<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Bryant_%28DD-665%29</id>
	<title>USS Bryant (DD-665) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Bryant_%28DD-665%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Bryant_(DD-665)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-11T04:25:09Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Bryant_(DD-665)&amp;diff=6659985&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;InternetArchiveBot: Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Bryant_(DD-665)&amp;diff=6659985&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-06-17T22:14:43Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image= [[Tập tin:USS Bryant (DD-665) off Charleston, South Carolina (USA), on 7 January 1944 (19-N-57124).jpg|300px|USS Bryant (DD-665), Charleston, ngày 7 tháng 1 năm 1944]]&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu khu trục USS &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; (DD-665) tại Charleston, [[7 tháng 1]] năm [[1944]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
| Ship country = Hoa Kỳ&lt;br /&gt;
| Ship flag = {{USN flag|1947}}&lt;br /&gt;
| Ship name = USS &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; (DD-665)&lt;br /&gt;
| Ship namesake = Chuẩn đô đốc [[Samuel W. Bryant]]&lt;br /&gt;
| Ship ordered = &lt;br /&gt;
| Ship awarded = &lt;br /&gt;
| Ship builder = [[Xưởng hải quân Charleston]]&lt;br /&gt;
| Ship original cost = &lt;br /&gt;
| Ship laid down = [[30 tháng 12]] năm [[1942]]&lt;br /&gt;
| Ship launched = [[29 tháng 5]] năm [[1943]]&lt;br /&gt;
| Ship sponsor = bà Samuel W. Bryant&lt;br /&gt;
| Ship completed = &lt;br /&gt;
| Ship acquired = &lt;br /&gt;
| Ship commissioned = [[4 tháng 12]] năm [[1943]]&lt;br /&gt;
| Ship recommissioned = &lt;br /&gt;
| Ship decommissioned = [[15 tháng 1]] năm [[1947]]&lt;br /&gt;
| Ship in service = &lt;br /&gt;
| Ship out of service = &lt;br /&gt;
| Ship renamed = &lt;br /&gt;
| Ship reclassified = &lt;br /&gt;
| Ship struck = [[30 tháng 6]] năm [[1968]]&lt;br /&gt;
| Ship nickname = &lt;br /&gt;
| Ship honors = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| [[Đơn vị Tưởng thưởng Hải quân]];&lt;br /&gt;
| 7 × [[Ngôi sao chiến trận]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship captured = &lt;br /&gt;
| Ship fate = Bị bán để tháo dỡ, [[tháng 7]] năm [[1976]]&lt;br /&gt;
| Ship status = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
| Ship class = [[Fletcher (lớp tàu khu trục)|Lớp tàu khu trục &amp;#039;&amp;#039;Fletcher&amp;#039;&amp;#039;]]&lt;br /&gt;
| Ship type = [[Tàu khu trục]]&lt;br /&gt;
| Ship displacement = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|2100|LT|t|abbr=on}} (tiêu chuẩn)&lt;br /&gt;
| {{convert|2924|LT|t|abbr=on}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship length = {{convert|376|ft|5|in|m|abbr=on}} (chung)&lt;br /&gt;
| Ship beam = {{convert|39|ft|08|in|m|abbr=on}} (chung)&lt;br /&gt;
| Ship draft = {{convert|13|ft|9|in|m|abbr=on}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
| Ship propulsion = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 2 × turbine hơi nước hộp số&lt;br /&gt;
| 2 × trục&lt;br /&gt;
| công suất {{convert| 60000|shp|kW|abbr=on|lk=on}}&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship speed = {{convert|36|kn|mph km/h|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship range = {{convert|6500|nmi|km|-3|abbr=on}} ở tốc độ {{convert|15|kn|mph km/h|0|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship endurance = &lt;br /&gt;
| Ship boats = &lt;br /&gt;
| Ship complement = 329 sĩ quan và thủy thủ&lt;br /&gt;
| Ship crew = &lt;br /&gt;
| Ship sensors = &lt;br /&gt;
| Ship EW = &lt;br /&gt;
| Ship armament = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 5 × pháo [[Hải pháo 5 inch/38 caliber|{{convert|5|in|mm|abbr=on}}/38 caliber]] (5×1);&lt;br /&gt;
| 10 × pháo phòng không [[Bofors 40 mm]];&lt;br /&gt;
| 7 × pháo phòng không [[Oerlikon 20 mm]];&lt;br /&gt;
| 10 × ống phóng [[ngư lôi]] [[Ngư lôi Mark 15|Mark 15]] {{convert|21|in|mm|abbr=on}} (2×5);&lt;br /&gt;
| 6 × máy phóng [[K-gun]] và 2 × đường ray thả [[mìn sâu]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship armor = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft facilities = &lt;br /&gt;
| Ship notes = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;USS &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; (DD-665)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; là một [[tàu khu trục]] [[Fletcher (lớp tàu khu trục)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Fletcher&amp;#039;&amp;#039;]] được [[Hải quân Hoa Kỳ]] chế tạo trong [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]]. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Mỹ được đặt theo tên [[Chuẩn đô đốc]] [[Samuel W. Bryant]] (1877–1938), người tham gia cuộc [[Chiến tranh Tây Ban Nha-Hoa Kỳ]] và [[Chiến tranh Thế giới thứ nhất]]. Nó hoạt động cho đến hết Thế Chiến II, được cho xuất biên chế năm [[1947]], và bị bán để tháo dỡ năm [[1976]]. &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng danh hiệu [[Đơn vị Tưởng thưởng Hải quân]] cùng bảy [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
{{main|Fletcher (lớp tàu khu trục)}}&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; được đặt lườn tại [[Xưởng hải quân Charleston]] ở [[North Charleston, South Carolina|North Charleston]], [[South Carolina]] vào ngày [[30 tháng 12]] năm [[1942]]. Nó được hạ thủy vào ngày [[29 tháng 5]] năm [[1943]]; được đỡ đầu bởi bà Samuel W. Bryant, vợ góa đô đốc Bryant; và nhập biên chế vào ngày [[4 tháng 12]] năm [[1943]] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, [[Trung tá Hải quân]] Paul Laverne High.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
=== 1944 ===&lt;br /&gt;
Sau khi được trang bị tại Xưởng hải quân Charleston, &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; thực hiện chuyến đi chạy thử máy kéo dài một tháng tại khu vực [[Bermuda]], trước khi quay về xưởng tàu vào ngày [[28 tháng 2]] năm [[1944]], nơi nó đại tu sau thử máy trong mười ngày. Con tàu lên đường đi [[Xưởng hải quân Boston]], đến nơi vào ngày [[13 tháng 2]], rồi cùng tàu khu trục {{USS|McNair|DD-679|3}} khởi hành hai ngày sau đó để đi sang [[Mặt trận Thái Bình Dương]] trong thành phần hộ tống cho [[tàu sân bay]] {{USS|Wasp|CV-18|2}}. Lực lượng băng qua [[kênh đào Panama]] vào ngày [[20 tháng 2]], ghé qua [[San Diego, California]] để tiếp liệu trước khi tiếp tục hướng sang [[quần đảo Hawaii]]. Nó đi đến [[Trân Châu Cảng]] vào ngày [[3 tháng 4]], thực hành tại đây trong ba ngày trước khi được đưa vào ụ tàu để sửa chữa những rò rỉ trong bộ hộp số giảm tốc và vách phòng nồi hơi. Việc sửa chữa kéo dài hết [[tháng 4]] và sang đầu [[tháng 5]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi hoàn tất sửa chữa, &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; tiến hành tuần tra [[chiến tranh chống tàu ngầm|chống tàu ngầm]] và tham gia thực tập đổ bộ và bắn phá gần Trân Châu Cảng vào cuối [[tháng 5]]. Nó lên đường đi [[Eniwetok]] vào ngày [[29 tháng 5]], khu vực tập trung lực lượng cho [[Chiến dịch quần đảo Mariana và Palau|chiến dịch đổ bộ]] lên [[quần đảo Mariana]]. Nó khởi hành đi [[Saipan]] vào ngày [[11 tháng 6]] trong thành phần Lực lượng Tấn công phía Bắc, và vào ngày đổ bộ [[15 tháng 6]] đã bảo vệ cho các tàu vận chuyển. Trong một tháng rưỡi tiếp theo, chiếc tàu khu trục tuần tra tại vùng biển chung quanh Saipan và [[Tinian]] trong vai trò cột mốc [[radar]] canh phòng, thỉnh thoảng tham gia các nhiệm vụ hỗ trợ hỏa lực và bắn pháo sáng ban đêm để giúp đỡ binh lính chiến đấu trên bờ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; quay trở về đảo san hô Eniwetok vào ngày [[5 tháng 8]], và cặp bên mạn [[tàu tiếp liệu khu trục]] {{USS|Piedmont|AD-17|3}} trong mười ngày để sửa chữa động cơ. Sau khi được tiếp liệu trong sáu ngày tại [[vịnh Purvis]], nó trở ra khơi vào ngày [[6 tháng 9]] để đi sang quần đảo [[Palau]], và tiếp cận [[Peleliu]] vào sáng sớm ngày [[12 tháng 9]] trong thành phần khu trục hộ tống cho Đội đặc nhiệm 32.5, vốn bao gồm [[soái hạm]] {{USS|Louisville|CA-28|3}} và các chiếc {{USS|Idaho|BB-42|3}}, {{USS|Mississippi|BB-41|3}} và {{USS|Portland|CA-33|3}}. Đi đến vị trí bắn phá, các tàu chiến hạng nặng đã bắn phá chuẩn bị trong ba ngày, luân phiên với những đợt không kích từ các tàu sân bay. Vào ban ngày, chiếc tàu khu trục tách khỏi nhiệm vụ hộ tống để tiếp cận bãi biển, bắn pháo 40-mm vào những vị trí đối phương vốn đe dọa hoạt động của những [[Đội phá hoại dưới nước]] (UDT). Vào ngày [[16 tháng 9]], một ngày sau [[Trận Peleliu|cuộc đổ bộ]] lên Peleliu, Phó đô đốc [[Theodore S. Wilkinson]] nhận được chỉ thị từ Đô đốc [[William F. Halsey]] &amp;quot;chiếm [[Ulithi]] càng nhanh càng tốt, với những lực lượng sẵn có&amp;quot;. &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; đã phục vụ trong thành phần hộ tống cho Trung đoàn 323 Bộ binh Hoa Kỳ nhiệm vụ chiếm đóng đảo san hô, vốn cần đến như một căn cứ tiền phương cho chiến dịch giải phóng [[Philippines]]. Cuộc đổ bộ diễn ra vào ngày [[23 tháng 9]] mà không gặp sự kháng cự, vì lực lượng trú đóng Nhật Bản đã từ bỏ hòn đảo để rút lui về [[Yap]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một quyết định từ các chỉ huy Hoa Kỳ cao cấp hủy bỏ việc đổ bộ lên Yap và [[Mindanao]] nhằm đẩy nhanh thời gian biểu tấn công lên [[Leyte (đảo)|Leyte]] và [[Luzon]] đã giúp cho &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; có được ít thời gian bổ sung tiếp liệu và đạn dược. Nó khởi hành từ Ulithi vào ngày [[24 tháng 9]], ghé qua [[Kossol Roads]] một thời gian ngắn và đi đến [[cảng Seeadler]] vào ngày [[28 tháng 9]], nơi nó có hai tuần nghỉ ngơi, sửa chữa và huấn luyện. Nó lên đường vào ngày [[11 tháng 10]] cho hành trình đi sang [[vịnh Leyte]] kéo dài một tuần, và vào sáng sớm ngày [[20 tháng 10]] đã có mặt ngoài khơi Leyte, cách đồi Catmon khoảng {{convert|12000|yd|m|-3}} để bắn hỏa lực gián tiếp hỗ trợ cho binh lính đổ bộ cùng Lực lượng Tấn công phía Nam gần [[Dulag, Leyte|Dulag]]. Cuối ngày hôm đó, nó giúp vô hiệu hóa một vị trí [[súng cối]] đối phương vốn đã gây hư hại cho tàu khu trục {{USS|Bennion|DD-662|3}}.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào ngày [[21 tháng 10]], &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; gia nhập Đội đặc nhiệm 77.2 và chuẩn bị sẵn sàng để đối đầu với một lực lượng [[Hải quân Đế quốc Nhật Bản]] tìm cách vượt qua [[eo biển Surigao]] để tiêu diệt các tàu vận tải Hoa Kỳ trong vịnh Leyte. Eo biển Surigao phân cách các đảo Leyte và [[đảo Panaon|Panaon]] ở phía Bắc với các đảo Mindanao và [[đảo Dinagat|Dinagat]] về phía Nam và phía Đông, là tuyến đường dẫn đến lối tiếp cận phía Nam của vịnh Leyte. [[Chuẩn đô đốc]] [[Jesse B. Oldendorf]] đã bố trí các [[thiết giáp hạm]] và [[tàu tuần dương]] dưới quyền chặn ngang lối ra vào phía Bắc của eo biển và bố trí các đội tàu khu trục hai bên sườn. Lực lượng Nhật Bản tấn công dưới quyền Phó đô đốc [[Shoji Nishimura]], bao gồm các thiết giáp hạm [[Yamashiro (thiết giáp hạm Nhật)|&amp;#039;&amp;#039;Yamashiro&amp;#039;&amp;#039;]] và [[Fusō (thiết giáp hạm Nhật)|&amp;#039;&amp;#039;Fusō&amp;#039;&amp;#039;]], [[tàu tuần dương hạng nặng]] [[Mogami (tàu tuần dương Nhật) (1934)|&amp;#039;&amp;#039;Mogami&amp;#039;&amp;#039;]] cùng bốn tàu khu trục, đã tiến thẳng vào eo biển vào những giờ đầu tiên của ngày [[25 tháng 10]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Được bố trí bên sườn phía Đông của eo biển, &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039;, {{USS|Halford|DD-480|3}} và {{USS|Robinson|DD-562|3}} hình thành nên một trong ba tốp tàu khu trục được phân công bảo vệ mạn bên trái các tàu tuần dương của đô đốc Oldendorf. Vào lúc nó tiếp cận hàng chiến trận Nhật Bản, nhiều tàu đối phương đã bị đánh chìm hay đang bốc cháy do hậu quả của đợt tấn công bằng ngư lôi của các tàu khu trục bên sườn phải hay bởi hỏa lực của thiết giáp hạm và tàu tuần dương trong hàng chiến trận Hoa Kỳ. Lúc 03 giờ 39 phút, dưới sự che chở bởi các loạt đạn pháo hạng nặng từ các thiết giáp hạm và tàu tuần dương, nó tiếp cận đối thủ ở khoảng cách {{convert|8800|yd|m|-2}} và phóng một loạt năm quả ngư lôi, nhưng không có quả nào trúng đích. Chiếc tàu khu trục sau đó rút lui về phía [[đảo Hibuson]] an toàn. Sau khi nhận được tin tức các đơn vị đặc nhiệm [[tàu sân bay hộ tống]] Hoa Kỳ bị lực lượng tàu nổi Nhật Bản tấn công trong [[Trận chiến ngoài khơi Samar]], Đội đặc nhiệm 77.2 ngừng hoạt động truy kích Lực lượng phía Nam của Nishimura để quay trở lại giúp đỡ Đội đặc nhiệm 77.4, nhưng đã trễ khi đối phương đã rút lui. &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; được biệt phái làm nhiệm vụ cột mốc [[radar]] canh phòng giữa các [[đảo Suluan]] và Dinagat.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong khi phần lớn lực lượng của [[Hoa Kỳ|Đệ Thất hạm đội]] quay trở về vào cuối [[tháng 10]] để sửa chữa, nghỉ ngơi và tiếp liệu khi khi hoạt động liên tục hầu như suốt mùa Hè, &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; cùng ba thiết giáp hạm, bốn tàu tuần dương và 12 tàu khu trục khác tiếp tục ở lại khu vực eo biển Surigao đề phòng hải quân Nhật Bản lại tấn công vào vịnh Leyte một lần nữa. Không có cuộc tấn công nào bởi lực lượng tàu nổi đối phương, nhưng đội đặc nhiệm liên tục chịu đựng những cuộc không kích tự sát vào ngày [[1 tháng 11]]. Cho dù &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; đã bắn rơi một [[máy bay ném bom bổ nhào]] đối phương, những chiếc [[Kamikaze]] đã đánh trúng gây hư hại cho năm tàu khu trục và đánh chìm {{USS|Abner Read|DD-526|3}}. Sau hai tuần lễ tuần tra tại khu vực eo biển Surigao, nó rời vùng biển nguy hiểm để quay trở về [[quần đảo Admiralty]], bắn rơi một máy bay đối phương trên đường đi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; đi đến cảng Seeadler vào ngày [[21 tháng 11]], nơi nó tiến hành những sửa chữa cần thiết và tiếp liệu trong sáu ngày. Nó lên đường vào ngày [[28 tháng 11]], được tiếp nhiên liệu ngoài khơi từ tàu tuần dương hạng nhẹ {{USS|Nashville|CL-43|3}}, và đi đến vịnh Leyte vào ngày [[2 tháng 12]]. Nó tuần tra ngoài khơi vịnh Leyte trong hai tuần trước khi neo đậu tại [[vịnh San Pedro (Philippines)|vịnh San Pedro]], nơi nó gia nhập một đội tiếp liệu đầu tiên hướng đến [[Mindoro]] kể từ khi đảo này bị chiếm đóng vào ngày [[15 tháng 12]]. Đội tiếp liệu khởi hành vào ngày [[19 tháng 12]], và &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; hoạt động như tàu dẫn đường chiến đấu chủ lực cho đoàn tàu vận tải, có trách nhiệm phối hợp hoạt động của máy bay [[tuần tra chiến đấu trên không]] (CAP). Hai ngày sau, sau hai đợt tấn công rời rạc bởi hai [[máy bay tiêm kích]] lục quân [[Nakajima Ki-43]] &amp;quot;Oscar&amp;quot;, phía Nhật Bản thách thức đoàn tàu bằng một đợt không kích mạnh mẽ của khoảng 30 máy bay. Trong khi máy bay đối phương lao đến những tàu đổ bộ ở chính giữa đội hình, chúng bị những tàu hộ tống ở vòng ngoài ngăn chặn, và hỏa lực phòng không của &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; đã bắn rơi một chiếc và trợ giúp bắn rơi một chiếc khác. Tuy nhiên ba chiếc &amp;quot;Oscar&amp;quot; đã vượt qua được hàng rào ngăn chặn và đâm trúng {{USS|LST-460}}, {{USS|LST-749}} cùng tàu chở hàng [[tàu Liberty|lớp Liberty]] &amp;#039;&amp;#039;Juan de Fuca&amp;#039;&amp;#039;, khiến cả hai chiếc LST đều bị đắm và chiếc tàu Liberty hư hại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đoàn tàu đi đến Mindoro sáng hôm sau, và các tàu khu trục hình thành một vòng tròn phòng thủ cách bờ biển khoảng {{convert|5|mi|km|abbr=on}} nhằm bảo vệ cho hoạt động chất dỡ của những tàu còn lại. Lúc 09 giờ 45 phút, khi &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; đang làm nhiệm vụ canh phòng, Hạm trưởng phát hiện một máy bay tiêm kích hải quân [[Mitsubishi A6M]] &amp;quot;Zero&amp;quot; ở khoảng cách {{convert|4000|yd|m|-3}}, rõ ràng đang lao đến theo hướng tấn công tự sát. Chiếc tàu khu trục cơ động để xoay đối thủ vào hướng ngắm bắn; và cho dù bị bắn trúng hỏa lực phòng không 20&amp;amp;nbsp;mm và 40&amp;amp;nbsp;mm của &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039;, đối thủ vẫn cố lao vào ống khói số 2 của con tàu. Tuy nhiên đối phương bị trượt, sượt qua con tàu và rơi xuống nước ở cách {{convert|50|yd|m|-1}} ngang với cầu tàu. Chiếc tàu bay nổ tung khi chạm mặt nước, tung một cơn mưa mảnh đạn và mảnh vỡ khắp sàn tàu, làm thủng lổ nhiều chỗ dọc lườn tàu bên mạn trái và làm một thủy thủ bị thương. Sau khi những chiếc LST hoàn tất việc chất dỡ vào chiều tối hôm đó, đoàn tàu lên đường quay trở về Leyte, nơi &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; thả neo cho đến hết năm [[1944]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1945 ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; rời vịnh Leyte vào ngày [[2 tháng 1]] năm [[1945]] trong thành phần hộ tống các thiết giáp hạm và tàu tuần dương thuộc Đội đặc nhiệm 77.2, đơn vị hỗ trợ hỏa lực. Trên đường đi [[Luzon]], phía Nhật Bản cố ngăn chặn đội đặc nhiệm bằng một loạt các cuộc không kích nặng nề, gây hư hại cho nhiều con tàu. Vào sáng sớm ngày [[9 tháng 1]], nó tiếp cận gần bờ để hỗ trợ hỏa lực cho [[Trận Luzon|cuộc đổ bộ]] lên [[vịnh Lingayen]], rồi tuần tra vùng biển lân cận trong tuần lễ tiếp theo đề phòng đối phương phản công. Sau khi ghé qua Leyte trong hai ngày, con tàu đi đến vũng biển Ulithi vào ngày [[26 tháng 1]], nơi nó được sửa chữa và tiếp liệu trong ba tuần nhằm chuẩn bị cho [[Trận Iwo Jima]] tiếp theo.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; cùng Đội đặc nhiệm 52.19 lên đường vào ngày [[10 tháng 2]], tiến hành tổng dượt đổ bộ tại khu vực phụ cận Saipan từ ngày [[12 tháng 2|12]] đến ngày [[14 tháng 2]], và đi đến [[Iwo Jima]] hai ngày sau đó. Trong khi hòn đảo chịu đựng bắn phá từ trên không và từ hạm tàu nổi, chiếc tàu khu trục đã hỗ trợ gần cho hoạt động trinh sát bãi đổ bộ và quét mìn. Đến sáng ngày [[19 tháng 2]], các [[Sư đoàn 4 Thủy quân Lục chiến (Hoa Kỳ)|Sư đoàn 4]] và [[Sư đoàn 5 Thủy quân Lục chiến (Hoa Kỳ)|5 Thủy quân Lục chiến]] đã đổ bộ lên bờ biển phía Đông của Iwo Jima, khởi đầu một trận chiến ác liệt và đẫm máu nhằm giành quyền kiểm soát đảo tiền tiêu được phòng thủ chặt chẽ này.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; chịu đựng hỏa lực mạnh mẽ của một khẩu đội pháo bờ biển Nhật Bản vào ngày [[27 tháng 2]], nhưng nó được thiết giáp hạm {{USS|West Virginia|BB-48|3}} giúp đỡ vô hiệu hóa. Trong thời gian còn lại của [[tháng 2]] và [[tháng 3]], nó tuần tra tại khu vực được phân công và bắn hỏa lực hỗ trợ lực lượng trên bộ theo yêu cầu, đôi khi hoạt động như một cột mốc radar canh phòng. Nó lên đường đi [[quần đảo Caroline]] vào ngày [[9 tháng 3]], và sau một chặng dừng tiếp nhiên liệu tại Saipan đã đi đến Ulithi vào ngày [[13 tháng 3]], nơi nó có một tuần lễ nghỉ ngơi, sửa chữa và tiếp liệu nhằm chuẩn bị cho [[Trận Okinawa|cuộc đổ bộ]] tiếp theo lên [[Okinawa]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; lên đường vào ngày [[21 tháng 3]], hướng đến khu vực [[quần đảo Ryūkyū]] trong thành phần bảo vệ chống tàu ngầm cho các [[tàu quét mìn]]. Nó gặp gỡ đội tàu quét mìn vào ngày [[25 tháng 3]], và trong hai ngày tiếp theo đã hộ tống bảo vệ chúng trong các hoạt động quét mìn về phía Tây Okinawa. Trong năm ngày tiếp theo, nó luân phiên nhiệm vụ cột mốc radar canh phòng và bắn phá các hệ thống công sự phòng thủ của đối phương trên đảo.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào ngày [[1 tháng 4]], &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; bắt đầu một lượt nhiệm vụ cột mốc radar canh phòng kéo dài hai tuần. Các chuyến tuần tra khá bình yên của nó tương phản với những hoạt động tác chiến ác liệt của các tàu khu trục khác ở những trạm lân cận. Tuy nhiên vận may của nó thay đổi vào ngày [[16 tháng 4]], khi vào sáng hôm đó, phía Nhật Bản tung ra một đợt tấn công Kamikaze quy mô lớn, bao gồm 165 máy bay tham gia; đây là đợt thứ ba trong tổng số mười đợt tấn công tự sát được tung ra trong suốt chiến dịch Okinawa. Tàu khu trục {{USS|Laffey|DD-724|3}} chịu đựng tấn công nặng nề nhất trong đợt này, bị đánh trúng ít nhất sáu máy bay Kamikaze, bốn quả bom cùng nhiều phát suýt trúng. &amp;#039;&amp;#039;Laffey&amp;#039;&amp;#039; phát thông điệp cầu cứu, và &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; đã khẩn cấp di chuyển đến nơi để trợ giúp tàu bạn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi đẩy lui vài đợt tấn công lẻ tẻ, &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; trở thành mục tiêu của một đợt tấn công phối hợp của sáu máy bay đối phương. Ba chiếc &amp;quot;Zero&amp;quot; tiếp cận sát mặt nước; một chiếc bị hỏa lực phòng không bên mạn trái bắn rơi, chiếc thứ hai bị máy bay tiêm kích tuần tra chiến đấu trên không tiêu diệt, nhưng chiếc thứ ba cho dù đã bị bắn trúng liên tục và bốc cháy vẫn tiếp tục đâm trúng &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; ngay bên dưới cầu tàu gần phòng vô tuyến. Quả bom chiếc máy bay mang theo kích nổ làm bốc cháy cầu tàu và gây hư hại nặng cho hệ thống thông tin liên lạc, kiểm soát hỏa lực và radar. Các đội kiểm soát hư hỏng đã nhanh chóng dập tắt đám cháy trong vòng vài phút, và con tàu có thể di chuyển được ở tốc độ {{convert|23|kn|km/h|abbr=on}}. Vụ tấn công đã gây tổn thất nhân mạng nặng nề cho con tàu, khiến 34 người tử trận và 33 người bị thương. Chiếc tàu khu trục cũng bị hư hại vật chất nặng đến mức nó phải được gửi về Hoa Kỳ để sửa chữa, và con tàu cố lết về [[Kerama Retto]] để sửa chữa tạm thời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào ngày [[27 tháng 4]], sau khi những lớp vá tạm thời đảm bảo cho chuyến đi, &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; lên đường quay trở về Hoa Kỳ ngang qua [[Guam]], Eniwetok và Trân Châu Cảng. Nó về đến [[San Francisco, California|San Francisco]] vào ngày [[28 tháng 5]], và ngay ngày hôm sau đã vào ụ tàu của hãng [[United Engineering]] Co., Ltd. ở [[Alameda, California|Alameda]]. Ngoài việc sửa chữa những hư hại trong chiến đấu, con tàu còn được nâng cấp dàn hỏa lực phòng không. Tuy nhiên công bị bị kéo dài hơn bốn tháng, lúc Thế Chiến II kết thúc. Cuối cùng vào ngày [[20 tháng 9]], nó chạy thử máy sau sửa chữa trong sáu ngày, bộc lộ một số vấn đề về điện không được khắc phục trong quá trình đại tu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Sau chiến tranh ===&lt;br /&gt;
Được xem là không phù hợp để tiếp tục hoạt động, &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; đi đến [[San Diego, California]] vào ngày [[27 tháng 9]], chuẩn bị để cho ngừng hoạt động. Nó được đưa về lực lượng dự bị vào ngày [[9 tháng 7]], [[1946]], rồi xuất biên chế vào ngày [[15 tháng 1]], [[1947]] trong thành phần Hạm đội Dự bị Thái Bình Dương, và bị bỏ không trong gần 30 năm. Cuối cùng tên nó được rút khỏi danh sách [[Đăng bạ Hải quân]] vào ngày [[30 tháng 6]], [[1968]], và con tàu được bán cho hãng Luria Brothers vào [[tháng 4]], [[1976]] và được tháo dỡ vào [[tháng 7]], [[1976]].&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích web |url=http://www.history.navy.mil/danfs/b10/bryant-i.htm |ngày truy cập=2018-08-31 |tựa đề=DANFS entry on Bryant |archive-date=2006-07-23 |archive-url=https://web.archive.org/web/20060723053252/http://www.history.navy.mil/danfs/b10/bryant-i.htm |url-status=dead }}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref&amp;gt;[http://www.winslowsupply.com/bryant/history.htm USS Bryant Veterans Association&amp;#039;s History Page]&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Phần thưởng ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng danh hiệu [[Đơn vị Tưởng thưởng Hải quân]] cùng bảy [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
{{tham khảo}}&lt;br /&gt;
{{Refbegin}}&lt;br /&gt;
* Bài này có các trích dẫn từ nguồn [[:en:Dictionary of American Naval Fighting Ships]] thuộc [[phạm vi công cộng]]&lt;br /&gt;
{{Refend}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
{{Commonscat|USS Bryant (DD-665)}}&lt;br /&gt;
*[http://www.ussbryant.org       USS &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039; Veterans Association&amp;#039;s official website] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20161127222704/http://www.ussbryant.org/ |date=2016-11-27 }}&lt;br /&gt;
*[http://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/b/bryant-i.html  history.navy.mil: USS &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039;] (&amp;#039;&amp;#039;DANFS&amp;#039;&amp;#039;, revised Nov 2005)&lt;br /&gt;
*[http://www.destroyerhistory.org/fletcherclass/commendationdd665.html Text of Navy Unit Commendation Medal]&lt;br /&gt;
*[http://www.navsource.org/archives/05/665.htm        navsource.org: USS &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039;] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20161130051557/http://www.navsource.org/archives/05/665.htm |date=2016-11-30 }}&lt;br /&gt;
*[http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd665txt.htm  hazegray.org: USS &amp;#039;&amp;#039;Bryant&amp;#039;&amp;#039;] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20060927101626/http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd665txt.htm |date=2006-09-27 }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu khu trục Fletcher}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Mỹ}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Bryant (DD-665)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu khu trục Fletcher]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu thủy năm 1943]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;InternetArchiveBot</name></author>
	</entry>
</feed>