<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Gambier_Bay_%28CVE-73%29</id>
	<title>USS Gambier Bay (CVE-73) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Gambier_Bay_%28CVE-73%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Gambier_Bay_(CVE-73)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-11T08:38:55Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Gambier_Bay_(CVE-73)&amp;diff=6553265&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;InternetArchiveBot: Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Gambier_Bay_(CVE-73)&amp;diff=6553265&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-06-18T01:53:14Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image= [[Tập tin: CVE 73 Gambier Bay.jpg|300px|USS Gambier Bay]]&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu sân bay hộ tống USS &amp;#039;&amp;#039;Gambier Bay&amp;#039;&amp;#039; (CVE-73)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
| Ship country = Hoa Kỳ&lt;br /&gt;
| Ship flag = {{USN flag|1943}}&lt;br /&gt;
| Ship name = USS &amp;#039;&amp;#039;Gambier Bay&amp;#039;&amp;#039; (CVE-73)&lt;br /&gt;
| Ship namesake = &lt;br /&gt;
| Ship ordered = &lt;br /&gt;
| Ship awarded = &lt;br /&gt;
| Ship builder = [[Kaiser Shipyards]], [[Vancouver, Washington]]&lt;br /&gt;
| Ship original cost = &lt;br /&gt;
| Ship laid down = [[10 tháng 7]] năm [[1943]]&lt;br /&gt;
| Ship launched = [[22 tháng 11]] năm [[1943]]&lt;br /&gt;
| Ship sponsor = &lt;br /&gt;
| Ship completed = &lt;br /&gt;
| Ship acquired = &lt;br /&gt;
| Ship commissioned = [[28 tháng 12]] năm [[1943]]&lt;br /&gt;
| Ship recommissioned = &lt;br /&gt;
| Ship decommissioned = &lt;br /&gt;
| Ship in service = &lt;br /&gt;
| Ship out of service = &lt;br /&gt;
| Ship renamed = &lt;br /&gt;
| Ship reclassified = &lt;br /&gt;
| Ship struck = [[27 tháng 11]] năm [[1944]]&lt;br /&gt;
| Ship nickname = &lt;br /&gt;
| Ship honors = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 1 × [[Đơn vị Tuyên dương Tổng thống (Hoa Kỳ)|Đơn vị Tuyên dương Tổng thống]]| 4 × [[Ngôi sao Chiến trận]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship captured = &lt;br /&gt;
| Ship fate = Bị đánh chìm trong [[Trận chiến ngoài khơi Samar]], [[25 tháng 10]] năm [[1944]]&lt;br /&gt;
| Ship status = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
| Ship class = [[Casablanca (lớp tàu sân bay hộ tống)|Lớp tàu sân bay hộ tống &amp;#039;&amp;#039;Casablanca&amp;#039;&amp;#039;]]&lt;br /&gt;
| Ship displacement = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|7800|LT|MT}} (tiêu chuẩn)&lt;br /&gt;
| {{convert|10902|LT|MT}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship length = {{convert|512|ft|4|in|m|abbr=on}} (chung)&lt;br /&gt;
| Ship beam = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|65|ft|3|in|m|abbr=on}} (mực nước)&lt;br /&gt;
| {{convert|108|ft|1|in|m|abbr=on}} (chung)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship draft = {{convert|22|ft|6|in|m|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship propulsion = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 2 × [[động cơ hơi nước]] Skinner Uniflow, năm buồng bành trướng đặt dọc| 4 × nồi hơi, áp lực {{convert|285|psi|abbr=on}}| 2 × trục| công suất {{convert|9000|shp|kW|abbr=on|lk=on}}&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship speed = {{convert|20|kn|lk=on}}&lt;br /&gt;
| Ship range = {{convert|10240|nmi|lk=on|-1|abbr=on}} ở tốc độ {{convert|15|kn}}&lt;br /&gt;
| Ship endurance = &lt;br /&gt;
| Ship boats = &lt;br /&gt;
| Ship complement = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 860 sĩ quan và thủy thủ| đội bay 56 sĩ quan và thủy thủ&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship crew = &lt;br /&gt;
| Ship sensors = &lt;br /&gt;
| Ship EW = &lt;br /&gt;
| Ship armament = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 1 × pháo [[Hải pháo 5 inch/38 caliber|{{convert|5|in|mm|abbr=on}}/38 caliber]]| 16 × pháo phòng không [[Bofors 40 mm]] (8×2)| 20 × pháo phòng không [[Oerlikon 20 mm]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship armor = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft = 28 máy bay&lt;br /&gt;
| Ship aircraft facilities = &lt;br /&gt;
| Ship notes = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;USS &amp;#039;&amp;#039;Gambier Bay&amp;#039;&amp;#039; (CVE-73)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; là một [[tàu sân bay hộ tống]] [[Casablanca (lớp tàu sân bay hộ tống)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Casablanca&amp;#039;&amp;#039;]] được [[Hải quân Hoa Kỳ]] chế tạo trong [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]]; tên nó được đặt theo một vịnh tại [[đảo Admiralty]] thuộc [[quần đảo Alexander]], [[Alaska]]. &amp;#039;&amp;#039;Gambier Bay&amp;#039;&amp;#039; đã hoạt động trong Thế Chiến II cho đến khi bị đánh chìm trong [[Trận chiến ngoài khơi Samar]] vào ngày [[25 tháng 10]] năm [[1944]], trở thành chiếc tàu sân bay Hoa Kỳ duy nhất bị đánh chìm bởi hải pháo đối phương. Nó được tặng thưởng danh hiệu [[Đơn vị Tuyên dương Tổng thống (Hoa Kỳ)|Đơn vị Tuyên dương Tổng thống]] cùng bốn [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
{{main|Casablanca (lớp tàu sân bay hộ tống)}}&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Gambier Bay&amp;#039;&amp;#039; nguyên dự định mang ký hiệu lườn &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;AVG-73&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;, nhưng được xếp lại lớp thành &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;ACV-73&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; vào ngày [[20 tháng 8]] năm [[1942]] trước khi được đặt lườn tại Xưởng tàu Vancouver của hãng [[Kaiser Shipyards|Kaiser Company, Inc.]] ở [[Vancouver, Washington]] vào ngày [[10 tháng 7]] năm [[1943]]. Nó lại được xếp lớp thành &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;CVE-73&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; vào ngày [[15 tháng 7]] trước khi được hạ thủy vào ngày [[22 tháng 11]] năm [[1943]]; được đỡ đầu bởi bà H. C. Zitzewitz, phu nhân [[Trung tá Hải quân]] Zitzewitz, sĩ quan liên lạc cao cấp Văn phòng Tàu chiến Hải quân tại xưởng tàu Vancouver; và nhập biên chế tại [[Astoria, Oregon]] vào ngày [[28 tháng 12]] năm [[1943]] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, [[Đại tá Hải quân]] Hugh H. Goodwin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
=== Trung tâm và Tây Nam Thái Bình Dương ===&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Gambierbaymodel.jpg|left|thumb|Mô hình &amp;#039;&amp;#039;Gambier Bay&amp;#039;&amp;#039; tại [[USS Midway (CV-41)|Bảo tàng USS &amp;#039;&amp;#039;Midway&amp;#039;&amp;#039;]]]]&lt;br /&gt;
Sau chuyến đi chạy thử máy ngoài khơi [[San Diego, California]], &amp;#039;&amp;#039;Gambier Bay&amp;#039;&amp;#039; lên đường vào ngày [[7 tháng 2]] năm [[1944]] cùng 400 binh lính trên tàu để hướng sang [[Trân Châu Cảng]], rồi cùng [[tàu khu trục]] {{USS|Norman Scott|DD-690|2}} đi đến điểm gặp gỡ tại [[quần đảo Marshall]], nơi nó chuyển giao 84 máy bay thay thế cho [[tàu sân bay]] {{USS|Enterprise|CV-6|2}}. Nó quay trở về San Diego ngang qua Trân Châu Cảng, vận chuyển máy bay cần sửa chữa rồi hoạt động huấn luyện chuẩn nhận phi công tàu sân bay ngoài khơi bờ biển phía Nam California. Nó lên đường vào ngày [[1 tháng 5]] để gia nhập Đội đặc nhiệm 52.11, Đội tàu sân bay hỗ trợ 2 dưới quyền [[Chuẩn đô đốc]] [[Harold B. Sallada]], được tập trung tại khu vực quần đảo Marshall cho cuộc tấn công đổ bộ lên [[quần đảo Mariana]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Gambier Bay&amp;#039;&amp;#039; đã hỗ trợ gần mặt đất cho cuộc đổ bộ ban đầu của lực lượng [[Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ|Thủy quân Lục chiến]] lên [[Saipan]] vào ngày [[15 tháng 6]], phá hủy các vị trí đặt pháo, tập trung quân, xe tăng và xe cộ đối phương. Vào ngày [[17 tháng 6]], [[máy bay tiêm kích]] tuần tra chiến đấu trên không của nó đã bắn rơi hay đẩy lui hầu hết một lực lượng 47 máy bay đối phương tấn công vào đội hình đội đặc nhiệm của nó, và bản thân các pháo thủ phòng không trên tàu đã bắn rơi hai trong số ba máy bay đối phương lọt qua được hàng rào phòng thủ. Sang ngày hôm sau, tiếp tục có cảnh báo về một đợt không kích khác của đối phương, tám máy bay thuộc Liên đội Hỗn hợp 10 (VC-10) đã cất cánh để hỗ trợ đẩy lui cuộc không kích; họ được trợ giúp bởi màn hỏa lực phòng không dày đặc của toàn bộ đội đặc nhiệm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Gambier Bay&amp;#039;&amp;#039; tiếp tục ở lại ngoài khơi Saipan, chống trả các cuộc không kích của đối phương, bắn phá các cứ điểm phòng thủ và hỗ trợ binh lính Thủy quân Lục chiến trên bờ. Trong thời gian đó, các tàu sân bay thuộc Lực lượng Đặc nhiệm 58 đã thành công trong việc đánh bại cuộc phản công của [[Hạm đội Liên hợp Nhật Bản]] trong [[Trận chiến biển Philippine]], hầu như vô hiệu hóa không lực tàu sân bay đối thủ. Chiếc tàu sân bay hộ tống tiếp tục hoạt động hỗ trợ gần tại [[Tinian]] từ ngày [[19 tháng 7|19]] đến ngày [[31 tháng 7]], rồi chuyển hướng sang [[Guam]], nơi những hoạt động tương tự được thực hiện cho đến ngày [[11 tháng 8]].&lt;br /&gt;
[[Tập tin:CVE 73 Gambier Bay underway.jpg|thumb|300px|left|&amp;#039;&amp;#039;Gambier Bay&amp;#039;&amp;#039; trên đường đi.]]&lt;br /&gt;
Sau khi được nghỉ ngơi để tiếp liệu tại khu vực quần đảo Marshall, &amp;#039;&amp;#039;Gambier Bay&amp;#039;&amp;#039; đã lên đường hỗ trợ cho các cuộc tấn công, đổ bộ và chiếm đóng [[Peleliu]] và [[Angaur]], thuộc khu vực Nam nhóm quần đảo [[Palau]] từ ngày [[15 tháng 9|15]] đến ngày [[28 tháng 9]]. Sau đó nó di chuyển ngang qua [[Jayapura|Hollandia]] (nay là Jayapura) thuộc [[Papua New Guinea|New Guinea]] để đi đến [[đảo Manus]] thuộc [[quần đảo Admiralty]], nơi lực lượng được tập trung cho chiến dịch đổ bộ tiếp theo lên [[quần đảo Philippine]]. Được bốn tàu khu trục hộ tống bảo vệ, &amp;#039;&amp;#039;Gambier Bay&amp;#039;&amp;#039; và tàu sân bay chị em {{USS|Kitkun Bay|CVE-71|3}} đã hộ tống cho các tàu vận tải và tàu đổ bộ di chuyển an toàn đến [[vịnh Leyte]], trước khi gia nhập Đơn vị Đặc nhiệm tàu sân bay hộ tống 77.4.3 dưới quyền Chuẩn đô đốc [[Clifton Sprague]] ngoài khơi đảo [[Leyte (đảo)|Leyte]] vào ngày [[19 tháng 9]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Philippine ([[Trận chiến vịnh Leyte]]) ===&lt;br /&gt;
Đơn vị đặc nhiệm, với mã gọi tắt vô tuyến là &amp;quot;Taffy 3&amp;quot;, bao gồm sáu tàu sân bay hộ tống, được một lực lượng hộ tống bảo vệ gồm ba tàu khu trục và bốn [[tàu khu trục hộ tống]]. Họ trực thuộc Đội đặc nhiệm 77.4 dưới quyền Chuẩn đô đốc [[Thomas L. Sprague]], một lực lượng 18 tàu sân bay hộ tống được chia thành ba đơn vị (&amp;quot;Taffy&amp;quot;), mỗi đơn vị sáu tàu sân bay, với nhiệm vụ duy trì ưu thế trên không bên trên vịnh Leyte và phía Đông Leyte. Trong quá trình tấn công, máy bay của họ đã phá hủy sân bay, các đoàn tàu tiếp liệu và điểm tập trung quân đối phương, hỗ trợ trên không cho lực lượng tấn công, và tuần tra chiến đấu trên không bảo vệ tàu bè đổ bộ trong vịnh Leyte. Trong khi &amp;quot;Taffy 1&amp;quot; và &amp;quot;Taffy 2&amp;quot; lần lượt đảm trách khu vực phía Bắc [[Mindanao]] và ngoài khơi lối ra vào vịnh Leyte, &amp;quot;Taffy 3&amp;quot; di chuyển ngoài khơi [[Samar (đảo)|Samar]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong khi đó, [[Hạm đội Liên hợp Nhật Bản]] tung ra cuộc phản công để chống lại hạm đội Hoa Kỳ, trong một nỗ lực vô vọng nhằm tiêu diệt tàu bè đổ bộ Hoa Kỳ tập trung trong vịnh Leyte, và qua đó ngăn được cuộc đổ bộ lên Philippines. Lực lượng gần như toàn bộ tàu chiến còn lại của họ, bao gồm tàu sân bay, thiết giáp hạm, tàu tuần dương và tàu khu trục, được chia thành ba mũi gọng kìm ở phía Bắc, Trung tâm và phía Nam. Trong [[Trận chiến eo biển Surigao]], Lực lượng phía Nam Nhật Bản bị những thiết giáp hạm cũ và tàu tuần dương của Đội đặc nhiệm 77.2 dưới quyền Chuẩn đô đốc [[Jesse Oldendorf]] tiêu diệt trước bình minh ngày [[25 tháng 10]], khi chúng tìm cách băng qua [[eo biển Surigao]] để xâm nhập vịnh Leyte. Đang khi băng qua [[biển Sibuyan]] trên đường tiến đến [[eo biển San Bernardino]] trong ngày [[24 tháng 10]], Lực lượng Trung tâm Nhật Bản chịu đựng nhiều cuộc không kích của máy bay cất cánh từ tàu sân bay thuộc [[Đệ Tam hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Tam hạm đội]] dưới quyền [[Đô đốc]] [[William F. Halsey, Jr.|William Halsey]], bị mất thiết giáp hạm khổng lồ [[Musashi (thiết giáp hạm Nhật)|&amp;#039;&amp;#039;Musashi&amp;#039;&amp;#039;]]. Sau [[Trận chiến biển Sibuyan]], Đô đốc Halsey không còn coi Lực lượng Trung tâm Nhật Bản là một mối đe dọa đáng kể, nên ông tung toàn bộ lực lượng của mình, gồm các tàu sân bay nhanh và thiết giáp hạm mạnh nhất, lên phía Bắc để đuổi theo Lực lượng phía Bắc Nhật Bản trong [[Trận chiến mũi Engaño]]. Thực ra, Lực lượng phía Bắc Nhật Bản chỉ đóng vai trò mồi nhữ, vì chúng chỉ là những tàu sân bay còn lại rất ít máy bay.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Trận chiến ngoài khơi Samar ====&lt;br /&gt;
{{main|Trận chiến ngoài khơi Samar}}&lt;br /&gt;
[[Tập tin:USS Gambier Bay at the Battle of Samar.jpg|thumb|300px|right|&amp;#039;&amp;#039;Gambier Bay&amp;#039;&amp;#039; chịu đựng hải pháo đối phương trong [[Trận chiến ngoài khơi Samar]]. Góc trên bên phải là một [[tàu tuần dương hạng nặng]] Nhật Bản, có thể là chiếc [[Chikuma (tàu tuần dương Nhật)|&amp;#039;&amp;#039;Chikuma&amp;#039;&amp;#039;]].]]&lt;br /&gt;
[[Tập tin:USS Gambier Bay on fire.jpg|thumb|300px|right|&amp;#039;&amp;#039;Gambier Bay&amp;#039;&amp;#039; đang hứng chịu hỏa lực với những phát đạn pháo vây quanh. Con tàu trong vòng tròn là một thiết giáp hạm Nhật Bản, có thể là [[Yamato (thiết giáp hạm Nhật)|&amp;#039;&amp;#039;Yamato&amp;#039;&amp;#039;]].]]&lt;br /&gt;
Việc các tàu sân bay của Halsy rời đi lên phía Bắc khiến chỉ còn các tàu sân bay hộ tống của là lực lượng duy nhất bảo vệ khu vực xung quanh Samar. Các chỉ huy Hoa Kỳ đã không nhận thức việc di chuyển vào ban đêm của Lực lượng Trung tâm Nhật Bản đang hướng đến Samar. Tuy nhiên, không lâu sau bình minh ngày [[25 tháng 10]], một khoảng trống qua làn sương mù buổi sáng đã bộc lộ kiểu dáng tháp chùa đặc trưng của các thiết giáp hạm và tàu tuần dương đối phương trên đường chân trời phía Bắc. Lực lượng Trung tâm còn rất nguy hiểm với bốn thiết giáp hạm, sáu tàu tuần dương hạng nặng, hai tàu tuần dương hạng nhẹ và 11 tàu khu trục, đã băng qua eo biển San Bernardino mà không bị phát hiện và đang đi dọc theo bờ biển phủ sương mù của Samar để tiến đến vịnh Leyte.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;quot;Taffy 3&amp;quot; bị áp đảo về ưu thế hỏa lực so với Lực lượng Trung tâm, nhưng sự hiện hiện diện của lực lượng đối phương vịnh Leyte là điều không thể chấp nhận, nên &amp;quot;Taffy 3&amp;quot; xoay ra đối đầu với đối thủ. Chuẩn đô đốc Thomas L. Sprague lập tức kêu gọi mọi sự trợ giúp có thể từ các đơn vị bạn, trong khi các tàu sân bay của nó rút chạy về phía Đông và phóng hết số máy bay của chúng. Máy bay tấn công đội hình đối phương bằng ngư lôi, bom và súng máy cho đến khi hết đạn, rồi tiếp tục tấn công giả mà không có vũ khí, nhằm phá vỡ đội hình đối phương nhằm trì hoãn việc tấn công. Các tàu khu trục và tàu khu trục hộ tống thả những màn khói ngụy trang nhằm che khuất những mục tiêu khỏi sự quan sát đối phương; họ ra vào màn khói để tấn công các tàu chiến Nhật Bản ở tầm bắn trực tiếp rồi lại ẩn nấp và tiếp tụ thả khói. Bất chấp những nỗ lực này, &amp;#039;&amp;#039;Gambier Bay&amp;#039;&amp;#039; bị bắn trúng nhiều phát từ các tàu đối phương. Khẩu pháo {{convert|5|in|mm|abbr=on}} duy nhất của nó phản công vào một tàu tuần dương đang nổ súng vào nó, và các tàu khu trục {{USS|Heermann|DD-532|3}} và {{USS|Johnston|DD-557|3}} cũng nỗ lực vô vọng nhằm cứu nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khoảng 08 giờ 20 phút, &amp;#039;&amp;#039;Gambier Bay&amp;#039;&amp;#039; bị hư hại nặng bởi một quả đạn pháo {{convert|8|in|mm|abbr=on}} từ tàu tuần dương hạng nặng [[Chikuma (tàu tuần dương Nhật)|&amp;#039;&amp;#039;Chikuma&amp;#039;&amp;#039;]], làm ngập nước phòng động cơ phía trước và khiến tốc độ bị giảm chỉ còn một nữa.&amp;lt;ref&amp;gt;{{chú thích web|last=Cox|first=Robert Jon|title=USS Gambier Bay (CVE 73)|url= http://www.bosamar.com/pages/cve73|access-date =ngày 16 tháng 3 năm 2011}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Nó nhanh chóng chết đứng giữa biển trong khi thiết giáp hạm [[Yamato (thiết giáp hạm Nhật)|&amp;#039;&amp;#039;Yamato&amp;#039;&amp;#039;]] tiến đến ở tầm bắn trực tiếp; &amp;#039;&amp;#039;Yamato&amp;#039;&amp;#039; được thấy rõ trong các tấm ảnh được chụp khi &amp;quot;Taffy 3&amp;quot; bị tấn công.&amp;lt;ref&amp;gt;Polmar, Norman (2006). &amp;#039;&amp;#039;Aircraft Carriers: A History of Carrier Aviation and Its Influence on World Events: 1909-1945&amp;#039;&amp;#039;. Potomac Books, p. 434. ISBN 1-57488-663-0&amp;lt;/ref&amp;gt; Chiếc tàu sân bay bốc cháy suốt từ mũi đến đuôi, lật úp lúc 09 giờ 07 phút và đắm lúc 09 giờ 11 phút. Vị trí đắm của nó ở tọa độ xấp xỉ {{coord|11|46|N|126|09|E|display=inline, title}}. Hầu hết trong số gần 800 người sống sót của nó được vớt hai ngày sau đó bởi các tàu đổ bộ và xuồng tuần tra được phái đến từ vịnh Leyte; [[cá mập]] đã giết chết một số người. {{USS|Hoel|DD-533|3}}, {{USS|Samuel B. Roberts|DE-413|3}} và &amp;#039;&amp;#039;Johnston&amp;#039;&amp;#039; cũng bị mất trong trận này. &amp;#039;&amp;#039;Gambier Bay&amp;#039;&amp;#039; là tàu sân bay duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ bị đánh chìm bởi hải pháo trong Thế Chiến II.&amp;lt;ref&amp;gt;{{chú thích sách|title = WW2 - War Is Hell|last = Rhea|first = Milton A.|publisher = Trafford Publishing|year = 2004|isbn = 1412017165|location = |pages = 209}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Phần thưởng ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Gambier Bay&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng danh hiệu [[Đơn vị Tuyên dương Tổng thống (Hoa Kỳ)|Đơn vị Tuyên dương Tổng thống]] cùng bốn [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
{{tham khảo}}&lt;br /&gt;
{{Refbegin}}&lt;br /&gt;
* Bài này có các trích dẫn từ nguồn [[Dictionary of American Naval Fighting Ships]] thuộc [[phạm vi công cộng]]&lt;br /&gt;
{{Refend}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Đọc thêm ===&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách|last=Cox|first=Robert Jon|authorlink=|year=2010|chapter=|title=The Battle Off Samar: Taffy III at Leyte Gulf (5th Edition)|publisher=Agogeebic Press, LLC|location=|isbn= 0-9822390-4-1}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách|author=Cutler, Thomas J.|year=1994|title=The Battle of Leyte Gulf 23-ngày 26 tháng 10 năm 1944|url=https://archive.org/details/battleofleytegul0000cutl|publisher=HarperCollins Publishers|isbn= 978-0060169497}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách|author=Hoyt, Edwin P.|year=1979|title=The Men of the Gambier Bay|publisher=Avon Books, New York, NY|isbn=0-380-55806-8}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách|author=Ross, Allan|year=1993|title=The Escort Carrier &amp;quot;Gambier Bay&amp;quot; -- (Anatomy of the Ship)|publisher=Conway Maritime Press LTD|location=London|isbn=0-85177-613-2}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách|author=Morison, Samuel Eliott|year=2011|title=LEYTE,June 1944 - January 1945 History of United States Naval Operations of World War II. Volume 12|publisher=Naval Institute Press|isbn= 978-1591145356}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách|author=Sears, David|year=2007|title=The Last Epic Naval Battle-Voices of Leyte|publisher=Greenwood Publishing Group Inc.|isbn= 978-0275985202}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách|author=Thomas, Evan|year=2006|title=Sea of Thunder|url=https://archive.org/details/seaofthunderfour00thom|publisher=Simon &amp;amp; Schulster|isbn= 978-0743252218}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách|author=Y&amp;#039;Blood, William T.|year=2012|title=THE LITTLE GIANTS: U.S. Escort Carriers Against Japan|publisher=Naval Institute Press|isbn= 978-1557509802}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
{{Commonscat|USS Gambier Bay (CVE-73)}}&lt;br /&gt;
*[http://www.ussgambierbay-vc10.com/ USS &amp;#039;&amp;#039;Gambier Bay&amp;#039;&amp;#039; (CVE-73) &amp;amp; Composite Squadron VC-10] official website&lt;br /&gt;
*[http://www.ussgambierbay.org/ USS &amp;#039;&amp;#039;Gambier Bay&amp;#039;&amp;#039; (CVE-73) &amp;amp; Composite Squadron VC-10] association website&lt;br /&gt;
*[http://www.modelwarships.com/reviews/ships/cv/cve-73/cve-73.html Building the &amp;#039;&amp;#039;Gambier Bay&amp;#039;&amp;#039; (CVE-73) in 1/72 Scale] article by Bill Waldorf&lt;br /&gt;
*[http://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/g/gambier-bay.html &amp;#039;&amp;#039;Dictionary of American Naval Fighting Ships&amp;#039;&amp;#039; &amp;#039;&amp;#039;Gambier Bay&amp;#039;&amp;#039;]&lt;br /&gt;
*[http://www.navsource.org/archives/03/073.htm NavSource Online: Escort Carrier Photo Archive USS &amp;#039;&amp;#039;Gambier Bay&amp;#039;&amp;#039; (CVE-73)] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20150316170228/http://www.navsource.org/archives/03/073.htm |date=2015-03-16 }}&lt;br /&gt;
*[http://www.bosamar.com/ The Battle Off Samar - Taffy III at Leyte Gulf website] by Robert Jon Cox&lt;br /&gt;
*[http://www.midwaysailor.com/clintgriffin/gambierbay.html Donation of model to USS Midway]&lt;br /&gt;
*[http://www.ussgambierbay-vc10.com/special_pages/T_Montague.htm The Ship Has Sunk and the Sharks are Hungry] The account of survivor Earl Bagley&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu sân bay hộ tống Casablanca}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Mỹ}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Gambier Bay (CVE-73)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp sân bay hộ tống Casablanca]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu sân bay hộ tống của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu sân bay hộ tống trong Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Xác tàu đắm trong biển Philippine]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Sự cố hàng hải năm 1944]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu thủy năm 1943]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;InternetArchiveBot</name></author>
	</entry>
</feed>