<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Benson_%28DD-421%29</id>
	<title>USS Benson (DD-421) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Benson_%28DD-421%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Benson_(DD-421)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-10T16:58:49Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Benson_(DD-421)&amp;diff=6332864&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;InternetArchiveBot: Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Benson_(DD-421)&amp;diff=6332864&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-02-26T00:45:54Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image= [[Tập tin:USS Benson DD-421 01.jpg|300px|USS &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; (DD-421)]]&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu khu trục USS &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; (DD-421)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
|Ship country= Hoa Kỳ &lt;br /&gt;
|Ship flag= {{USN flag|1946}}&lt;br /&gt;
|Ship name= USS &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; (DD-421)&lt;br /&gt;
|Ship namesake= [[William S. Benson]]&lt;br /&gt;
|Ship ordered= [[1938]]&lt;br /&gt;
|Ship awarded=&lt;br /&gt;
|Ship builder= [[Bethlehem Steel Co.]] [[Fore River Shipyard]], [[Quincy, Massachusetts]]&lt;br /&gt;
|Ship original cost=&lt;br /&gt;
|Ship laid down= [[16 tháng 5]] năm [[1938]]&lt;br /&gt;
|Ship launched= [[15 tháng 11]] năm [[1939]]&lt;br /&gt;
|Ship sponsor= bà William S. Benson&lt;br /&gt;
|Ship completed=&lt;br /&gt;
|Ship acquired=&lt;br /&gt;
|Ship commissioned= [[25 tháng 7]] năm [[1940]]&lt;br /&gt;
|Ship recommissioned=&lt;br /&gt;
|Ship decommissioned= [[18 tháng 3]] năm [[1946]]&lt;br /&gt;
|Ship in service=&lt;br /&gt;
|Ship out of service=&lt;br /&gt;
|Ship renamed=&lt;br /&gt;
|Ship reclassified=&lt;br /&gt;
|Ship struck=&lt;br /&gt;
|Ship nickname=&lt;br /&gt;
|Ship honors= 4 × [[Ngôi sao Chiến trận]]&lt;br /&gt;
|Ship captured=&lt;br /&gt;
|Ship fate= Chuyển cho [[Trung Hoa dân quốc]], [[26 tháng 2]] năm [[1954]]&lt;br /&gt;
|Ship status=&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
|Ship country= Trung Hoa dân quốc &lt;br /&gt;
|Ship flag= {{shipboxflag|Republic of China|naval}}&lt;br /&gt;
|Ship name= ROCS &amp;#039;&amp;#039;Lo Yang&amp;#039;&amp;#039; (DD-14)&lt;br /&gt;
|Ship acquired=[[26 tháng 2]] năm [[1954]]&lt;br /&gt;
|Ship struck= [[1975]]&lt;br /&gt;
|Ship fate= Bán để tháo dỡ&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
| Ship class = [[Benson (lớp tàu khu trục)|Lớp tàu khu trục &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039;]]&lt;br /&gt;
| Ship displacement = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|1620|LT|MT}} (tiêu chuẩn)&lt;br /&gt;
| {{convert|2515|LT|MT}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship length = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|341|ft|abbr=on|1}} (mực nước)&lt;br /&gt;
| {{convert|348|ft|2|in|abbr=on}} (chung)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship beam = {{convert|36|ft|1|in|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship draft = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|11|ft|9|in|abbr=on}} (tiêu chuẩn)&lt;br /&gt;
| {{convert|17|ft|9|in|abbr=on}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship propulsion = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 2 × turbine hơi nước hộp số [[General Electric]] SR;&lt;br /&gt;
| 4 × nồi hơi ống nước [[Babcock &amp;amp; Wilcox]];&lt;br /&gt;
| 2 × trục;&lt;br /&gt;
| công suất {{convert|50000|shp|kW|abbr=on|lk=on}}&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship speed = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|37,5|kn|km/h|1}}&lt;br /&gt;
| {{convert|33|kn|km/h|1}} khi đầy tải&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship range = {{convert|6000|nmi|km|-1|abbr=on}} ở tốc độ {{convert|15|kn|km/h|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship endurance = &lt;br /&gt;
| Ship boats = &lt;br /&gt;
| Ship complement = 208 (276 trong thời chiến)&lt;br /&gt;
| Ship crew = &lt;br /&gt;
| Ship sensors = &lt;br /&gt;
| Ship EW = &lt;br /&gt;
| Ship armament = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 5 × pháo [[Hải pháo 5&amp;quot;/38 caliber|{{convert|5|in|mm|abbr=on}}]] đa dụng;&lt;br /&gt;
| 6 × [[súng máy]] [[súng máy.50 caliber|{{convert|0,5|in|mm|abbr=on}}]];&lt;br /&gt;
| 10 × ống phóng [[ngư lôi]] [[Ngư lôi Mark 15|Mark 15 {{convert|21|in|mm|abbr=on}}]];&lt;br /&gt;
| 2 × đường ray thả [[mìn sâu]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship armor = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft facilities = &lt;br /&gt;
| Ship notes = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;USS &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; (DD-421)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; là một [[tàu khu trục]] của [[Hải quân Hoa Kỳ]], chiếc dẫn đầu của [[Benson (lớp tàu khu trục)|lớp tàu mang tên nó]] đã phục vụ trong suốt [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]]. Sau chiến tranh, nó được chuyển cho [[Đài Loan]] và phục vụ cùng [[Hải quân Trung Hoa dân quốc]] như là chiếc &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;ROCS &amp;#039;&amp;#039;Lo Yang&amp;#039;&amp;#039; (DD-14)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; từ năm [[1954]] đến năm [[1975]]. &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; được đặt tên theo [[Đô đốc]] [[William S. Benson]] (1855–1932), [[Trưởng ban Tác chiến Hải quân]] trong suốt giai đoạn [[Chiến tranh Thế giới thứ nhất]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
{{chính|Benson (lớp tàu khu trục)}}&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; được đặt lườn tại xưởng tàu [[Fore River Shipyard]] của hãng [[Bethlehem Steel Co.]] ở [[Quincy, Massachusetts]] vào ngày [[16 tháng 5]] năm [[1938]]. Nó được hạ thủy vào ngày [[15 tháng 11]] năm [[1939]]; được đỡ đầu bởi bà William S. Benson, vợ góa Đô đốc Benson, và được cho nhập biên chế vào ngày [[25 tháng 7]] năm [[1940]] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, [[Trung tá Hải quân]] Clifford A. Fines.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
=== 1940–1941 ===&lt;br /&gt;
Sau khi được trang bị tại [[Xưởng hải quân Boston]], &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; thực hiện một chuyến đi ngắn đến [[Portland, Maine]], trước khi rời Boston vào ngày [[22 tháng 8]] năm [[1940]], đi ngang qua [[Newport, Rhode Island]] và [[Yorktown, Virginia]] để đến [[Căn cứ hải quân vịnh Guantánamo|vịnh Guantánamo]], [[Cuba]], tiến hành huấn luyện chạy thử máy. Nó lên đường đi [[vịnh Chesapeake]] vào ngày [[3 tháng 9]], và sau khi viếng thăm [[Quantico, Virginia]] và [[Washington, D.C.]], đã rời [[Norfolk, Virginia]] vào ngày [[13 tháng 9]], đi ngang qua vịnh Guantánamo để đến [[Cayenne]], [[Guiana thuộc Pháp]], đến nơi vào ngày [[21 tháng 9]] cho việc giám sát các hoạt động của phe Trục tại thuộc địa này của [[Pháp]] cũng như tại [[Suriname]] thuộc [[Hà Lan]] lân cận. Những nỗ lực này được xem là cần thiết nhằm giữ cho ảnh hưởng của [[phát xít]] khỏi [[Châu Mỹ]], cũng như bảo vệ nguồn tài nguyên [[bauxite]] phong phú vốn là nguồn nguyên liệu sản xuất [[nhôm]] cho việc sản xuất chiến tranh của phe Đồng Minh. Vào ngày [[27 tháng 9]], viên thống đốc thuộc địa lên tàu cho một chuyến đi đến [[Îles du Salut]], cách khoảng 8 hải lý khỏi bờ biển, quay trở về Cayenne cùng ngày hôm đó và rời tàu trước khi &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; lên đường đi [[Paramaribo]], Suriname. Nó rời Cayenne lần thứ ba vào ngày [[6 tháng 10]], đi ngang qua [[San Juan, Puerto Rico]], để đến [[Xưởng hải quân New York]], nơi nó được đại tu sau chạy thử máy vốn kéo dài cho đến giữa [[tháng 11]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ cảng [[New York, New York|New York]] vào ngày [[18 tháng 11]] để bắt đầu hoạt động [[Tuần tra Trung lập]], vốn là hoạt động chính của nó cho đến mùa Xuân tiếp theo. Một dịp đặc biệt trong giai đoạn này khi nó hộ tống cho {{USS|Potomac|AG-25}} vào [[tháng 3]] năm [[1941]], khi chiếc thuyền buồm đưa [[Tổng thống Hoa Kỳ|Tổng thống]] [[Franklin D. Roosevelt]] đến khu vực [[quần đảo Bahamas]] trong một kỳ nghỉ. Đến cuối [[tháng 5]], nó giúp hộ tống [[thiết giáp hạm]] {{USS|Texas|BB-35}} trong chuyến tuần tra [[Bắc Đại Tây Dương]]. Đang khi họ đang giữa biển khơi, thiết giáp hạm [[Đức Quốc xã|Đức]] [[Bismarck (thiết giáp hạm Đức)|&amp;#039;&amp;#039;Bismarck&amp;#039;&amp;#039;]] xuất quân vào ngày [[21 tháng 5]], hướng ra [[eo biển Đan Mạch]] đe dọa các đoàn tàu vận tải Đồng Minh. Sau khi [[tàu chiến-tuần dương]] {{HMS|Hood|51}} bị &amp;#039;&amp;#039;Bismarck&amp;#039;&amp;#039; đánh chìm sau một cuộc [[trận chiến eo biển Đan Mạch|đụng độ]], [[Thủ tướng Anh Quốc]] [[Winston Churchill]] đã yêu cầu Tổng thống Roosevelt giúp đỡ để Hải quân Hoa Kỳ truy tìm con tàu đối phương và thông tin cho [[Hải quân Hoàng gia Anh]]. Khi được báo động, &amp;#039;&amp;#039;Texas&amp;#039;&amp;#039; và các tàu tháp tùng đã truy lùng cho đến khi chiếc tàu chiến Đức bị Hải quân Anh [[Trận chiến sau cùng của thiết giáp hạm Bismarck|đánh chìm]] vào ngày [[27 tháng 5]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Không lâu sau đó, &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; quay trở về Xưởng hải quân Boston và trải qua một tháng chuẩn bị để nhận nhiệm vụ mới. Nó khởi hành vào ngày [[28 tháng 6]] để gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 19, vốn được hình thành để đưa binh lính [[Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ|Thủy quân Lục chiến]] đến [[Iceland]], giúp cho lực lượng Anh được rảnh tay khỏi nhiệm vụ phòng thủ hòn đảo này để tham gia các mặt trận đang nóng bỏng khác. Lực lượng Đặc nhiệm 19 khởi hành từ [[Argentia, Newfoundland]] vào ngày [[1 tháng 7]], và sau khi đi qua vùng biển đầy dẫy [[tàu ngầm]] đối phương, đã thả neo tại [[Reykjavík]] vào chiều tối ngày [[7 tháng 7]].&amp;lt;ref&amp;gt;{{Harvnb|Morison|1947|pp=74-79}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Sau khi quay trở về Boston, nó nhanh chóng tiếp nhiên liệu rồi di chuyển đến [[vịnh Casco]] để thực tập ngoài khơi [[Portland, Maine]]. Đến [[tháng 9]], nó bắt đầu một nhiệm vụ kéo dài bảy tháng đi lại giữa Boston và Iceland hộ tống các đoàn tàu vận tải.&amp;lt;ref&amp;gt;{{chú thích web | url=http://www.convoyweb.org.uk/on/index.html | title=ON convoys | publisher=Andrew Hague Convoy Database | access-date = ngày 19 tháng 6 năm 2011}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref&amp;gt;{{chú thích web | url=http://www.convoyweb.org.uk/hx/index.html | title=HX convoys | publisher=Andrew Hague Convoy Database | access-date = ngày 19 tháng 6 năm 2011}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Ba tháng sau, ngày [[7 tháng 12]] năm [[1941]], [[Đế quốc Nhật Bản]] [[trận Trân Châu Cảng|tấn công]] [[Trân Châu Cảng]] và [[Đức Quốc xã]] tuyên chiến với Hoa Kỳ, cho phép Hoa Kỳ từ bỏ vị thế trung lập và công khai đối đầu với phe Trục.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1942–1943 ===&lt;br /&gt;
Vào cuối [[tháng 3]] năm [[1942]], &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; khởi hành hộ tống một đoàn tàu vận tải đi hết chặng đường vượt đại dương đến [[Derry]], [[Bắc Ireland]], và quay trở về Boston vào đầu [[tháng 5]]. Các hoạt động hộ tống vận tải khác, vốn đưa nó đến [[quần đảo Anh]] [[Bermuda]], và vùng [[kênh đào Panama]], tiếp nối như là nhiệm vụ chính của nó cho đến mùa Thu, khi nó bắt đầu sẵn sàng để tham gia [[Chiến dịch Torch]]. Trong khuôn khổ việc chuẩn bị, nó thực hành bắn phá bờ biển cùng với chiếc thiết giáp hạm mới {{USS|Massachusetts|BB-59|3}}. Trên đường đi đến [[Casco Bay, Maine]] để tổng dượt trước lúc bình minh ngày [[19 tháng 10]], nó mắc tai nạn va chạm với tàu khu trục {{USS|Trippe|DD-403|3}}, làm thiệt mạng bốn người và bị thương ba người trên chiếc &amp;#039;&amp;#039;Trippe&amp;#039;&amp;#039; khi mũi tàu của nó đâm vào phía đuôi mạn phải của tàu bạn. Tai nạn cũng gây hư hại cho &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; khiến nó phải ở lại [[Xưởng hải quân New York]] để sửa chữa trong khi diễn ra cuộc đổ bộ của lực lượng Đồng Minh lên [[Bắc Phi]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi sẵn sàng để hoạt động trở lại, &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; tiếp nối nhiệm vụ hộ tống vận tải vượt Bắc Đại Tây Dương và tại [[Địa Trung Hải]]. Vào [[tháng 7]] năm [[1943]], nó chuyển sang hỗ trợ cho [[Chiến dịch Husky]], cuộc đổ bộ của lực lượng Đồng Minh lên [[Sicily]]. Nó khởi hành từ [[Oran]], [[Algérie]] vào ngày [[6 tháng 7]] cùng với Đội đặc nhiệm 80.2, thành phần hộ tống trực thuộc Lực lượng Đặc nhiệm Hải quân phía Tây dưới quyền [[Phó đô đốc]] [[H. Kent Hewitt]]; và đã hộ tống cho Đoàn tàu NCS-1 đi đến khu vực tấn công tại [[Gela]], [[Sicily]]. Nó đi đến ngoài khơi bãi đổ bộ nhiều giờ trước bình minh trong đêm [[9 tháng 7|9]]-[[10 tháng 7]], và trải qua hai ngày tiếp theo bảo vệ phòng không chống lại nhiều đợt tấn công liên tục của máy bay [[Không quân Đức]]. Vào ngày [[11 tháng 7]], một quả bom nổ sát cạnh con tàu đã khiến 18 thủy thủ bị thương, nhưng chỉ gây hư hại nhẹ cho con tàu. Sang ngày hôm sau, nó lên đường hộ tống cho chiếc [[tàu chở hàng tấn công]] {{USS|Betelgeuse|AKA-11|3}} đi [[Algiers]], đến nơi vào ngày [[18 tháng 7]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các hoạt động tuần tra và hộ tống khác tại Địa Trung Hải được tiếp nối cho đến ngày [[24 tháng 8]], khi &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 81 để chuẩn bị cho [[Chiến dịch Avalanche]], cuộc đổ bộ của lực lượng Đồng Minh lên lục địa [[Ý]]. Lúc bình minh ngày [[9 tháng 9]], binh lính Đồng Minh đổ bộ lên bờ tại các bãi biển [[Salerno]], nơi họ gặp phải sự kháng cự đáng kể trong khi Không quân Đức liên tục tấn công những tàu chiến Đồng Minh. Sáng ngày [[11 tháng 9]], một [[máy bay ném bom]] [[Dornier Do 217]] đã thả một quả [[bom lượn]] điều khiển bằng vô tuyến vốn đã đánh trúng tháp pháo số 3 của [[tàu tuần dương hạng nhẹ]] {{USS|Savannah|CL-42|3}}. Quả bom đã xuyên thủng sàn tàu và phát nổ ở phòng tiếp đạn bên dưới, xé tung một khoảng lườn tàu và làm thủng một lỗ lớn dưới đáy lườn tàu. Nỗ lực anh dũng và hiệu quả của các đội kiểm soát hư hỏng đã ngăn được việc ngập nước, chỉnh lại độ nghiêng, dập tắt các đám cháy, cho phép con tàu tiếp tục di chuyển bằng chính động lực của mình. &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; đã trợ giúp hộ tống &amp;#039;&amp;#039;Savannah&amp;#039;&amp;#039; đi đến [[Malta]] để được sửa chữa tạm thời, nhằm cho phép chiếc tàu tuần dương quay trở về Hoa Kỳ để được sửa chữa triệt để.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; nhanh chóng quay trở lại Salerno tham gia lực lượng bảo vệ phòng không. Sáng ngày [[19 tháng 9]], nó bắn rơi một [[máy bay tiêm kích]] [[Focke-Wulf Fw 190]]. Trong khi hỗ trợ các hoạt động trên bờ tại Ý, nó cũng tiến hành nhiều nhiệm vụ bắn phá bờ biển và hộ tống các tàu chiến khác đến nhiều cảng Địa Trung Hải. Vào ngày [[2 tháng 10]], nó giải cứu những người sống sót từ một máy bay ném bom [[Vickers Wellington]] của [[Không quân Hoàng gia Anh]] bị bắn rơi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1944 ===&lt;br /&gt;
Vào cuối [[tháng 1]] năm [[1944]], &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ [[Casablanca]], Morocco hộ tống cho Đoàn tàu GUS-28 quay trở về New York, nơi nó vào xưởng hải quân để được đại tu. Sau một đợt huấn luyện dọc theo vùng bờ Đông, nó lên đường cùng với Đội đặc nhiệm 27.4 vào ngày [[20 tháng 4]] để hướng đến Oran, đến nơi vào ngày [[1 tháng 5]]. Sau khi được bảo trì, nó hướng đến [[Gibraltar]] vào ngày [[9 tháng 5]] cùng với Đoàn tàu UGS-40. Hai ngày sau, nó giúp đánh trả một cuộc tấn công của khoảng 30 máy bay Đức, bắn rơi hai chiếc [[máy bay ném bom]] [[Junkers Ju 88]], có thể đã tiêu diệt một chiếc thứ ba, và làm hư hại hai chiếc khác. Không con tàu nào của đoàn tàu vận tải bị mất hay hư hại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong những tháng tiếp theo sau, &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; tiếp tục hộ tống các đoàn tàu vận tải và những tàu đơn độc đi lại giữa nhiều cảng Địa Trung Hải. Đến giữa [[tháng 8]], nó gia nhập Đội đặc nhiệm 80.6 để giúp bảo vệ các tàu chiến khác tham gia [[Chiến dịch Dragoon]], cuộc đổ bộ của lực lượng Đồng Minh lên miền Nam nước [[Pháp]]. Nó cũng phục vụ như tàu kiểm soát lưu thông trong chiến dịch này, thỉnh thoảng tham gia bắn phá các vị trí của quân Đức trên bờ. Đang khi làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực hỗ trợ hỏa lực gần [[Toulon]], nó ngăn chặn các tàu buôn đối phương tại cảng [[Sanremo|San Remo]] và bắn vào các cơ sở lân cận. Nó cũng trợ giúp cho các tàu tuần dương thuộc phe [[Lực lượng Pháp tự do|Pháp tự do]] [[Montcalm (tàu tuần dương Pháp)|&amp;#039;&amp;#039;Montcalm&amp;#039;&amp;#039;]] và [[Jeanne d&amp;#039;Arc (tàu tuần dương Pháp) (1930)|&amp;#039;&amp;#039;Jeanne d&amp;#039;Arc&amp;#039;&amp;#039;]] khi chúng bắn phá San Remo.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1945 ===&lt;br /&gt;
Đến đầu [[tháng 1]] năm [[1945]], &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; lên đường đi [[Livorno]], [[Ý]] để bắn phá các vị trí của quân Đức đang đe dọa đột phá tại đây. Trong nhiệm vụ này, nó bị nhiều tàu nhỏ của đối phương tấn công, bao gồm những chiếc [[E-boat]] của Đức và [[xuồng MAS]] của [[Hải quân Ý]], nhưng không bị hư hại. Sau đó nó hộ tống cho chiếc tàu tuần dương Pháp [[Georges Leygues (tàu tuần dương Pháp)|&amp;#039;&amp;#039;Georges Leygues&amp;#039;&amp;#039;]] trong hoạt động bắn phá xưởng đóng tàu [[Pietra Ligure]], vốn còn do đối phương chiếm giữ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Được tách khỏi nhiệm vụ này vào cuối [[tháng 1]] năm [[1945]], &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; quay trở về Hoa Kỳ để được sửa chữa trong xưởng tàu và huấn luyện trong [[tháng 2]]. Sau một chuyến đi hộ tống đến [[Plymouth]], Anh Quốc trong [[tháng 4]], nó được lệnh chuyển sang [[Mặt trận Thái Bình Dương]]. Băng qua [[kênh đào Panama]] vào ngày [[12 tháng 5]] và đi đến [[Trân Châu Cảng]] vào ngày [[29 tháng 5]], chiếc tàu khu trục trải qua một tháng tiếp theo tại vùng biển [[Hawaii]] trước khi lên đường vào ngày [[14 tháng 6]], hộ tống các [[tàu sân bay]] {{USS|Lexington|CV-16}}, {{USS|Cowpens|CVL-25}} và {{USS|Hancock|CV-19}} trong cuộc không kích của chúng xuống [[đảo Wake]]. Sau khi được bảo trì tại [[Leyte (đảo)|Leyte]] thuộc [[quần đảo Philippine]], nó tiếp tục đi đến [[Ulithi]]. Cho đến ngày chiến thắng [[15 tháng 8]], nó làm nhiệm vụ tuần tra và hộ tống giữa Ulithi và [[Okinawa]]. Nó tiếp tục phục vụ hộ tống cho lực lượng chiếm đóng đầu tiên lên [[Yokohama]], vốn đã đổ bộ vào các ngày [[2 tháng 9|2]] và [[3 tháng 9]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Sau chiến tranh ===&lt;br /&gt;
Trong hai tháng sau khi [[Nhật Bản đầu hàng]], &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; hộ tống năm đoàn tàu vận tải khác nhau đi lại giữa Philippines và [[vịnh Tokyo]]. Được lệnh quay trở về Hoa Kỳ để ngừng hoạt động, nó khởi hành từ [[Yokohama]] vào ngày [[4 tháng 11]], và về đến [[Xưởng hải quân Charleston]] vào ngày [[6 tháng 12]]. &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; được cho xuất biên chế tại đây vào ngày [[18 tháng 3]] năm [[1946]], và được đưa về lực lượng dự bị thuộc Đội Charleston của [[Hạm đội Dự bị Đại Tây Dương]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào ngày [[26 tháng 2]] năm [[1954]], &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; được chuyển cho chính phủ [[Trung Hoa dân quốc]] tại [[Đài Loan]], và phục vụ cùng [[Hải quân Trung Hoa dân quốc]] như là chiếc &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;ROCS &amp;#039;&amp;#039;Lo Yang&amp;#039;&amp;#039; (DD-14)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; cho đến giữa những năm [[Thập niên 1970|1970]]. Do kết quả của một cuộc khảo sát vào đầu năm [[1974]], Đài Loan đã thay thế nó bằng một tàu khu trục khác được Hải quân Hoa Kỳ cho mượn vào năm [[1975]]: nguyên là chiếc {{USS|Taussig|DD-746}} được đổi tên thành &amp;#039;&amp;#039;Lo Yang&amp;#039;&amp;#039; (DD-14). Cùng lúc đó, tên của &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; được cho rút khỏi danh sách [[Đăng bạ Hải quân]] Hoa Kỳ vào ngày [[1 tháng 11]] năm [[1974]], và nó được bán cho Đài Loan để tháo dỡ lấy phụ tùng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Phần thưởng ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng bốn [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
=== Chú thích ===&lt;br /&gt;
{{tham khảo|30em}}&lt;br /&gt;
=== Thư mục ===&lt;br /&gt;
* Bài này có các trích dẫn từ nguồn [[:en:Dictionary of American Naval Fighting Ships]] thuộc [[phạm vi công cộng]]: http://www.history.navy.mil/danfs/b5/benson-i.htm {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20100414033038/http://www.history.navy.mil/danfs/b5/benson-i.htm |date=2010-04-14 }}&lt;br /&gt;
* {{Chú thích sách | last=Lenton | first=H. T. | title=American Fleet and Escort Destroyers | url=https://archive.org/details/americanfleetesc0002lent | location=Garden City, NY | publisher=Doubleday &amp;amp; Co | year=1971 | isbn=9780356030050 | ref=Harv}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last=Morison | first=Samuel Eliot | title=The Battle of the Atlantic September 1939-May 1943 | url=https://archive.org/details/battleofatlantic0000mori | publisher=Little, Brown and Company | year=1947 | isbn= 9780316583015 | ref Harv}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
* {{chú thích web | url= http://www.history.navy.mil/danfs/b5/benson-i.htm | title= &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; | last= Mooney | first= James L. | date= ngày 8 tháng 2 năm 2006 | work= [[DANFS]] | publisher= U.S. [[Naval Historical Center]] | access-date= ngày 3 tháng 3 năm 2008 | archive-date= 2010-04-14 | archive-url= https://web.archive.org/web/20100414033038/http://www.history.navy.mil/danfs/b5/benson-i.htm | url-status= dead }}&lt;br /&gt;
* {{chú thích web | url= http://www.navsource.org/archives/05/421.htm | title= DD-421 USS &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039; | last= Willshaw | first= Fred | work= Destroyer Photo Archive | publisher= NavSource Online | access-date= ngày 3 tháng 3 năm 2008 | archive-date= 2015-02-22 | archive-url= https://web.archive.org/web/20150222174217/http://www.navsource.org/archives/05/421.htm | url-status= dead }}&lt;br /&gt;
* {{chú thích web | url= http://www.destroyerhistory.org/benson-gleavesclass/index.html | title= &amp;#039;&amp;#039;Benson&amp;#039;&amp;#039;- and &amp;#039;&amp;#039;Gleaves&amp;#039;&amp;#039;-class Destroyers | publisher= Destroyer History Foundation | access-date = ngày 3 tháng 3 năm 2008}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;!-- non-breaking space to keep AWB drones from altering the space before the navbox--&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu khu trục Benson}}&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Mỹ}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Benson (DD-421)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu khu trục Benson]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Hải quân Trung Hoa dân quốc]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Chiến tranh Lạnh]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;InternetArchiveBot</name></author>
	</entry>
</feed>