<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Ellyson_%28DD-454%29</id>
	<title>USS Ellyson (DD-454) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Ellyson_%28DD-454%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Ellyson_(DD-454)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-11T17:20:30Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Ellyson_(DD-454)&amp;diff=6348694&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;InternetArchiveBot: Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Ellyson_(DD-454)&amp;diff=6348694&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-06-18T01:08:36Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image= [[Tập tin:USS Ellyson (DD-454).jpg|300px|USS Ellyson (DD-454)]]&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu khu trục USS &amp;#039;&amp;#039;Ellyson&amp;#039;&amp;#039; (DD-454)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
| Ship country = Hoa Kỳ&lt;br /&gt;
| Ship flag = {{USN flag|1954}}&lt;br /&gt;
| Ship name = USS &amp;#039;&amp;#039;Ellyson&amp;#039;&amp;#039; (DD-454)&lt;br /&gt;
| Ship namesake = [[Theodore Gordon Ellyson]]&lt;br /&gt;
| Ship ordered = &lt;br /&gt;
| Ship awarded = &lt;br /&gt;
| Ship builder = [[Federal Shipbuilding and Drydock Company]]&lt;br /&gt;
| Ship original cost = &lt;br /&gt;
| Ship laid down = [[20 tháng 12]] năm [[1940]]&lt;br /&gt;
| Ship launched = [[26 tháng 7]] năm [[1941]]&lt;br /&gt;
| Ship sponsor = &lt;br /&gt;
| Ship completed = &lt;br /&gt;
| Ship acquired = &lt;br /&gt;
| Ship commissioned = [[28 tháng 11]] năm [[1941]]&lt;br /&gt;
| Ship recommissioned = &lt;br /&gt;
| Ship decommissioned = [[19 tháng 10]] năm [[1954]]&lt;br /&gt;
| Ship in service = &lt;br /&gt;
| Ship out of service = &lt;br /&gt;
| Ship renamed = &lt;br /&gt;
| Ship reclassified = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DMS-19&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;, [[15 tháng 11]] năm [[1944]]&lt;br /&gt;
| &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DD-454&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;, [[4 tháng 5]] năm [[1954]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship struck = [[1 tháng 2]] năm [[1970]]&lt;br /&gt;
| Ship nickname = &lt;br /&gt;
| Ship honors = 7 × [[Ngôi sao Chiến trận]]&lt;br /&gt;
| Ship captured = &lt;br /&gt;
| Ship fate = Chuyển cho [[Nhật Bản]], [[19 tháng 10]] năm [[1954]]&lt;br /&gt;
| Ship status = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
| Ship country = Nhật Bản&lt;br /&gt;
| Ship flag = {{shipboxflag|Japan|naval}}&lt;br /&gt;
| Ship name = JDS &amp;#039;&amp;#039;Asakaze&amp;#039;&amp;#039; (DD-181)&lt;br /&gt;
| Ship acquired = &lt;br /&gt;
| Ship struck = [[19 tháng 10]] năm [[1954]]&lt;br /&gt;
| Ship fate = Trả cho Hoa Kỳ [[1970]]; bán cho [[Đài Loan]] để tháo dỡ làm nguồn phụ tùng&lt;br /&gt;
| Ship status = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
| Ship class = [[Gleaves (lớp tàu khu trục)|Lớp tàu khu trục &amp;#039;&amp;#039;Gleaves&amp;#039;&amp;#039;]]&lt;br /&gt;
| Ship displacement = {{convert|1630 |LT|MT}} (tiêu chuẩn)&lt;br /&gt;
| Ship length = {{convert|348|ft|3|in|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship beam = {{convert|36|ft|1|in|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship draft = {{convert|13|ft|2|in|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship propulsion = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 2 × turbine hơi nước hộp số&lt;br /&gt;
| 4 × nồi hơi ống nước&lt;br /&gt;
| 2 × trục&lt;br /&gt;
| công suất {{convert|50000|shp|kW|abbr=on|lk=on}}&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship speed = {{convert|37,4|kn|km/h|0}}&lt;br /&gt;
| Ship range = {{convert|6500|nmi|lk=on|-1|abbr=on}} ở tốc độ {{convert|12|kn}}&lt;br /&gt;
| Ship endurance = &lt;br /&gt;
| Ship boats = &lt;br /&gt;
| Ship complement = 16 sĩ quan, 260 thủy thủ&lt;br /&gt;
| Ship crew = &lt;br /&gt;
| Ship sensors = &lt;br /&gt;
| Ship EW = &lt;br /&gt;
| Ship armament = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 5 × pháo [[Hải pháo 5 inch/38 caliber|{{convert|5|in|mm|abbr=on}}]];&lt;br /&gt;
| 6 × [[súng máy]] {{convert|0,5|in|mm|-1}};&lt;br /&gt;
| 6 × pháo phòng không [[Oerlikon 20 mm]];&lt;br /&gt;
| 10 × ống phóng [[ngư lôi]] [[Ngư lôi Mark 15|{{convert|21|in|mm|abbr=on}}]];&lt;br /&gt;
| 2 × đường ray thả [[mìn sâu]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship armor = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft facilities = &lt;br /&gt;
| Ship notes = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;USS &amp;#039;&amp;#039;Ellyson&amp;#039;&amp;#039; (DD-454/DMS-19)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; là một [[tàu khu trục]] [[Gleaves (lớp tàu khu trục)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Gleaves&amp;#039;&amp;#039;]] được [[Hải quân Hoa Kỳ]] chế tạo trong [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]]. Nó đã tham gia suốt Thế Chiến II, cải biến thành một [[tàu quét mìn cao tốc]] với ký hiệu lườn &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DMS-19&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;, sống sót qua cuộc xung đột, chuyển giao cho [[Nhật Bản]] năm [[1954]] như là chiếc &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;JDS &amp;#039;&amp;#039;Asakaze&amp;#039;&amp;#039; (DD-181)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; và tiếp tục phục vụ cho đến năm [[1970]]. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên [[Trung tá Hải quân]] [[Theodore Gordon Ellyson]] (1895-1928), sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ đầu tiên trở thành một phi công hải quân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
{{chính|Gleaves (lớp tàu khu trục)}}&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Ellyson&amp;#039;&amp;#039; được chế tạo tại xưởng tàu của hãng [[Federal Shipbuilding and Drydock Company]] ở [[Kearny, New Jersey]]. Nó được đặt lườn vào ngày [[20 tháng 12]] năm [[1940]]; được hạ thủy vào ngày [[26 tháng 7]] năm [[1941]], và được đỡ đầu bởi cô Gordon Ellyson, con gái Trung tá Ellyson. Con tàu được cho nhập biên chế cùng Hải quân Hoa Kỳ vào ngày [[28 tháng 11]] năm [[1941]], dưới quyền chỉ huy của [[Thiếu tá Hải quân]] L. B. Rooney.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
=== 1942 ===&lt;br /&gt;
Vẫn đang được trang bị hoàn tất khi Hoa Kỳ tham gia chiến tranh, &amp;#039;&amp;#039;Ellyson&amp;#039;&amp;#039; nhanh chóng sẵn sàng và bắt đầu tuần tra tại [[Đại Tây Dương]], bảo vệ tàu bè Đồng Minh tại khu vực giữa [[Halifax]], [[Nova Scotia]] cho đến [[Tây Ấn]] và vùng [[kênh đào Panama]]. Vào ngày [[14 tháng 1]] năm [[1942]], nó cứu vớt 24 người sống sót từ chiếc tàu [[Na Uy]] SS &amp;#039;&amp;#039;Norness&amp;#039;&amp;#039; bị đánh chìm. Vào ngày [[15 tháng 6]], nó trở thành [[soái hạm]] của Hải đội Khu trục 10, mà sau này được đổi tên thành Đội quét mìn 20. Sang [[tháng 8]], nó bắt đầu hoạt động cùng {{USS|Ranger|CV-4|2}}, và đã hộ tống cùng chiếc [[tàu sân bay]] trong suốt thời gian diễn ra cuộc đổ bộ lên [[Fedhala]], [[Maroc]] vào ngày [[8 tháng 11]], trong khuôn khổ [[Chiến dịch Torch]]. Sau hai tháng hoạt động hộ tống dọc theo vùng bờ Đông, nó lại tham gia cùng &amp;#039;&amp;#039;Ranger&amp;#039;&amp;#039; cho hai chuyến đi đến [[Casablanca]] vận chuyển máy bay [[Lục quân Hoa Kỳ|Lục quân]] sang [[Bắc Phi]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1943 ===&lt;br /&gt;
Vào ngày [[5 tháng 4]] năm [[1943]], &amp;#039;&amp;#039;Ellyson&amp;#039;&amp;#039; đi đến [[Căn cứ Hải quân Argentia|Argentia]], [[Newfoundland]], để chuẩn bị được điều động sang phục vụ cùng [[Hải quân Hoàng gia Anh]]. Nó lên đường đi sang [[Anh Quốc]] vào ngày [[12 tháng 5]] trong thành phần hộ tống cho các [[thiết giáp hạm]] {{USS|South Dakota|BB-57|2}} và {{USS|Alabama|BB-60|2}}, và hoạt động cùng [[Hạm đội Nhà Anh Quốc]] ngoài khơi [[Scapa Flow]] thuộc [[quần đảo Orkney]]. Nó làm nhiệm vụ hộ tống các đoàn tàu vận tải, bảo vệ từ xa cho các đoàn tàu [[Vận tải Bắc Cực (Thế Chiến II)|Vận tải Bắc Cực]] đi sang [[Murmansk]], [[Liên Xô]], cũng như tìm cách nhữ cho thiết giáp hạm [[Tirpitz (thiết giáp hạm Đức)|&amp;#039;&amp;#039;Tirpitz&amp;#039;&amp;#039;]] và các hạm tàu nổi [[Đức Quốc xã|Đức]] khác ra khỏi các căn cứ an toàn tại [[Na Uy]] để chiến đấu ngoài biển khơi. Vào [[tháng 7]], nó tham gia một cuộc tấn công nghi binh vào miền Nam Na Uy nhằm thu hút sự chú ý của quân Đức khỏi hoạt động chủ yếu: [[Chiến dịch Husky]] nhằm đổ bộ lực lượng Đồng Minh lên đảo [[Sicily]] của [[Ý]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Quay trở về [[Norfolk, Virginia]] vào ngày [[9 tháng 8]], &amp;#039;&amp;#039;Ellyson&amp;#039;&amp;#039; hộ tống cho {{USS|Iowa|BB-61|2}} trong chuyến đi chạy thử máy của chiếc thiết giáp hạm mới ngoài khơi Argentia, rồi cùng nó quay trở về Norfolk vào ngày [[24 tháng 10]]. Đến ngày [[3 tháng 11]], chiếc tàu khu trục lên đường trong thành phần hộ tống cho &amp;#039;&amp;#039;Iowa&amp;#039;&amp;#039; đưa [[Tổng thống Hoa Kỳ|Tổng thống]] [[Franklin D. Roosevelt]] đi tham dự [[Hội nghị Teheran]]. Tiếp tục hộ tống chiếc thiết giáp hạm, nó ghé qua [[Salvador, Bahia|Bahia]], [[Brazil]]; [[Freetown]], [[Sierra Leone]], [[Dakar]], và [[Port Royal, South Carolina]]; trước khi quay trở về [[Boston, Massachusetts]], vào ngày [[19 tháng 12]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1944 ===&lt;br /&gt;
Vào ngày [[6 tháng 1]] năm [[1944]], &amp;#039;&amp;#039;Ellyson&amp;#039;&amp;#039; một lần nữa tham gia cùng &amp;#039;&amp;#039;Ranger&amp;#039;&amp;#039; trong vai trò bảo vệ và canh phòng máy bay cho chiếc tàu sân bay trong [[vịnh Narragansett]]. Nó lên đường đi Bắc Phi vào ngày [[19 tháng 4]], đi đến [[Oran]] vào ngày [[1 tháng 5]]. Đến ngày [[16 tháng 5]], đang khi làm nhiệm vụ tuần tra chống tàu ngầm, nó bắt được tín hiệu [[sonar]] của chiếc [[U-boat]] [[U-616 (tàu ngầm Đức)|&amp;#039;&amp;#039;U-616&amp;#039;&amp;#039;]], và bước vào một cuộc săn lùng không-biển quyết liệt. Chiếc tàu ngầm đối phương nổi lên lúc 23 giờ 58 phút, để rồi lại nhanh chóng lặn xuống sau một cuộc đấu pháo tay đôi ngắn với tàu khu trục {{USS|Macomb|DD-458|2}}. &amp;#039;&amp;#039;Ellyson&amp;#039;&amp;#039; và {{USS|Hambleton|DD-455|2}} tiếp tục cuộc tấn công bằng [[mìn sâu]], buộc &amp;#039;&amp;#039;U-616&amp;#039;&amp;#039; lại phải nổi lên lần nữa. &amp;#039;&amp;#039;Ellyson&amp;#039;&amp;#039; tiêu diệt nó bằng hải pháo vào sáng ngày [[17 tháng 5]], trước khi cứu vớt 30 người sống sót.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Ellyson&amp;#039;&amp;#039; đi đến [[Plymouth]] vào ngày [[22 tháng 5]], thực hiện những chuẩn bị cuối cùng cho [[Chiến dịch Overlord]], cuộc [[Đổ bộ Normandy]]. Vào ngày [[6 tháng 6]], nó hộ tống cho cuộc không kích của tàu sân bay &amp;#039;&amp;#039;Ranger&amp;#039;&amp;#039; xuống [[Pointe de Hoc]] nhằm tiêu diệt các khẩu đội pháo duyên hải hạng nặng đối phương tại đây. Đến ngày [[25 tháng 6]], nó tham gia cuộc [[Bắn phá Cherbourg]], phá hủy các khẩu đội pháo, vô hiệu hóa [[thủy lôi]] cũng như thả khói ngụy trang cho các đơn vị hạm đội hạng nặng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Ellyson&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ [[Portland]] vào ngày [[29 tháng 6]] để tham gia [[Chiến dịch Dragoon]], cuộc đổ bộ của lực lượng Đồng Minh lên miền Nam nước Pháp vào ngày [[15 tháng 8]]. Nó dẫn đầu đội khu trục bắn pháo hỗ trợ ngay phía sau các [[tàu quét mìn]], tiêu diệt các công sự phòng thủ đối phương mở đường cho cuộc đổ bộ. Đang khi tuần tra vào ngày [[27 tháng 8]], nó chiếu sáng và ngăn chặn một tàu đánh cá nghi ngờ, bắt giữ 50 thủy thủ một tàu ngầm Đức đang tìm cách lẫn trốn. Nó tiếp tục hoạt động tuần tra bảo vệ cho việc đổ bộ lực lượng tăng viện và hỗ trợ cho cuộc tấn công cho đến [[tháng 10]], khi nó lên đường quay trở về Boston, đến nơi vào ngày [[8 tháng 11]], để được cải biến thành một [[tàu quét mìn cao tốc]]. Nó được xếp lại lớp với ký hiệu lườn mới &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DMS-19&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; vào ngày [[15 tháng 11]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
====1945====&lt;br /&gt;
Sau khi được huấn luyện trong [[vịnh Chesapeake]], &amp;#039;&amp;#039;Ellyson&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ Norfolk vào ngày [[3 tháng 1]] năm [[1945]] để đi sang khu vực [[Thái Bình Dương]]. Nó đi đến [[Okinawa]] vào ngày [[24 tháng 3]] cùng phần còn lại của hải đội để càn quét chuẩn bị trước [[Trận Okinawa|cuộc đổ bộ]] lên hòn đảo này. Sau đợt bắn phá chuẩn bị, nó hỗ trợ các tàu quét mìn nhỏ hơn rà quét các lối tiếp cận bãi đổ bộ và khu vực cảng bên trong. Sau cuộc đổ bộ ban đầu vào ngày [[1 tháng 4]], nó làm nhiệm vụ cột mốc [[radar]]. Những nhiệm vụ khác nhau và nguy hiểm được bố trí cho hải đội của nó trong suốt Chiến dịch Okinawa đã gây những tổn thất lớn lao, nên chỉ có ba trong 12 chiếc thuộc hải đội còn tiếp tục chiến đấu ba tháng sau đó. Vào ngày [[6 tháng 4]], nó đã đi đến trợ giúp cho tàu chị em {{USS|Emmons|DMS-22|2}}; tìm cách kéo con tàu bị bỏ lại sau khi bị máy bay tấn công cảm tử [[kamikaze]] đánh trúng. Tuy nhiên, những đám cháy và mối nguy cơ bị nổ [[hầm đạn]] đã khiến nó buộc phải đánh đắm &amp;#039;&amp;#039;Emmons&amp;#039;&amp;#039; hư hại nặng vào sáng sớm ngày [[7 tháng 4]], tránh cho con tàu khỏi trôi dạt về phía [[Ie Shima]] do quân Nhật kiểm soát. Bản thân &amp;#039;&amp;#039;Ellyson&amp;#039;&amp;#039; cũng nhiều lần bị tấn công và bắn trúng một số máy bay đối phương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến [[tháng 7]], &amp;#039;&amp;#039;Ellyson&amp;#039;&amp;#039; trở thành [[soái hạm]] của đội đặc nhiệm quét mìn tại [[biển Hoa Đông]]. Khi xung đột kết thúc, nó gia nhập [[Đệ Tam hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Tam hạm đội]] tại [[vịnh Tokyo]], làm nhiệmm vụ quét mìn mở đường cho tàu bè của lực lượng chiếm đóng. Đến [[tháng 9]], nó quay trở lại Okinawa, và từ căn cứ của nó tại [[vịnh Buckner]] đã chỉ huy việc quét mìn vùng biển nội địa Nhật Bản. Nó rời Viễn Đông vào ngày [[5 tháng 12]] để quay trở về Norfolk, đến nơi vào ngày [[5 tháng 1]] năm [[1946]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Sau chiến tranh ===&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Japanese destroyer Asakaze (DD-181) underway in 1959.jpg|thumb|Tàu khu trục &amp;#039;&amp;#039;Asakaze&amp;#039;&amp;#039; (DD-181) trên đường đi, năm [[1959]].]]&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Ellyson&amp;#039;&amp;#039; tiếp tục ở lại khu vực Đại Tây Dương, chủ yếu đặt căn cứ tại [[Charleston, South Carolina]] cho các hoạt động huấn luyện xa đến tận vùng [[biển Caribe]]. Vào năm [[1948]], nó tạm dừng hoạt động tại Charleston, nhưng lại hoạt động trở lại vào [[tháng 11]], khi nó lên đường đi Argentia làm nhiệm vụ quét mìn cho các cuộc thực tập đổ bộ. Được phối thuộc cùng Lực lượng Quét mìn [[Hạm đội Đại Tây Dương Hoa Kỳ|Hạm đội Đại Tây Dương]], nó tiếp tục hoạt động từ Charleston trong nhiệm vụ huấn luyện dọc theo vùng bờ Đông và vùng biển Caribe. Nó phục vụ tại [[Địa Trung Hải]] cùng [[Đệ Lục hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Lục hạm đội]] trong những năm [[1949]], [[1951]] và [[1953]]. Vào ngày [[4 tháng 5]] năm [[1954]], nó được xếp lại lớp như một tàu khu trục với ký hiệu lườn &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DD-454&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Ellyson&amp;#039;&amp;#039; được cho xuất biên chế vào ngày [[19 tháng 10]] năm [[1954]] và được chuyển cho Chính phủ Nhật Bản vào ngày [[20 tháng 10]] năm [[1954]] trong khuôn khổ [[Chương trình Hỗ trợ Phòng thủ Tương hỗ]]. Nó phục vụ cùng [[Lực lượng Phòng vệ biển Nhật Bản]] như là chiếc &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;JDS &amp;#039;&amp;#039;Asakaze&amp;#039;&amp;#039; (DD-181) &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào năm [[1970]], con tàu được hoàn trả cho Hoa Kỳ, rồi được bán cho [[Đài Loan]], nơi nó được tháo dỡ để lấy đồ phụ tùng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Phần thưởng ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Ellyson&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng bảy [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
{{tham khảo|30em}}&lt;br /&gt;
* Bài này có các trích dẫn từ nguồn [[:en:Dictionary of American Naval Fighting Ships]] thuộc [[phạm vi công cộng]]: http://www.history.navy.mil/danfs/e3/ellyson.htm{{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20120204144959/http://www.history.navy.mil/danfs/e3/ellyson.htm |date=2012-02-04 }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
* [http://destroyerhistory.org/benson-gleavesclass/ussellyson/ USS &amp;#039;&amp;#039;Ellyson&amp;#039;&amp;#039; page] at [http://destroyerhistory.org/ Destroyer History Foundation]&lt;br /&gt;
* [http://www.history.navy.mil/danfs/e3/ellyson.htm history.navy.mil: USS &amp;#039;&amp;#039;Ellyson&amp;#039;&amp;#039;]{{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20120204144959/http://www.history.navy.mil/danfs/e3/ellyson.htm |date=2012-02-04 }}&lt;br /&gt;
* [http://www.navsource.org/archives/05/454.htm navsource.org: USS &amp;#039;&amp;#039;Ellyson&amp;#039;&amp;#039;] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20210110210325/http://www.navsource.org/archives/05/454.htm |date=2021-01-10 }}&lt;br /&gt;
* [http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd454txt.htm hazegray.org: USS &amp;#039;&amp;#039;Ellyson&amp;#039;&amp;#039;] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20120510054408/http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd454txt.htm |date=2012-05-10 }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;!-- non-breaking space to keep AWB drones from altering the space before the navbox--&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu khu trục Gleaves}}&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Mỹ|Nhật}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Ellyson (DD-454)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu khu trục Gleaves]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu quét mìn của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu quét mìn trong Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Chiến tranh Lạnh]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Lực lượng Phòng vệ biển Nhật Bản]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Hải quân Trung Hoa dân quốc]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;InternetArchiveBot</name></author>
	</entry>
</feed>