<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Everett_F._Larson_%28DD-830%29</id>
	<title>USS Everett F. Larson (DD-830) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Everett_F._Larson_%28DD-830%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Everett_F._Larson_(DD-830)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-11T09:56:24Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Everett_F._Larson_(DD-830)&amp;diff=7189514&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;InternetArchiveBot: Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Everett_F._Larson_(DD-830)&amp;diff=7189514&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-02-26T02:54:01Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{{Dablink|Về những tàu chiến Hoa Kỳ khác mang cùng tên, xin xem [[USS Everett F. Larson]].}}&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image= [[Tập tin:USS Everett F. Larson (DD-830) underway off the coast of Oahu on 16 April 1969.jpg|300px|USS Everett F. Larson (DD-830)]]&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu khu trục USS &amp;#039;&amp;#039;Everett F. Larson&amp;#039;&amp;#039; (DD-830) trên đường đi ngoài khơi bờ biển Oahu, Hawaii, ngày 16 tháng 4 năm 1969&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
|Ship country= Hoa Kỳ &lt;br /&gt;
|Ship flag= {{USN flag|1975}} &lt;br /&gt;
|Ship name= USS &amp;#039;&amp;#039;Everett F. Larson&amp;#039;&amp;#039; (DD-830)&lt;br /&gt;
|Ship namesake= [[Everett F. Larson]]&lt;br /&gt;
|Ship ordered=&lt;br /&gt;
|Ship awarded=&lt;br /&gt;
|Ship builder= [[Bath Iron Works]], [[Bath, Maine]]&lt;br /&gt;
|Ship original cost=&lt;br /&gt;
|Ship laid down= [[4 tháng 9]] năm [[1944]]&lt;br /&gt;
|Ship launched= [[28 tháng 1]] năm [[1945]]&lt;br /&gt;
|Ship sponsor= bà H. Larson&lt;br /&gt;
|Ship completed=&lt;br /&gt;
|Ship acquired=&lt;br /&gt;
|Ship commissioned= [[6 tháng 4]] năm [[1945]]&lt;br /&gt;
|Ship recommissioned=&lt;br /&gt;
|Ship decommissioned= [[tháng 8]] năm [[1972]]&lt;br /&gt;
|Ship in service=&lt;br /&gt;
|Ship out of service=&lt;br /&gt;
|Ship renamed=&lt;br /&gt;
|Ship reclassified=* &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DDR-830&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;, [[18 tháng 3]] năm [[1949]];&lt;br /&gt;
* &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DD-830&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;, [[30 tháng 12]] năm [[1962]]&lt;br /&gt;
|Ship struck= [[2 tháng 6]] năm [[1975]]&lt;br /&gt;
|Ship nickname=&lt;br /&gt;
|Ship honors= &lt;br /&gt;
|Ship captured=&lt;br /&gt;
|Ship fate= Được chuyển cho [[Hàn Quốc]], [[30 tháng 10]] năm [[1972]]&lt;br /&gt;
|Ship status=&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
|Hide header=title&lt;br /&gt;
|Ship country= Hàn Quốc&lt;br /&gt;
|Ship flag= {{Shipboxflag|South Korea|1997}}&lt;br /&gt;
|Ship name= ROKS &amp;#039;&amp;#039;Jeong Buk&amp;#039;&amp;#039; (DD-916)&lt;br /&gt;
|Ship namesake=&lt;br /&gt;
|Ship acquired= [[30 tháng 10]] năm [[1972]]&lt;br /&gt;
|Ship commissioned=&lt;br /&gt;
|Ship decommissioned= [[tháng 12]] năm [[1999]]&lt;br /&gt;
|Ship renamed=&lt;br /&gt;
|Ship reclassified=&lt;br /&gt;
|Ship struck=&lt;br /&gt;
|Ship fate= Bảo tồn như một [[tàu bảo tàng]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
| Hide header = &lt;br /&gt;
| Header caption = &lt;br /&gt;
| Ship class = [[Gearing (lớp tàu khu trục)|Lớp tàu khu trục &amp;#039;&amp;#039;Gearing&amp;#039;&amp;#039;]]&lt;br /&gt;
| Ship displacement =* {{convert|2616|LT|MT|abbr=on}} (tiêu chuẩn);&lt;br /&gt;
* {{convert|3460|LT|MT|abbr=on}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
| Ship length = {{convert|390,5|ft|m|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship beam = {{convert|40,9|ft|m|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship draft = {{convert|14,3|ft|m|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship propulsion =* 2 × turbine hơi nước hộp số General Electric;&lt;br /&gt;
* 4 × nồi hơi;&lt;br /&gt;
* 2 × trục;&lt;br /&gt;
* công suất {{convert|60000|shp|kW|abbr=on|lk=on}}&lt;br /&gt;
| Ship speed = {{convert|36,8|kn|lk=in}}&lt;br /&gt;
| Ship range = {{convert|4500|nmi|km|abbr=on}} ở tốc độ {{convert|20|kn|km/h|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship complement = 350&lt;br /&gt;
| Ship sensors = &lt;br /&gt;
| Ship EW = &lt;br /&gt;
| Ship armament = * 6 × [[pháo 5 inch/38 caliber|pháo {{convert|5|in|mm|abbr=on|0}}/38 caliber]] trên bệ Mk 38 lưỡng dụng nòng đôi (3×2)&lt;br /&gt;
* 12 × pháo phòng không [[Bofors 40 mm]] (2×4 &amp;amp; 2×2) &lt;br /&gt;
* 11 × pháo phòng không [[Oerlikon 20 mm]]&lt;br /&gt;
* 2 × đường ray thả [[mìn sâu]]&lt;br /&gt;
* 6 × máy phóng mìn sâu [[K-gun]]&lt;br /&gt;
* 10 × ống phóng [[ngư lôi]] [[ngư lôi Mark 15|{{convert|21|in|mm|abbr=on|0}}]] &lt;br /&gt;
| Ship notes = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;USS &amp;#039;&amp;#039;Everett F. Larson&amp;#039;&amp;#039; (DD-830/DDR-830)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; là một [[tàu khu trục]] [[Gearing (lớp tàu khu trục)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Gearing&amp;#039;&amp;#039;]] được [[Hải quân Hoa Kỳ]] chế tạo vào giai đoạn cuối [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]]. Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Mỹ được đặt [[USS Everett F. Larson|cái tên này]], nhưng là chiếc duy nhất được đóng, theo tên [[Binh nhất]] [[Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ|Thủy quân Lục chiến]] [[Everett F. Larson]] (1920–1942), người đã tử trận trong [[Chiến dịch Guadalcanal]] và được truy tặng [[Huân chương Ngôi sao bạc]].&amp;lt;ref name=DANFS&amp;gt;{{chú thích web | title=Everett F. Larson (DD-830) | url=https://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/e/everett-f-larson-dd-830.html | website=Naval History and Hertage Command | access-date =ngày 13 tháng 2 năm 2020}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Hoàn tất khi chiến tranh đã sắp kết thúc, con tàu tiếp tục phục vụ trong giai đoạn [[Chiến tranh Lạnh]] và [[Chiến tranh Việt Nam]] cho đến năm [[1972]], khi nó được chuyển cho [[Hàn Quốc]] năm [[1972]] và tiếp tục phục vụ cùng [[Hải quân Cộng hòa Hàn Quốc]] như là chiếc &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;ROKS &amp;#039;&amp;#039;Jeong Buk&amp;#039;&amp;#039; (DD-916)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; cho đến năm [[1999]]. Con tàu hiện đang được bảo tồn như một [[tàu bảo tàng]] tại [[Gangneung]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Everett F. Larson&amp;#039;&amp;#039; được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng [[Bath Iron Works]] Corporation ở [[Bath, Maine]] vào ngày [[4 tháng 9]] năm [[1944]]. Nó được hạ thủy vào ngày [[28 tháng 1]] năm [[1945]]; được đỡ đầu bởi bà H. Larson, mẹ Binh nhất Larson, và nhập biên chế vào ngày [[6 tháng 4]] năm [[1945]] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, [[Trung tá Hải quân]] H. Meyers.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
=== 1945 - 1960 ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Everett F. Larson&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ [[Xưởng hải quân Boston]] tại [[Boston, Massachusetts]] vào ngày [[1 tháng 8]] năm [[1945]] để đi sang khu vực [[Mặt trận Thái Bình Dương]]; tuy nhiên nó chỉ đến [[vịnh Tokyo]] vào ngày [[29 tháng 9]], khi chiến tranh đã kết thúc. Được phân công hoạt động cùng lực lượng chiếm đóng, nó tham gia cuộc đổ bộ lực lượng Thủy quân Lục chiến lên pháo đài [[Đại Cô]], [[Trung Quốc]] vào [[tháng 10]] năm [[1945]]; và sang [[tháng 4]] năm [[1946]] đã tham gia Chiến dịch &amp;quot;Road&amp;#039;s End&amp;quot;, đánh chìm 24 [[tàu ngầm]] tịch thu được của [[Hải quân Đế quốc Nhật Bản]]. Quay trở về Hoa Kỳ, nó về đến [[San Diego, California]] vào ngày [[21 tháng 12]], rồi được điều động sang vùng bờ Đông Hoa Kỳ, đi đến cảng nhà mới là [[Newport, Rhode Island]] vào ngày [[19 tháng 3]] năm [[1947]]. Nó được xếp lại lớp như một tàu khu trục cột mốc [[radar]] với ký hiệu lườn mới &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DDR-830&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; vào ngày [[18 tháng 3]] năm [[1949]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong suốt chín năm phục vụ cùng [[Hạm đội Đại Tây Dương Hoa Kỳ|Hạm đội Đại Tây Dương]], &amp;#039;&amp;#039;Everett F. Larson&amp;#039;&amp;#039; đã hoàn tất bảy lượt biệt phái sang phục vụ cùng [[Đệ Lục hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Lục hạm đội]] tại [[Địa Trung Hải]], tuần tra tại vùng [[Cận Đông]] vào lúc xảy ra xung đột cho vấn đề chia tách lãnh thổ [[Palestine]], cũng như tham gia các đợt thực tập trong Khối [[NATO]] từ năm [[1948]] đến năm [[1955]]. Nó cũng tham gia các cuộc thực tập chống tàu ngầm ngoài khơi vùng bờ Đông Hoa Kỳ và vùng [[biển Caribe]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Everett F. Larson&amp;#039;&amp;#039; sau đó lại được điều động trở lại vùng bờ Tây, đi đến cảng nhà mới là [[Long Beach, California]] vào ngày [[28 tháng 6]] năm [[1956]], và trình diện để phục vụ cùng [[Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ|Hạm đội Thái Bình Dương]]. Nó hoạt động tại vùng biển ngoài khơi California, và dọc lên phía Bắc đến tận [[Seattle]], [[Washington]], và đã được phái sang khu vực Tây Thái Bình Dương hàng năm từ năm [[1957]] đến năm [[1960]]. Trong các đợt này nó đã hoạt động tuần tra tại [[eo biển Đài Loan]], tập trận ngoài khơi [[Okinawa]] và [[Philippines]], cũng như phục vụ hộ tống bảo vệ và canh phòng máy bay cho các [[tàu sân bay]] thuộc Lực lượng Đặc nhiệm 77. Trong chuyến đi năm [[1958]], con tàu đã viếng thăm [[Pago Pago]], [[Samoa thuộc Mỹ]] và [[Auckland]], [[New Zealand]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào [[tháng 9]] năm [[1960]], &amp;#039;&amp;#039;Everett F. Larson&amp;#039;&amp;#039; tham gia cuộc duyệt binh hải quân hàng năm trong thành phần [[Đệ Nhất hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Nhất hạm đội]] tại [[vịnh San Francisco]], nhân kỷ niệm chuyến đi vòng quanh thế giới của [[Hạm đội Great White]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1960 - 1972 ===&lt;br /&gt;
Vào [[tháng 6]] năm [[1962]], &amp;#039;&amp;#039;Everett F. Larson&amp;#039;&amp;#039; đi vào [[Xưởng hải quân Long Beach]] để được nâng cấp trong khuôn khổ Chương trình [[Hồi sinh và Hiện đại hóa Hạm đội]] II (FRAM: Fleet Rehabilitation and Modernization), nhằm kéo dài vòng đời hoạt động thêm 10 đến 20 năm, đồng thời nâng cao năng lực tác chiến. Với hệ thống điện tử, [[radar]] và [[sonar]] hiện đại cùng các vũ khí chống ngầm tiên tiến, nó được xếp lại lớp và quay lại ký hiệu lườn cũ &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DD-830&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;, và gia nhập trở lại hạm đội vào ngày [[30 tháng 12]] năm [[1962]]. Con tàu được điều động từ Hải đội Khu trục 19 sang Hải đội Khu trục 23 vào [[tháng 4]] năm [[1963]], và được phân về Đội khu trục 231.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Được phái sang [[Việt Nam]] để tham gia cuộc [[Chiến tranh Việt Nam]], vào ngày [[27 tháng 8]] năm [[1965]], &amp;#039;&amp;#039;Everett F. Larson&amp;#039;&amp;#039; lần đầu tiên nổ súng nhắm vào đối phương kể từ Thế Chiến II. Nó đã bắn hơn 300 quả đạn [[pháo 5 inch/38 caliber]] trong hoạt động bắn phá bờ biển tại [[Bắc Việt Nam]], và tiếp tục ở lại vùng chiến sự cho đến [[tháng 9]]. Giữa các đợt bắn phá và vai trò hộ tống và canh phòng máy bay cho các đội đậc nhiệm tàu sân bay hoạt động trong khu vực, nó được tiếp nhiên liệu từ [[tàu sân bay]] {{USS|Bennington|CV-20|3}} và [[tàu chở dầu]] {{USS|Hassayampa|AO-145|3}}; tiếp liệu từ các chiếc {{USS|Pictor|AF-54|3}} và {{USS|Pollux|AKS-4|3}}; và tiếp đạn dược từ chiếc {{USS|Paricutin|AE-18|3}}.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Quay trở về Hoa Kỳ, &amp;#039;&amp;#039;Everett F. Larson&amp;#039;&amp;#039; được đại tu thường lệ tại [[Xưởng hải quân Long Beach]] vào [[tháng 11]], [[1965]]. Sau khi hoàn tất công việc trong xưởng tàu vào ngày [[27 tháng 2]], [[1966]], nó hoạt động tại chỗ cho đến ngày [[12 tháng 3]], và bắt đầu huấn luyện ôn tập tại vùng biển ngoài khơi [[San Diego]], California cho đến ngày [[22 tháng 4]]. Chiếc tàu khu trục tập trận tìm-diệt chống tàu ngầm cùng Đội đặc nhiệm Chống tàu ngầm 5 trước khi cùng đơn vị này khởi hành vào ngày [[9 tháng 6]] để đi sang khu vực Tây Thái Bình Dương. Lực lượng đã có chặng dừng tại khu vực quần đảo [[Hawaii]] để tập trận chống tàu ngầm phối hợp giữa tàu sân bay {{USS|Kearsarge|CV-33|3}} và Đội khu trục 252, trước khi tiếp tục hành trình vào ngày [[5 tháng 7]] để đi [[Yokosuka]], Nhật Bản, đến nơi vào ngày [[14 tháng 7]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Everett F. Larson&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ Yokosuka vào ngày [[20 tháng 7]], [[1966]] để tập trận phối hợp cùng các đơn vị thuộc [[Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản]] trong [[biển Nhật Bản]] cho đến ngày [[28 tháng 7]], và sau đó là với tàu chiến [[Hải quân Cộng hòa Hàn Quốc]] cho đến ngày [[1 tháng 8]]. Nó quay trở lại cảng [[Sasebo]] vào ngày [[2 tháng 8]], rồi lại cùng Đội đặc nhiệm Chống tàu ngầm 5 lên đường vào ngày [[8 tháng 8]] để làm nhiệm vụ tại [[trạm Yankee]] ngoài khơi [[Bắc Việt Nam]]. Nó luân phiên các hoạt động trong [[vịnh Bắc Bộ]] với những chuyến tuần tra và viếng thăm các cảng [[Cao Hùng]] và [[Cơ Long]] tại [[Đài Loan]] cho đến ngày [[15 tháng 9]], khi nó phải rời cảng Cao Hùng để né tránh một cơn [[bão]] đồng thời quay trở lại trạm Yankee.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Everett F. Larson&amp;#039;&amp;#039; tham gia Chiến dịch &amp;quot;Silver Skate&amp;quot; từ ngày [[22 tháng 9|22]] đến ngày [[27 tháng 9]], rồi chuyển sang nhiệm vụ hỗ trợ hải pháo cho hoạt động tác chiến trên bộ ngoài khơi [[Nam Việt Nam]]. Nó ghé vào cảng [[Đà Nẵng]] vào ngày [[1 tháng 10]], và tiếp tục hoạt động bắn phá bờ biển cho đến ngày [[6 tháng 10]]; trong giai đoạn này nó đã bắn 656 quả đạn pháo 5-inch xuống các mục tiêu đối phương. Chiếc tàu khu trục đi đến [[vịnh Subic]], [[Philippines]] để bảo trì và sửa chữa trong một tuần, rồi quay trở lại trạm Yankee và hoạt động cùng các đơn vị thuộc [[Đệ Thất hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Thất hạm đội]] cho đến ngày [[30 tháng 10]], khi nó lên đường đi [[Hong Kong]] để nghỉ ngơi trong một tuần.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Everett F. Larson&amp;#039;&amp;#039; đi đến Cao Hùng vào ngày [[5 tháng 11]] để hoạt động tuần tra trong [[eo biển Đài Loan]], rồi tách ra vào ngày [[1 tháng 12]] để đi Yokosuka, Nhật Bản. Nó ở lại cảng này từ ngày [[5 tháng 12|5]] đến ngày [[9 tháng 12]], trước khi cùng Đội đặc nhiệm Chống tàu ngầm 5 quay trở về Hoa Kỳ; gia nhập trở lại Đệ Nhất hạm đội vào ngày [[12 tháng 12]] và về đến cảng nhà vào ngày [[20 tháng 12]]. Thủy thủ đoàn con tàu tận hưởng kỳ nghỉ cuối năm trong cảng.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lại được phái sang khu vực Tây Thái Bình Dương từ [[tháng 8]], [[1967]], &amp;#039;&amp;#039;Everett F. Larson&amp;#039;&amp;#039; hoạt động tại trạm Yankee vào đầu năm [[1968]] trong vai trò hộ tống và canh phòng máy bay cho các tàu sân bay, và như tàu điều phối khu vực tập trận chống tàu ngầm từ ngày [[6 tháng 1|6]] đến ngày [[10 tháng 1]]. Nó viếng thăm Hong Kong từ ngày [[15 tháng 1|15]] đến ngày [[21 tháng 1]], rồi lên đường đi Cao Hùng, ở lại cảng này trong năm ngày trước khi được lệnh đi đến [[biển Nhật Bản]] và ở lại đây trong suốt thời giản xảy ra căng thẳng do sự kiện tàu do thám {{USS|Pueblo|AGER-2|3}} bị phía [[Bắc Triều Tiên]] bắt giữ. Chiếc tàu khu trục đã tuần tra trong biển Nhật Bản trong thành phần Hải đội Khu trục 23 thuộc Lực lượng Đặc nhiệm 71, từ ngày [[31 tháng 1]] đến ngày [[2 tháng 3]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ ngày [[2 tháng 3|2]] đến ngày [[12 tháng 3]], &amp;#039;&amp;#039;Everett F. Larson&amp;#039;&amp;#039; quay trở lại cảng Sasebo để bảo trì, rồi tiếp tục hoạt động trong biển Nhật Bản từ ngày [[13 tháng 3|13]] đến ngày [[21 tháng 3]], khi nó phục vụ canh phòng máy bay cho tàu sân bay và hộ tống cho [[tàu tuần dương hạng nặng]] {{USS|Canberra|CA-70|3}}. Nó lại đi vào cảng Sasebo trong các ngày [[22 tháng 3|22]] và [[23 tháng 3]], trước khi rời khu vực Tây Thái Bình Dương để quay trở về nhà. Nó về đến Long Beach, California vào ngày [[6 tháng 4]], và trong thời gian còn lại của năm [[1968]], nó hoạt động thường lệ tại vùng biển Nam California. Từ ngày [[19 tháng 5]] đến ngày [[8 tháng 6]], chiếc tàu khu trục được bảo trì lườn tàu tại Xưởng hải quân Long Beach, rồi sau đó tham gia cuộc Tập trận HOLDEX 4-68 từ ngày [[23 tháng 6]] đến ngày [[1 tháng 7]]. Vào ngày [[24 tháng 7]], nó thử nghiệm mục tiêu kéo theo MK 46, trở thành tàu chiến đầu tiên phóng ngư lôi và phóng ngư lôi từ trực thăng không người lái vào mục tiêu kéo theo.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Everett F. Larson&amp;#039;&amp;#039; sau đó hoạt động huấn luyện và thực hành chống tàu ngầm trong thành phần Đội chống tàu ngầm 1, vốn còn bao gồm tàu sân bay {{USS|Kearsarge|CV-33|3}}, các tàu khu trục {{USS|Walke|DD-723|3}}, {{USS|Frank E. Evans|DD-754|3}} và {{USS|James E. Kyes|DD-787|3}} cùng các [[tàu frigat]] {{USS|Schofield|DEG-3|3}} và {{USS|Bronstein|FF-1037|3}}. Nó cùng Đội khu trục 231 rời Long Beach vào [[tháng 3]], [[1969]], với Tư lệnh Đội khu trục 231 đặt cờ hiệu bên trên [[soái hạm]] &amp;#039;&amp;#039;James E. Kyes&amp;#039;&amp;#039; và cùng &amp;#039;&amp;#039;Frank E. Evans&amp;#039;&amp;#039; và &amp;#039;&amp;#039;Walke&amp;#039;&amp;#039; hướng sang khu vực Tây Thái Bình Dương ngang qua Hawaii. Trong lượt hoạt động này nó đã tuần tra tại khu vực eo biển Đài Loan, tập trận ngoài khơi Okinawa và Philippines, bắn phá bờ biển xuống các mục tiêu đối phương tại [[Bắc Việt Nam|Bắc]] và [[Nam Việt Nam]], và hoạt động canh phòng máy bay cho các tàu sân bay thuộc Lực lượng Đặc nhiệm 77.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
[[Tập tin:USS Frank E. Evans (DD-754) post collision.jpg|thumb|left|Phần đuôi của tàu khu trục USS &amp;#039;&amp;#039;Frank E. Evans&amp;#039;&amp;#039; vào sáng hôm sau, sau tai nạn [[vụ va chạm Melbourne–Evans|va chạm với &amp;#039;&amp;#039;Melbourne&amp;#039;&amp;#039;]]. USS &amp;#039;&amp;#039;Everett F. Larson&amp;#039;&amp;#039; (bên phải) đang di chuyển để cứu vớt chiếc tàu khu trục bị nạn.]]&lt;br /&gt;
Vào cuối [[tháng 5]], [[1969]], &amp;#039;&amp;#039;Everett F. Larson&amp;#039;&amp;#039; nằm trong số những tàu chiến Hoa Kỳ được phái sang tham gia cuộc Tập trận Sea Spirit của [[Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á]] (SEATO) tổ chức tại [[biển Đông]]. Nó nằm trong số năm tàu khu trục đa quốc gia hộ tống cho tàu sân bay [[Hải quân Hoàng gia Australia|Australia]] {{HMAS|Melbourne|R21}} tham gia cuộc tập trận.&amp;lt;ref name=F126&amp;gt;{{Harvnb|Frame|1992|p=126}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Cho dù đã được thông tin về [[vụ va chạm Melbourne-Voyager|vụ va chạm liên quan đến &amp;#039;&amp;#039;Melbourne&amp;#039;&amp;#039;]] năm năm trước đây, cũng như các điều kiện tác chiến mà đô đốc Australia chỉ huy đội tàu đã chỉ thị, &amp;#039;&amp;#039;Larson&amp;#039;&amp;#039; đã suýt mắc tai nạn va chạm với &amp;#039;&amp;#039;Melbourne&amp;#039;&amp;#039; vào sáng sớm ngày [[31 tháng 5]].&amp;lt;ref name=F126/&amp;gt;&amp;lt;ref name=H176&amp;gt;{{Harvnb|Hall|1982|p=176}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Chiếc tàu khu trục đã tự đưa mình vào vị trí nguy hiểm khi đang cơ động vào vị trí canh phòng máy bay cho chiếc tàu sân bay, và chỉ có sự nhanh trí và phản ứng kịp thời của kíp lái hai con tàu mới tránh được tai nạn va chạm.&amp;lt;ref name=H176/&amp;gt; Ba đêm sau đó, tàu khu trục {{USS|Frank E. Evans|DD-754|3}}, cùng nằm trong thành phần hộ tống cho &amp;#039;&amp;#039;Melbourne&amp;#039;&amp;#039;, bị chiếc tàu sân bay va thẳng vào mạn trái và bị cắt làm đôi. [[Va chạm Melbourne–Evans|Vụ tai nạn]] đã khiến phần mũi &amp;#039;&amp;#039;Evans&amp;#039;&amp;#039; đắm chỉ trong vòng năm phút và khiến 74 thủy thủ Hoa Kỳ thiệt mạng.&amp;lt;ref name=F127&amp;gt;{{Harvnb|Frame|1992|p=127}}&amp;lt;/ref&amp;gt; &amp;#039;&amp;#039;Larson&amp;#039;&amp;#039; đã tham gia vào việc cứu vớt và cứu nạn phần đuôi của &amp;#039;&amp;#039;Evans&amp;#039;&amp;#039; sau tai nạn.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref name=F127/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Everett F. Larson&amp;#039;&amp;#039; tiếp tục phục vụ cùng Đệ Thất hạm đội sang đến đầu những năm [[Thập niên 1970|1970]]. Nó được cho xuất biên chế vào [[tháng 8]], [[1972]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== ROKS &amp;#039;&amp;#039;Jeon Buk&amp;#039;&amp;#039; (DD-916) ===&lt;br /&gt;
[[Tập tin:DD916 Jeonbuk 1.JPG|thumb|ROKS &amp;#039;&amp;#039;Jeong Buk&amp;#039;&amp;#039; (DD-916)]]&lt;br /&gt;
Con tàu được chuyển cho [[Cộng hòa Hàn Quốc]] vào ngày [[30 tháng 10]], [[1972]], và tiếp tục phục vụ cùng [[Hải quân Cộng hòa Hàn Quốc]] như là chiếc &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;ROKS &amp;#039;&amp;#039;Jeon Buk&amp;#039;&amp;#039; (DD-916)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;. Nó được cho ngừng hoạt động vào [[tháng 12]], [[1999]], và trở thành một [[tàu bảo tàng]] tại Công viên Thống nhất Gangneung, [[Gangneung]], [[Hàn Quốc]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
=== Chú thích ===&lt;br /&gt;
{{tham khảo}}&lt;br /&gt;
=== Thư mục ===&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách |last=Frame |first=Tom |authorlink=Tom Frame (bishop) |title=Pacific Partners: a history of Australian-American naval relations |url=https://archive.org/details/pacificpartnersh0000fram |year=1992 |publisher=Hodder &amp;amp; Stoughton |location=Rydalmere, NSW |isbn= 0-340-56685-X |oclc=27433673|ref=Harv}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách |last=Hall |first=Timothy |title=HMAS Melbourne |year=1982 |publisher=George Allen &amp;amp; Unwin |location=North Sydney, NSW |isbn=0-86861-284-7 |oclc=9753221|ref=Harv}}&lt;br /&gt;
* {{cite DANFS | author=[[Naval Historical Center]] | title=Everett F. Larson (DD-830) | url=https://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/e/everett-f-larson-dd-830.html | access-date = ngày 9 tháng 10 năm 2019}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
{{Thể loại Commons|USS Everett F. Larson (DD-830)}}&lt;br /&gt;
* {{navsource|05/830|USS Everett F. Larson}}&lt;br /&gt;
* [http://www.uss-everett-f-larson.com USS &amp;#039;&amp;#039;Everett F. Larson&amp;#039;&amp;#039; (DD/DDR-830) Reunion Association] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20080509093829/http://www.uss-everett-f-larson.com/ |date = ngày 9 tháng 5 năm 2008}}&lt;br /&gt;
* [http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd830txt.htm hazegray.org] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20200112020045/http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd830txt.htm |date=2020-01-12 }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;!-- non-breaking space to keep AWB drones from altering the space before the navbox--&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu khu trục Gearing}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Mỹ|Hàn Quốc}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Everett F. Larson (DD-830)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu khu trục Gearing]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Chiến tranh Lạnh]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Chiến tranh Việt Nam]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu được Hải quân Hoa Kỳ chuyển cho Hải quân Hàn Quốc]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu khu trục Chungbuk]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Hải quân Hàn Quốc]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu bảo tàng]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;InternetArchiveBot</name></author>
	</entry>
</feed>