiêu. Loạt [[ngư lôi]] đầu tiên do &amp;#039;&amp;#039;Hawkbill&amp;#039;&amp;#039; phóng ra bị trượt, nhưng &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; đã đánh trúng hai quả vào chiếc tàu chở hành khách &amp;#039;&amp;#039;Kinugasa Maru&amp;#039;&amp;#039; (8.407 tấn). Sau đó &amp;#039;&amp;#039;Hawkbill&amp;#039;&amp;#039; cũng đánh trúng được hai quả ngư lôi vào đối thủ, khiến mục tiêu nổ tung và đắm tại tọa độ {{coord|14|30|N|115|48|E|display=inline}}. &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; rời khu vực biển Đông hai ngày sau đó để quay trở về căn cứ tại [[Fremantle]], [[Australia]], đến nơi vào ngày [[22 tháng 10]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ hai ====&lt;br /&gt;
Sau một đợt tái trang bị và huấn luyện ôn tập ngắn, &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; lên đường cho chuyến tuần tra thứ hai tại khu vực biển Đông, trong thành phần một đội &amp;quot;Bầy sói&amp;quot; bao gồm các tàu ngầm {{USS|Cavalla|SS-244|3}} và {{USS|Hoe|SS-258|3}}. Từ ngày [[8 tháng 12|8]] đến ngày [[10 tháng 12]], trong bốn dịp khác nhau, nó đụng độ với ba [[tau khu trục]] và một [[tàu bệnh viện]], nhưng đều không thể đi đến vị trí tấn công thuận tiện hay phải tôn trọng quy ước quốc tế. Sau đó nó hoạt động canh phòng ngoài khơi đảo [[Mindoro]] từ ngày [[14 tháng 12|14]] đến ngày [[25 tháng 12]], rồi đang khi di chuyển về phía Tây vào ngày [[27 tháng 12]], nó phát hiện hai [[tàu tuần dương hạng nặng]] cùng bốn [[tàu khu trục]] đang rút lui khỏi [[quần đảo Philippine]]. Nó phóng một loạt sáu quả ngư lôi nhắm vào chiếc tàu tuần dương đi đầu, nhưng bị trượt. Chiếc tàu ngầm rút lui về Fremantle vào ngày [[12 tháng 1]], [[1945]], nơi nó được tái trang bị và bảo trì cặp bên mạn [[tàu tiếp liệu tàu ngầm]] {{USS|Anthedon|AS-24|3}}.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1945 ===&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ ba ====&lt;br /&gt;
Lên đường vào ngày [[19 tháng 2]], [[1945]] cho chuyến tuần tra thứ ba, &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; cùng với tàu ngầm chị em {{USS|Hammerhead|SS-364|3}} đi đến khu vực tuần tra ngoài khơi [[mũi Kê Gà|mũi Varella]] tại [[Đông Dương thuộc Pháp]]. Họ không tìm thấy mục tiêu phù hợp mãi cho đến ngày [[4 tháng 3]], khi nó phát hiện qua radar một đoàn tàu vận tải bao gồm một tàu chở dầu, một tàu buôn và ba tàu hộ tống. Trong loạt sáu quả ngư lôi nó phóng ra, hai quả đã đánh trúng tàu chở dầu &amp;#039;&amp;#039;Palembang Maru&amp;#039;&amp;#039; (5.236 tấn) khiến mục tiêu nổ tung và đắm nhanh chóng tại tọa độ {{coord|12|52|N|109|30|E|display=inline}}. Hai quả ngư lôi khác cũng đã đánh trúng chiếc tàu buôn, nhưng nó không thể xác định kết quả vì phải lặn xuống né tránh sự phản công từ các tàu hộ tống.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trên đường hướng đến khu vực [[vịnh Cam Ranh]] vào ngày [[20 tháng 3]], &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; bắt gặp một con tàu đơn độc đang rời [[vịnh Phan Rang]], và đến nữa đêm đã phóng ba quả ngư lôi đánh chìm chiếc tàu rải lưới &amp;#039;&amp;#039;Kainan Maru&amp;#039;&amp;#039; (524 tấn). Đến sáng hôm sau, nó lại phóng một loạt bốn quả ngư lôi phía đuôi nhắm vào một đoàn hai tàu hộ tống và một [[tàu săn ngầm]]. Tuy nhiên tất cả đều trượt và chiếc tàu ngầm phải lặn khẩn cấp để né tránh phản công quyết liệt bằng [[mìn sâu]] từ các tàu đối phương. Chiếc tàu ngầm kết thúc chuyến tuần tra khi quay trở về căn cứ tại [[vịnh Subic]], Philippines vừa mới được giải phóng, đến nơi vào ngày [[27 tháng 3]], và được tái trang bị và bảo trì cặp bên mạn tàu tiếp liệu tàu ngầm {{USS|Howard W. Gilmore|AS-16|3}}.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ tư ====&lt;br /&gt;
Cùng với &amp;#039;&amp;#039;Cavalla&amp;#039;&amp;#039; lên đường vào ngày [[20 tháng 4]] cho chuyến tuần tra thứ tư ngoài khơi vịnh Cam Ranh, &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; đồng thời đảm nhiệm việc tìm kiếm và giải cứu hỗ trợ cho hoạt động không kích của [[tàu sân bay]] xuống [[Sài Gòn]], Đông Dương thuộc Pháp. Đến ngày [[2 tháng 5]], nó gia nhập cùng tàu ngầm chị em {{USS|Lagarto|SS-371|3}} trong [[vịnh Thái Lan]] về phía Bắc [[Singapore]], và vào đêm hôm đó bắt đầu theo dõi hai tàu chở dầu được hai tàu hộ tống bảo vệ. Các quả ngư lôi phóng ra đều bị trượt, và cuộc truy đuổi của một tàu rải mìn hộ tống cũng không có kết quả. Sang ngày hôm sau nó phối hợp với &amp;#039;&amp;#039;Lagarto&amp;#039;&amp;#039; để tiếp tục tấn công đoàn tàu, nhưng đối phương cảnh giác cao độ nên &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; không có cơ hội tiếp cận để tấn công, còn &amp;#039;&amp;#039;Lagarto&amp;#039;&amp;#039; hoàn toàn mất liên lạc do bị [[tàu rải mìn]] [[Hatsutaka (tàu rải mìn Nhật)|&amp;#039;&amp;#039;Hatsutaka&amp;#039;&amp;#039;]] đánh chìm bằng mìn sâu trong ngày hôm đó.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chuyển sang tuần tra tại vùng [[biển Java]], &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; tấn công một đoàn ba tàu buôn đang hướng đến [[Palembang]] ngoài khơi [[Rembang (huyện)|Rembang]] vào ngày [[13 tháng 5]]. Loạt sáu quả ngư lôi phóng ra nhắm vào một tàu chở dầu đã trúng đích ba quả, khiến &amp;#039;&amp;#039;Yosei Maru&amp;#039;&amp;#039; (khoảng 2.500 tấn) bị đắm sau đó. Nó tiếp tục tấn công một tàu hộ tống và một tàu chở hàng khác trước khi lặn xuống để né tránh phản công của tàu hộ tống đối phương. Chiếc tàu ngầm quay trở về Fremantle năm ngày sau đó để được tái trang bị cặp bên mạn tàu tiếp liệu khu trục {{USS|Clytie|AS-26|3}}.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ năm ====&lt;br /&gt;
Một tai nạn hỏa hoạn nhỏ tại phòng vận hành đã làm trì hoãn chuyến tuần tra tiếp theo, và sau khi được sửa chữa, &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; lên đường vào ngày [[20 tháng 6]] cho chuyến tuần tra thứ năm, cũng là chuyến cuối cùng. Thoạt tiên nó hoạt động về phía Nam [[mũi Selantan]] ở cực Nam đảo [[Kalimantan]] để hỗ trợ cho việc đổ bộ lực lượng [[Khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai|Đồng Minh]] lên [[Balikpapan]], [[Borneo]]. Vào ngày [[27 tháng 6]], nó đánh chặn một tàu rải mìn đối phương nhưng các quả ngư lôi phóng ra đều bị trượt. Sau đó trong các ngày [[29 tháng 6|29]] và [[30 tháng 6]], nó phối hợp với tàu ngầm chị em {{USS|Capitaine|SS-336|3}} tấn công năm tàu nhỏ bằng hải pháo, nhưng hỏa lực đáp trả của đối phương khá ác liệt nên họ từ bỏ ý định tấn công.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong nữa đầu [[tháng 7]], &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; phục vụ tìm kiếm và giải cứu trong biển Java hỗ trợ cho hoạt động không kích, rồi tiếp tục hoạt động tuần tra tại cùng khu vực. Vào ngày [[16 tháng 7]], nó phóng hai quả ngư lôi đánh chìm [[tàu phóng lôi]] [[Kari (tàu phóng lôi Nhật)|&amp;#039;&amp;#039;Kari&amp;#039;&amp;#039;]] (khoảng 500 tấn) thuộc [[Ōtori (lớp tàu phóng lôi)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Ōtori&amp;#039;&amp;#039;]], khi đối phương đang trên đường từ [[Surabaya]] đến [[Ambon]]. Sau khi tấn công một tàu tuần tra đối phương bằng hải pháo không có kết quả, nó được lệnh quay trở về căn cứ vào ngày [[26 tháng 7]], về đến vịnh Subic]], Philippines năm ngày sau đó, nơi nó được bảo trì cặp bên mạn tàu tiếp liệu khu trục {{USS|Anthedon|AS-24|3}}. Con tàu vẫn còn ở lại vịnh Subic khi [[Đế quốc Nhật Bản|Nhật Bản]] [[Nhật Bản đầu hàng|chấp nhận đầu hàng]] vào ngày [[15 tháng 8]], giúp chấm dứt vĩnh viễn cuộc xung đột.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rời vịnh Subic vào ngày [[4 tháng 9]] để quay trở về Hoa Kỳ, &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; về đến [[San Francisco]], [[California]] vào ngày [[24 tháng 9]]. Nó được đại tu để chuẩn bị ngừng hoạt động, rồi được cho xuất biên chế tại [[Xưởng hải quân Mare Island]] vào ngày [[14 tháng 5]], [[1946]], và được đưa về [[Hạm đội Dự bị Thái Bình Dương]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref name=NavSource/&amp;gt;&amp;lt;ref name=Uboat/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1948 - 1972 ===&lt;br /&gt;
[[Tập tin:USS Baya (AGSS-318 with removable sonar test tank in 1957.jpg|thumb|left|USS &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; vào năm 1957, với thiết bị sonar lắp trên sàn phía sau]]&lt;br /&gt;
[[Tập tin:USS Baya NEL.jpg|thumb|left|USS &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; đang làm nhiệm vụ cùng [[Phòng thí nghiệm Điện tử Hải quân]]; tàu nghiên cứu {{USS|Rexburg}} có mặt ở góc trên bức ảnh.]]&lt;br /&gt;
Được cho nhập biên chế trở lại vào ngày [[10 tháng 2]], [[1948]]&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref name=NavSource/&amp;gt;&amp;lt;ref name=Uboat/&amp;gt; dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân John D. Mason, &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; được cải biến thành một tàu ngầm thử nghiệm điện tử, khi các khoang chứa và nạp ngư lôi được tháo dỡ lấy chỗ cho thiết bị điện tử và nhân sự vận hành; nó được xếp lại lớp như một &amp;quot;tàu ngầm nghiên cứu phụ trợ&amp;quot; với ký hiệu lườn mới &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;AGSS-318&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; vào ngày [[12 tháng 8]], [[1949]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref name=NavSource/&amp;gt; Con tàu tiến hành những thử nghiệm cho [[Phòng thí nghiệm Điện tử Hải quân]] (NEL: Naval Electronics Laboratory) tại [[San Diego]], California, tham gia các hoạt động tại chỗ gần San Diego, và phục vụ cùng Lực lượng Đặc nhiệm Hỗn hợp Hoa Kỳ-Canada để thu thập dữ liệu khoa học ngoài khơi phía Tây [[Canada]] trong [[tháng 11]] và [[tháng 12]], [[1948]]. Nó lại thực hiện một chuyến đi lên vùng [[Bắc Cực]] từ [[tháng 7]] đến [[tháng 9]], [[1949]] để thu thập dữ liệu khoa học tại các vùng [[biển Bering]] và [[biển Chukotka|Chukotka]]. Từ [[tháng 7]] đến [[tháng 10]], [[1955]], chiếc tàu ngầm lại được phái đến khu vực [[quần đảo Hawaii]] để tiếp tục thử nghiệm nghiên cứu.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; từng được sử dụng làm nền tảng thử nghiệm hai mảng [[biến năng]] [[sonar]] thế hệ đầu, khiến con tàu thay đổi đáng kể dáng vẽ bên ngoài. Mảng thứ nhất gồm 196 cảm biến sắp xếp theo mảng 14×14 đặt trên bệ pháo cũ phía sau [[tháp chỉ huy]], hướng sang mạn phải và được bao bọc giống như một tháp chỉ huy thứ hai. Sau khi hoàn tất việc thử nghiệm, con tàu được tái cấu trúc toàn bộ vào giai đoạn [[1958]]-[[1959]] để thử nghiệm mảng sonar thứ hai có tên [[LORAD]] (LOng RAnge Detection). Các ống phóng ngư lôi phía mũi được tháo dỡ, thay bằng một mũi tù chứa mảng cảm biến hướng ra phía trước, và con tàu được kéo dài thêm một đoạn {{convert|23|ft|m|adj=on}} giữa phòng ngư lôi phía phía và ngăn ắc quy phía trước, lấy chỗ nghỉ và làm việc cho 12 nhà khoa học. Những cải biến này đã khiến con tàu có chiều dài chung {{convert|330|ft|m|adj=on}} và trọng lượng choán nước khi lặn tăng lên khoảng 2.600 tấn. Tốc độ tối đa bị giảm còn {{convert|10,5|kn|km/h|0}}.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref&amp;gt;{{Harvnb|Friedman|1994|pp=65-68}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; được cho xuất biên chế và rút tên khỏi danh sách [[Đăng bạ Hải quân]] vào ngày [[30 tháng 10]], [[1972]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref name=NavSource/&amp;gt;&amp;lt;ref name=Uboat/&amp;gt; Con tàu cuối cùng bị bán cho hãng National Metal and Steel Corp. tại [[Terminal Island]], California để tháo dỡ vào ngày [[12 tháng 10]], [[1973]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref name=NavSource/&amp;gt;&amp;lt;ref name=Uboat/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Phần thưởng ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng bốn [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref name=NavSource/&amp;gt; Nó được ghi công đã đánh chìm bốn tàu Nhật Bản với tổng tải trọng 8.855 tấn.&amp;lt;ref name=JANAC&amp;gt;{{chú thích web | author=The Joint Army-Navy Assessment Committee | url=http://www.ibiblio.org/hyperwar/Japan/IJN/JANAC-Losses/JANAC-Losses-6.html | title=Japanese Naval and Merchant Shipping Losses During World War II by All Causes | access-date =ngày 21 tháng 6 năm 2022}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&amp;lt;center&amp;gt;&lt;br /&gt;
{|&lt;br /&gt;
|colspan=3 align=center|{{ribbon devices|number=0|type=service-star|ribbon=Combat Action Ribbon.svg|width=103}}&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|{{ribbon devices|number=0|type=service-star|ribbon=American Campaign Medal ribbon.svg|width=103}}&lt;br /&gt;
|{{ribbon devices|number=4|type=service-star|ribbon=Asiatic-Pacific Campaign Medal ribbon.svg|width=103}}&lt;br /&gt;
|{{ribbon devices|number=0|type=service-star|ribbon=World War II Victory Medal ribbon.svg|width=103}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
{|class=&amp;quot;wikitable&amp;quot;&lt;br /&gt;
|-align=center&lt;br /&gt;
|[[Dãi băng Hoạt động Tác chiến]]&lt;br /&gt;
|-align=center&lt;br /&gt;
|[[Huân chương Chiến dịch Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
|[[Huân chương Chiến dịch Châu Á-Thái Bình Dương]]&amp;lt;br&amp;gt;với 4 [[Ngôi sao Chiến trận]]&lt;br /&gt;
|[[Huân chương Chiến thắng Thế Chiến II (Hoa Kỳ)|Huân chương Chiến thắng Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&amp;lt;/center&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
=== Chú thích ===&lt;br /&gt;
{{Tham khảo}}&lt;br /&gt;
=== Thư mục ===&lt;br /&gt;
* {{cite DANFS | author=[[Naval Historical Center]] | title=Baya (SS-318) | url=https://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/b/baya-i.html | access-date=ngày 27 tháng 8 năm 2022}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last=Alden | first=John D., Commander (U.S. Navy Ret) | title=The Fleet Submarine in the U.S. Navy: A Design and Construction History | date=1979 | publisher=Naval Institute Press | isbn=0-85368-203-8}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last1=Bauer | first1=K. Jack | last2=Roberts | first2=Stephen S. | title=Register of Ships of the U.S. Navy, 1775–1990: Major Combatants | url=https://archive.org/details/registerofshipso0000baue | publisher=Greenwood Press | year=1991 | location=[[Westport, Connecticut]] | isbn=0-313-26202-0 }}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last=Blair | first= Clay Jr. | title=Silent Victory: The U.S. Submarine War Against Japan | date=2001 | publisher=Naval Institute Press | isbn=1-55750-217-X}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last=Friedman | first=Norman | title=U.S. Submarines Through 1945: An Illustrated Design History | url=https://archive.org/details/ussubmarinesthro0000frie | publisher=[[United States Naval Institute]] | year=1995| location=[[Annapolis, Maryland]] | isbn=1-55750-263-3 }}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last=Friedman | first=Norman | title=U.S. Submarines Since 1945: An Illustrated Design History | publisher=United States Naval Institute | year=1994 | location=Annapolis, Maryland | isbn=1-55750-260-9}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last=Lenton | first=H. T. | title=American Submarines (Navies of the Second World War) | url=https://archive.org/details/americansubmarin0000lent | year= 1973 | publisher=Doubleday &amp;amp; Co. | location=New York | isbn=978-0385047616}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
{{Commonscat|USS Baya (SS-318)}}&lt;br /&gt;
* [http://www.navsource.org/archives/08/08318.htm NavSource Online: Submarine Photo Archive - SS-318 Baya] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20220902005946/http://www.navsource.org/archives/08/08318.htm |date=2022-09-02 }}&lt;br /&gt;
* [http://www.ussbaya.com USS Baya Homepage: USS &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039;] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20070206074653/http://www.ussbaya.com/ |date=2007-02-06 }}&lt;br /&gt;
* [http://www.pigboats.com/ww2/baya.html Kill record: USS &amp;#039;&amp;#039;Baya&amp;#039;&amp;#039;] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20230528175247/http://www.pigboats.com/ww2/baya.html |date=2023-05-28 }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;!-- non-breaking space to keep AWB drones from altering the space before the navbox--&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu ngầm Balao}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Mỹ}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Baya (SS-318)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu ngầm Balao]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu ngầm của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu ngầm trong Thế chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu ngầm trong Chiến tranh Lạnh]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu thủy năm 1944]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;AnsterBot</name></author>
	</entry>
</feed>