<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Capelin_%28SS-289%29</id>
	<title>USS Capelin (SS-289) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Capelin_%28SS-289%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Capelin_(SS-289)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-11T03:03:37Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Capelin_(SS-289)&amp;diff=7735030&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;InternetArchiveBot: Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Capelin_(SS-289)&amp;diff=7735030&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-02-26T01:28:58Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
| Ship image = Ss289-side.jpg&lt;br /&gt;
| Ship caption = USS &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; trong một buổi huấn luyện ở ngoài khơi [[New London, Connecticut]], tháng 8 năm 1943&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career|Hide header=|Ship country=Hoa Kỳ|Ship flag={{USN flag|1943}}|Ship name=USS &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039;|Ship builder=[[Xưởng Hải quân Portsmouth]], [[Kittery, Maine]]{{sfn|Friedman|1995|p=285–304}}|Ship laid down=14 tháng 9 năm 1942{{sfn|Friedman|1995|p=285–304}}|Ship launched=20 tháng 1 năm 1943{{sfn|Friedman|1995|p=285–304}}|Ship commissioned=4 tháng 6 năm 1943{{sfn|Friedman|1995|p=285–304}}|Ship decommissioned=|Ship struck=Không rõ|Ship fate=Mất tích ở ngoài khơi [[Sulawesi]], sau ngày 2 tháng 12 năm 1943{{sfn|Bauer|Roberts|1991|p=275–280}}|Ship honors=* [[File:Silver-service-star-3d.png|20px]] [[File:Bronze-service-star-3d.svg|18px]] 1 × [[Ngôi sao Chiến trận]]|Ship identification=&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;SS-289&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;|Ship namesake=[[Cá trứng]]|Ship sponsor=Bà I. C. Bogart|Ship ordered=24 tháng 12 năm 1941}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
| Hide header = &lt;br /&gt;
| Header caption = &lt;br /&gt;
| Ship class = [[Tàu ngầm lớp Balao|Lớp tàu ngầm &amp;#039;&amp;#039;Balao&amp;#039;&amp;#039;]]{{sfn|Bauer|Roberts|1991|p=275–280}}&lt;br /&gt;
| Ship displacement = *{{convert|1526|LT|t|lk=on}} khi nổi{{sfn|Bauer|Roberts|1991|p=275–280}}&lt;br /&gt;
*{{convert|2414|LT|t|abbr=on}} khi lặn{{sfn|Bauer|Roberts|1991|p=275–280}}&lt;br /&gt;
| Ship length = {{convert|311|ft|10|in|m|abbr=on}}{{sfn|Bauer|Roberts|1991|p=275–280}}&lt;br /&gt;
| Ship beam = {{convert|27|ft|3|in|m|abbr=on}}{{sfn|Bauer|Roberts|1991|p=275–280}}&lt;br /&gt;
| Ship draft = {{convert|16|ft|10|in|m|abbr=on}} ở mức tối đa{{sfn|Bauer|Roberts|1991|p=275–280}}&lt;br /&gt;
| Ship propulsion = *4 x [[Động cơ Diesel Fairbanks Morse 38D8-1⁄8|động cơ diesel Fairbanks Morse 38D8-1⁄8]] dẫn động máy phát điện &lt;br /&gt;
*2 x ắc quy Sargo 126-cell&lt;br /&gt;
*4 x động cơ điện Ellitott với hộp số giảm tốc&lt;br /&gt;
*2 x trục chân vịt&lt;br /&gt;
*5.400 shp (4.0 MW) khi nổi&lt;br /&gt;
*2.740 shp (2.04 MW) khi lặn&lt;br /&gt;
| Ship speed = *{{convert|20,25|kn|mph km/h|lk=on}} khi nổi{{sfn|Friedman|1995|p=305–311}}&lt;br /&gt;
*{{convert|8,75|kn|mph km/h}} khi lặn{{sfn|Friedman|1995|p=305–311}}&lt;br /&gt;
| Ship range = {{convert|11000|nmi|mi km|lk=on}} khi nổi ở vận tốc {{convert|10|kn|mph km/h}}{{sfn|Friedman|1995|p=305–311}}&lt;br /&gt;
| Ship endurance = *48 giờ ở vận tốc {{convert|2|kn|mph km/h}} khi lặn{{sfn|Friedman|1995|p=305–311}}&lt;br /&gt;
*75 ngày tuần tra&lt;br /&gt;
| Ship test depth = {{convert|400|ft|m|abbr=on}}{{sfn|Friedman|1995|p=305–311}}&lt;br /&gt;
| Ship complement = 10 sĩ quan, 70 thủy thủ{{sfn|Friedman|1995|p=305–311}}&lt;br /&gt;
| Ship sensors = * Hệ thống Sonar QC&lt;br /&gt;
* Radar dò tìm mặt biển SJ&lt;br /&gt;
* Radar cảnh giới bầu trời SD&lt;br /&gt;
* Radar dẫn bắn ST&lt;br /&gt;
| Ship EW = Máy tính Xử lý Dữ liệu cho Ngư lôi (TDC)&lt;br /&gt;
| Ship armament = * 10 x ống phóng ngư lôi 21-inch (533 mm) &lt;br /&gt;
** 6 x ống phóng ở mũi tàu&lt;br /&gt;
** 4 x ống phóng ở đuôi tàu&lt;br /&gt;
** 24 ngư lôi &lt;br /&gt;
* 1 x pháo 4-inch (102 mm)/50 caliber Mk. 9 &lt;br /&gt;
* 2 x pháo Oerlikon 20 mm&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;USS &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; (SS-289)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; là một [[tàu ngầm]] [[Balao (lớp tàu ngầm)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Balao&amp;#039;&amp;#039;]] và là con tàu duy nhất của [[Hải quân Hoa Kỳ]] được đặt tên theo loài [[cá trứng]]. &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; chìm không rõ nguyên nhân vào tháng 12 năm 1943 với toàn bộ 76 thành viên thủy thủ đoàn. Đây là chiếc tàu ngầm thứ hai của lớp &amp;#039;&amp;#039;Balao&amp;#039;&amp;#039; bị bắn chìm và là một trong chín chiếc tàu ngầm của lớp bị mất trong [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Chiến tranh Thế giới thứ hai]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
{{main|Balao (lớp tàu ngầm)}}&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Stern view of the Capelin (SS-289).jpeg|trái|nhỏ|&amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; (phải) đang trong quá trình kiểm tra để chuẩn bị hạ thủy tại Xưởng Hải quân Portsmouth, 20 tháng 1 năm 1943. Chiếc nằm bên trái &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; là &amp;#039;&amp;#039;[[USS Cisco (SS-290)|Cisco]]&amp;#039;&amp;#039;.]]&lt;br /&gt;
Lớp &amp;#039;&amp;#039;Balao&amp;#039;&amp;#039; được người Mỹ có nhiều điểm tương đồng thiết kế của [[Gato (lớp tàu ngầm)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Gato&amp;#039;&amp;#039;]] trước đó. Cải tiến nổi bật nhất của lớp &amp;#039;&amp;#039;Balao&amp;#039;&amp;#039; là người Mỹ sử dụng thép cường độ cao HTS, có độ dày và độ đàn hồi cao hơn hẳn so với loại thép được dùng làm vỏ tàu của các tàu ngầm lớp &amp;#039;&amp;#039;Gato&amp;#039;&amp;#039;, để làm vỏ tàu của các tàu ngầm lớp &amp;#039;&amp;#039;Balao.&amp;#039;&amp;#039;{{sfn|Friedman|1995|p=311}} Chính nhờ điều này mà các tàu ngầm lớp &amp;#039;&amp;#039;Balao&amp;#039;&amp;#039; có thể lặn xuống độ sâu tối đa khoảng 200 mét, sâu hơn khoảng 30 mét so với độ sâu tối đa mà những tàu ngầm lớp &amp;#039;&amp;#039;Gato&amp;#039;&amp;#039; có thể lặn xuống, nhưng được hạ xuống còn 120 mét để đảm bảo sự an toàn của thủy thủ đoàn.{{sfn|Friedman|1995|p=311}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hình dáng bên ngoài của lớp &amp;#039;&amp;#039;Balao&amp;#039;&amp;#039; cũng được thay đổi đáng kể. Hệ thống đảo thượng tầng và cột kính tiềm vọng đã được tối giản để giảm khả năng tàu bị phát hiện khi nổi trên mặt nước. Toàn bộ mái che đã được tháo bỏ khỏi đảo thượng tầng của các tàu ngầm lớp &amp;#039;&amp;#039;Balao&amp;#039;&amp;#039; để giảm độ nặng của tàu, và có thể lắp đặt thêm các khẩu pháo phòng không và mở rộng hệ thống radar và ăng ten phụ.{{sfn|Friedman|1995|p=311}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; có chiều dài tổng thể là 95 mét, và có mức choán nước là 1.526 tấn Anh (1.550 tấn) khi nổi và 2.414 tấn Anh (2.453 tấn) khi lặn.{{sfn|Friedman|1995|p=209-210}} Con tàu sử dụng bốn [[động cơ diesel]] chín [[xi lanh]] có piston đối đỉnh Fairbanks-Morse 38D8-1⁄8, kết hợp với bốn động cơ điện Ellitott, và hai ắc quy Sargo 126 cell. Hệ thống kết hợp này có ưu điểm lớn là các động cơ có thể tự hoạt động một cách độc lập với nhau trong bất kỳ tình huống nào, bao gồm trường hợp dùng chúng làm động cơ dẫn động máy phát điện và động cơ dẫn động trục chân vịt.{{sfn|Friedman|1995|p=311}} Động cơ đầy của tàu có thể tạo ra mức công suất tối đa là 5.400 shp khi nổi, 2.740 shp khi lặn, đồng thời giúp con tàu đạt được tốc độ di chuyển tối đa là 20,25 knot khi nổi và 8,75 knot khi lặn.{{sfn|Friedman|1995|p=311}} &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; có tầm hoạt động là 11.000 hải lý khi nổi ở vận tốc 10 knot/giờ và có thể tác chiến tuần tra liên tục trong vòng 75 ngày.{{sfn|Friedman|1995|p=311}}&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Capelin Launching.jpeg|trái|nhỏ|&amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; trong buổi lễ hạ thủy, 20 tháng 1 năm 1943.]]&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; được lắp đặt 10 ống phóng ngư lôi 21-inch (sáu ống ở mũi tàu và bốn ống ở đuôi tàu) và mang tổng cộng 24 quả ngư lôi Mark 14.{{sfn|Friedman|1995|p=311}} Con tàu được lắp đặt hệ thống điện tử TDC (Torpedo Data Computer), có thể xử lý dữ liệu thu được từ kính tiềm vọng hoặc sonar của tàu và cho ra những thông số chính xác về khoảng cách tới các mục tiêu, góc bắn và tốc độ di chuyển của tàu đối phương.{{sfn|Friedman|1995|p=311}} &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; được trang bị một khẩu hải pháo 4-inch (102&amp;amp;nbsp;mm)/50 caliber ở phía trước đảo thượng tầng, hai pháo Oerlikon 20&amp;amp;nbsp;mm ở phía trước và sau của đài chỉ huy, và hai khẩu súng máy hạng nặng M3 Browning không cố định (khi cần sẽ mang lên boong tàu sử dụng).{{sfn|Friedman|1995|p=311}} Con tàu có thể mang được tối đa 40,88 tấn đạn dược các loại. Cảm biến điện tử của tàu bao gồm hệ thống Sonar QC,&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích web|url=https://maritime.org/doc/sonar/chap14.htm|tựa đề=Naval Sonar|tác giả=Bureau of Naval Personal|tên=|ngày=1953|website=San Francisco Maritime National Park Association|url-status=live|ngày truy cập=2022-07-16}}&amp;lt;/ref&amp;gt; radar dò tìm mặt biển SJ,&amp;lt;ref name=&amp;quot;RADAR&amp;quot;&amp;gt;{{Chú thích tập san học thuật|author=Macintyre, Donald, CAPT RN|date=September 1967|title=Shipborne Radar|publisher=United States Naval Institute Proceedings}}&amp;lt;/ref&amp;gt; radar cảnh giới bầu trời SD,&amp;lt;ref name=&amp;quot;NRL&amp;quot;&amp;gt;{{Chú thích sách|url=https://archive.org/details/DTIC_ADA084225|title=Evolution of Naval Radio-Electronics and Contributions of the Naval Research Laboratory|last1=Gebhard|first1=Louis A.|date=1979|publisher=Naval Research Laboratory|location=Washington, D.C.|page=186|access-date=13 July 2021}}&amp;lt;/ref&amp;gt; và kính tiềm vọng của tàu được tích hợp radar đo khoảng cách ST.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; được đặt lườn tại Xưởng Hải quân Portsmouth ở Kittery, [[Maine]] vào ngày 14 tháng 9 năm 1942 và được hạ thủy vào ngày 20 tháng 1 năm 1943. Con tàu được đỡ đầu bởi Bà I. C. Bogart và nhập biên chế vào ngày 4 tháng 6 năm 1943, dưới sự chỉ huy của Thiếu tá Elliot E. Marshall.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Capelin&amp;quot;&amp;gt;{{Chú thích web|url=https://www.history.navy.mil/research/library/online-reading-room/title-list-alphabetically/u/united-states-submarine-losses/capelin-ss-289.html|tựa đề=Capelin (SS 289))|website=Naval History and Heritage Command|url-status=live|ngày truy cập=2022-08-17}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
=== Chiến tranh Thế giới thứ hai ===&lt;br /&gt;
Sau khi được đưa vào hoạt động, &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; bắt đầu trải qua một loạt bài tập huấn luyện kéo dài 40 ngày về quy trình vận hành tàu ngầm khi lặn/nổi, cách tấn công, ẩn mình và kiểm soát thiệt hại, cũng như các đợt nâng cấp nhỏ lẻ khác. Ngày 3 tháng 9 năm 1943, &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; rời [[New London, Connecticut|New London]] và di chuyển về [[Trân Châu Cảng]] thông qua [[Kênh đào Panama]]. Con tàu gia nhập [[Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ]] ở Trân Châu Cảng vào ngày 13 tháng 9 năm 1943 và được biên chế vào Hải đoàn 161, Hải đội Tàu ngầm 16 của [[Đệ Thất hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Thất Hạm đội]].&amp;lt;ref name=&amp;quot;Capelin&amp;quot; /&amp;gt;{{sfn|Historic Naval Ships Association|1978|p=6}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra đầu tiên, Tháng 10 - Tháng 11 năm 1943 ====&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Skipper of the Capelin.jpeg|nhỏ|Thiếu tá Elliot E. Marshall, thuyền trưởng của USS &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; (SS-289).]]&lt;br /&gt;
Sau khi hoàn thành các đợt huấn luyện tăng cường, &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; rời Trân Châu Cảng vào ngày 30 tháng 10 năm 1943 và bắt đầu chuyến tuần tra đầu tiên ở vùng biển [[Biển Molucca|Molucca]], [[Biển Flores|Flores]] và [[Biển Banda|Banda]].&amp;lt;ref name=&amp;quot;Capelin&amp;quot;/&amp;gt;{{sfn|Historic Naval Ships Association|1978|p=6}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 11 tháng 11 năm 1943, &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; phát hiện và tấn công một tàu vận tải Nhật Bản ở ngoài khơi [[Đảo Ambon]] lúc 12:28. Sau khi thu hẹp khoảng cách còn khoảng ba [[kilômét]], &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; bắn bốn quả ngư lôi về phía mục tiêu lúc 14:16. Gần hai phút sau, thủy thủ đoàn của &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; thấy hai cột nước lớn bốc lên ở bên cạnh mục tiêu tấn công của họ. Tàu vận tải &amp;#039;&amp;#039;Kunitama Maru&amp;#039;&amp;#039; (3.127 tấn) - mục tiêu đầu tiên của &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039;, bị trúng hai quả ngư lôi vào giữa tàu và tạo ra một chuỗi vụ nổ lớn, trước khi gãy đôi và chìm ở tọa độ [https://www.google.com/maps/place/3°05&amp;#039;00.0&amp;amp;#x22;S+127°22&amp;#039;00.0&amp;amp;#x22;E/@-3.0833279,127.3644727,17z/data=!3m1!4b1!4m5!3m4!1s0x0:0x77bc7f460fd30989!8m2!3d-3.0833333!4d127.3666667?hl=en 3°05&amp;#039; Nam, 127°22&amp;#039; Đông]. Vào chiều tối ngày hôm đó, &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; tiếp tục tấn công và báo cáo bắn chìm một tàu vận tải không rõ tên (4.000 tấn) ở phía đông-bắc Đảo Kelang.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Capelin&amp;quot;/&amp;gt;{{sfn|Historic Naval Ships Association|1978|p=14-16}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 15 tháng 11, &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; rút khỏi khu vực và quay trở về [[Darwin (Úc)|Darwin]] để sửa chữa khẩn cấp sau khi phát hiện ra lỗi hỏng hóc ở cửa sập của tháp chỉ huy, cánh tà ngang của tàu xuất hiện những tiếng ồn lớn và radar gặp trục trặc. Con tàu cập bến Darwin vào ngày 16 và kết thúc chuyến tuần tra đầu tiên chỉ kéo dài 17 ngày.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Capelin&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Mất tích ====&lt;br /&gt;
Sau khi khắc phục được các lỗi phát sinh trên con tàu, &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; bắt đầu chuyến tuần tra thứ hai vào ngày 17 tháng 11 năm 1943 ở vùng biển [[Biển Molucca|Mulcca]] và [[Biển Celebes|Celebes]]. Con tàu sau đó tập trung tuần tra ở Vịnh Kaoe, Eo biển Morotai, Vịnh Davao và các tuyến vận tải thương mại ở gần các đảo Siaoe, Sangi, Talaud và Sarangani.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Capelin&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tàu ngầm [[USS Bonefish (SS-223)|USS &amp;#039;&amp;#039;Bonefish&amp;#039;&amp;#039;]] sau đó báo cáo phát hiện một tàu ngầm khác của Mỹ lúc 17:53 ở tọa độ [https://www.google.com/maps/place/1°14&amp;#039;00.0&amp;amp;#x22;N+123°50&amp;#039;00.0&amp;amp;#x22;E/@1.2333333,123.8333333,17z/data=!3m1!4b1!4m5!3m4!1s0x0:0xbeb300f3e01a4d18!8m2!3d1.2333333!4d123.8333333?hl=en 1°14&amp;#039; Bắc, 123°50&amp;#039; Đông] vào ngày 2 tháng 12 năm 1943, tại khu vực tuần tra được giao cho &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; lúc đó. Sau khi phát hiện ra &amp;#039;&amp;#039;Bonefish&amp;#039;&amp;#039;, chiếc tàu ngầm lạ kia bắt đầu lặn xuống. Thiếu tá Thomas W. Hogan, thuyền trưởng của &amp;#039;&amp;#039;Bonefish&amp;#039;&amp;#039;, đã cho đánh tín hiệu sonar với nội dung là &amp;quot;Steam&amp;quot; - biệt danh của thuyền trưởng Marshall, tới chiếc tàu ngầm kia, và được xác nhận hồi âm. Đó là tin liên lạc cuối cùng được truyền đi từ chiếc &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039;. Ngày 6 tháng 12, &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; được lệnh quay trở về Fremantle, Úc, nhưng không được phía &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; xác nhận hay đánh tín hiệu lại. Ngày 9 tháng 12 năm 1943, Bộ Chỉ huy Lực lượng Tàu ngầm ngừng duy trì im lặng radio và cố gắng liên lạc trực tiếp tới &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; thông qua sóng [[radio]], nhưng vẫn không nhận lại được bất kỳ hồi âm nào từ con tàu.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Capelin&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo báo cáo của [[Hải quân Đế quốc Nhật Bản]], tàu rải mìn &amp;#039;&amp;#039;Wakataka&amp;#039;&amp;#039; đã tấn công và ghi nhận đánh chìm một mục tiêu được cho là tàu ngầm của Hoa Kỳ vào ngày 23 tháng 11 năm 1943 ở Vịnh Kaoe, [[Halmahera]]. &amp;#039;&amp;#039;Wakataka&amp;#039;&amp;#039; báo cáo sau đó đã thấy những vệt nước đen giống [[dầu]] nổi lên cùng với các mảnh vụn gỗ và một bè cứu sinh. Nhưng cuộc tấn công này diễn ra chín ngày trước lần liên lạc cuối cùng của &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; với &amp;#039;&amp;#039;Bonefish&amp;#039;&amp;#039;. Theo Hải quân Hoa Kỳ, khả năng cao là &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; đã bị chìm tại [[Biển Celebes]] hoặc Molucca vào tháng 12 năm 1943. Các khu vực này đã được quân Nhật rải mìn và [[thủy lôi]] dày đặc, và &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; có thể đã bị trúng mìn ở đó.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Capelin&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Khen thưởng ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng một Ngôi sao Chiến trận trong thời gian phục vụ ở [[Chiến tranh Thái Bình Dương|Mặt trận Thái Bình Dương]] trong [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Chiến tranh Thế giới thứ hai]]. &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039; được ghi nhận bắn chìm một tàu vận tải 3.127 tấn trong chuyến tuần tra đầu tiên của tàu.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Capelin&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Chú thích ===&lt;br /&gt;
&amp;lt;references /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Sách tham khảo ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* {{Chú thích sách|title=Register of Ships of the U.S. Navy, 1775–1990: Major Combatants|url=https://archive.org/details/registerofshipso0000baue|last1=Bauer|first1=K. Jack|last2=Roberts|first2=Stephen S.|publisher=Greenwood Press|year=1991|isbn=0-313-26202-0|location=[[Westport, Connecticut]]}}&lt;br /&gt;
* {{Chú thích sách|title=Silent Victory: The U.S. Submarine War against Japan|url=https://archive.org/details/silentvictoryuss0000blai|last=Blair|first=Clay,Jr.|publisher=Bantam|year=1976|isbn=9780553010503|location=New York|author-link=Clay Blair}}; also Naval Institute Press, March 2001, {{ISBN|978-1-55750-217-9}}&lt;br /&gt;
* {{Chú thích sách|title=U.S. Submarines through 1945: An Illustrated Design History|url=https://archive.org/details/ussubmarinesthro0000frie|last=Friedman|first=Norman|publisher=Annapolis|year=1995|isbn=978-1-55750-263-6}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Tài liệu tham khảo ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* {{Chú thích web|url=https://issuu.com/hnsa/docs/ss-289_capelin|tựa đề=USS Capelin (SS-289), Submarine War Patrol Reports|tác giả=Historic Naval Ships Association|ngày=1978|url-status=dead|access-date=2022-08-17|archive-date=2022-08-17|archive-url=https://web.archive.org/web/20220817051401/https://issuu.com/hnsa/docs/ss-289_capelin}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
{{Commons category|USS Capelin (SS-289)}}&lt;br /&gt;
* [http://www.oneternalpatrol.com/uss-capelin-289.htm On Eternal Patrol: USS &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039;]&lt;br /&gt;
* [http://pigboats.com/ww2/capelin.html Kill Record:  USS &amp;#039;&amp;#039;Capelin&amp;#039;&amp;#039;] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20230604190040/http://pigboats.com/ww2/capelin.html |date=2023-06-04 }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu ngầm Balao}}&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Mỹ}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu thủy năm 1943]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu ngầm|Capelin]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu ngầm Hoa Kỳ|Capelin]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu ngầm của Hải quân Hoa Kỳ trong Thế Chiến II|Capelin]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Sự cố hàng hải năm 1943]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu ngầm bị tàu Nhật Bản đánh chìm]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Xác tàu đắm trong Thế Chiến II tại Thái Bình Dương]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu ngầm Balao]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu ngầm bị mất tích trong Thế Chiến II]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;InternetArchiveBot</name></author>
	</entry>
</feed>