<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Hobson_%28DD-464%29</id>
	<title>USS Hobson (DD-464) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Hobson_%28DD-464%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Hobson_(DD-464)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-11T10:59:42Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Hobson_(DD-464)&amp;diff=6349002&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;InternetArchiveBot: Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Hobson_(DD-464)&amp;diff=6349002&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-06-18T03:11:25Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image= [[Tập tin:Uss Hobson DD-464 Censored.jpg|300px|USS Hobson off Charleston, South Carolina, ngày 4 tháng 3 năm 1942.]]&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu khu trục USS &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; (DD-464) ngoài khơi [[Charleston, South Carolina]], [[4 tháng 3]] năm [[1942]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
|Ship country= Hoa Kỳ &lt;br /&gt;
|Ship flag= {{USN flag|1952}}&lt;br /&gt;
|Ship name= USS &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; (DD-464)&lt;br /&gt;
|Ship namesake= [[Richmond Pearson Hobson]]&lt;br /&gt;
|Ship ordered=&lt;br /&gt;
|Ship awarded=&lt;br /&gt;
|Ship builder=  [[Xưởng hải quân Charleston]]&lt;br /&gt;
|Ship original cost=&lt;br /&gt;
|Ship laid down= [[14 tháng 11]] năm [[1940]]&lt;br /&gt;
|Ship launched= [[8 tháng 9]] năm [[1941]]&lt;br /&gt;
|Ship sponsor= bà R. P. Hobson&lt;br /&gt;
|Ship completed=&lt;br /&gt;
|Ship acquired=&lt;br /&gt;
|Ship commissioned= [[22 tháng 1]] năm [[1942]]&lt;br /&gt;
|Ship recommissioned=&lt;br /&gt;
|Ship decommissioned=&lt;br /&gt;
|Ship in service=&lt;br /&gt;
|Ship out of service=&lt;br /&gt;
|Ship renamed=&lt;br /&gt;
|Ship reclassified= &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DMS-26&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;, [[15 tháng 11]] năm [[1944]]&lt;br /&gt;
|Ship struck=&lt;br /&gt;
|Ship nickname=&lt;br /&gt;
|Ship honors= 6 × [[Ngôi sao Chiến trận]]&lt;br /&gt;
|Ship captured=&lt;br /&gt;
|Ship fate= Đắm do va chạm với [[tàu sân bay]] {{USS|Wasp|CV-18|3}} tại [[Bắc Đại Tây Dương]], [[26 tháng 4]] năm [[1952]]&lt;br /&gt;
|Ship status=&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
| Ship class = [[Gleaves (lớp tàu khu trục)|Lớp tàu khu trục &amp;#039;&amp;#039;Gleaves&amp;#039;&amp;#039;]]&lt;br /&gt;
| Ship displacement = {{convert|1630 |LT|MT}} (tiêu chuẩn)&lt;br /&gt;
| Ship length = {{convert|348|ft|3|in|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship beam = {{convert|36|ft|1|in|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship draft = {{convert|13|ft|2|in|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship propulsion = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 2 × turbine hơi nước hộp số&lt;br /&gt;
| 4 × nồi hơi ống nước&lt;br /&gt;
| 2 × trục&lt;br /&gt;
| công suất {{convert|50000|shp|kW|abbr=on|lk=on}}&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship speed = {{convert|37,4|kn|km/h|0}}&lt;br /&gt;
| Ship range = {{convert|6500|nmi|lk=on|-1|abbr=on}} ở tốc độ {{convert|12|kn}}&lt;br /&gt;
| Ship endurance = &lt;br /&gt;
| Ship boats = &lt;br /&gt;
| Ship complement = 16 sĩ quan, 260 thủy thủ&lt;br /&gt;
| Ship crew = &lt;br /&gt;
| Ship sensors = &lt;br /&gt;
| Ship EW = &lt;br /&gt;
| Ship armament = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 5 × pháo [[Hải pháo 5 inch/38 caliber|{{convert|5|in|mm|abbr=on}}]];&lt;br /&gt;
| 6 × [[súng máy]] {{convert|0,5|in|mm|-1}};&lt;br /&gt;
| 6 × pháo phòng không [[Oerlikon 20 mm]];&lt;br /&gt;
| 10 × ống phóng [[ngư lôi]] [[Ngư lôi Mark 15|{{convert|21|in|mm|abbr=on}}]];&lt;br /&gt;
| 2 × đường ray thả [[mìn sâu]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship armor = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft facilities = &lt;br /&gt;
| Ship notes = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;USS &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; (DD-464/DMS-26)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;, là một [[tàu khu trục]] [[Gleaves (lớp tàu khu trục)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Gleaves&amp;#039;&amp;#039;]] được [[Hải quân Hoa Kỳ]] chế tạo trong [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]]. Nó đã tham gia suốt Thế Chiến II, cải biến thành một [[tàu quét mìn cao tốc]] với ký hiệu lườn &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DMS-26&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;, sống sót qua cuộc xung đột nhưng lại bị đắm do tai nạn va chạm với [[tàu sân bay]] {{USS|Wasp|CV-18|3}} tại [[Bắc Đại Tây Dương]] năm [[1952]]. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên [[Chuẩn đô đốc]] [[Richmond Pearson Hobson]] (1870-1937), người được tặng thưởng [[Huân chương Danh dự]] trong cuộc [[Chiến tranh Tây Ban Nha-Hoa Kỳ]] và là Nghị sĩ tiểu bang [[Alabama]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
{{chính|Gleaves (lớp tàu khu trục)}}&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; được chế tạo tại [[Xưởng hải quân Charleston]]. Nó được đặt lườn vào ngày [[14 tháng 11]] năm [[1940]]; được hạ thủy vào ngày [[8 tháng 9]] năm [[1941]], và được đỡ đầu bởi bà R. P. Hobson, vợ góa Chuẩn đô đốc Hobson. Con tàu được cho nhập biên chế cùng Hải quân Hoa Kỳ vào ngày [[122 tháng 1]] năm [[1942]] dưới quyền chỉ huy của [[Trung tá Hải quân]] R. N. McFarlane.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
=== 1942 ===&lt;br /&gt;
Sau khi hoàn tất việc chạy thử máy và huấn luyện ngoài khơi [[Casco Bay]], [[Maine]], &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; tham gia cùng {{USS|Ranger|CV-4|3}} tại [[Norfolk, Virginia]], và lên đường vào ngày [[1 tháng 7]] năm [[1942]] hộ tống chiếc [[tàu sân bay]] đi sang [[châu Phi]]. Vận chuyển một chuyến hàng 72 chiếc [[máy bay tiêm kích]] [[Curtiss P-40 Warhawk]] của [[Không lực Lục quân Hoa Kỳ|Không lực Hoa Kỳ]], &amp;#039;&amp;#039;Ranger&amp;#039;&amp;#039; đi đến nơi an toàn ngang qua [[Trinidad]], chất dỡ các máy bay rồi quay về cùng &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; vào ngày [[5 tháng 8]]. Chiếc tàu khu trục tiến hành các hoạt động thực tập ngoài khơi [[Newport, Rhode Island]] và Norfolk cho đến ngày [[3 tháng 10]], khi nó rời Norfolk cho một chuyến hộ tống đến [[Bermuda]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi Đồng Minh chuẩn bị thực hiện [[Chiến dịch Torch]], cuộc đổ bộ chiếm đóng lên [[Bắc Phi]], &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; gia nhập Đội Tấn công Trung tâm với vai trò chính là hộ tống vào bảo vệ cho &amp;#039;&amp;#039;Ranger&amp;#039;&amp;#039;, khi máy bay từ chiếc tàu sân bay hỗ trợ cho cuộc đổ bộ. Khởi hành từ Bermuda vào ngày [[25 tháng 10]], đội đi đến ngoài khơi [[Fedhala]], [[Maroc]] vào ngày [[8 tháng 11]], và khi cuộc đổ bộ diễn ra đã hỗ trợ trên không hiệu quả. Máy bay của &amp;#039;&amp;#039;Ranger&amp;#039;&amp;#039; đã đánh trúng các khẩu đội pháo bờ biển, vô hiệu hóa [[thiết giáp hạm]] [[Jean Bart (thiết giáp hạm Pháp) (1940)|&amp;#039;&amp;#039;Jean Bart&amp;#039;&amp;#039;]] của phe [[Vichy Pháp|Vichy]], và sau đó giúp đánh trả cuộc phản công của các tàu chiến Pháp tại khu vực vận chuyển. &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; tiếp tục hộ tống cho &amp;#039;&amp;#039;Ranger&amp;#039;&amp;#039; cho đến khi nó lên đường vào ngày [[11 tháng 11]], khi Đồng Minh đã hoàn toàn kiểm soát được khu vực tấn công, để quay trở về Norfolk.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1943 ===&lt;br /&gt;
Sau khi về đến Norfolk vào ngày [[27 tháng 11]] năm [[1942]], &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; hoạt động huấn luyện tại Casco Bay trước khi lên đường cùng một đoàn tàu vận tải đi sang vùng [[kênh đào Panama]] vào [[tháng 12]]. Nó lại tham gia cùng &amp;#039;&amp;#039;Ranger&amp;#039;&amp;#039; vào đầu năm [[1943]] trong hoạt động tuần tra [[chiến tranh chống tàu ngầm|chống tàu ngầm]], khởi hành vào ngày [[8 tháng 1]] để tuần tra tại khu vực Tây Đại Tây Dương. Các đội tìm-diệt tàu ngầm xây dựng chung quanh các tàu sân bay như đội của &amp;#039;&amp;#039;Ranger&amp;#039;&amp;#039; đã đóng vai trò quan trọng vào việc bảo vệ tàu bè Đồng Minh khỏi các cuộc tấn công của [[tàu ngầm]] [[U-boat]] [[Đức Quốc xã|Đức]], góp công lớn vào chiến thắng cuối cùng tại châu Âu. &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; đã tham gia giải cứu một nhóm người sống sót từ chiếc SS &amp;#039;&amp;#039;St. Margaret&amp;#039;&amp;#039; bị đánh chìm ngoài khơi Bermuda vào ngày [[2 tháng 3]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào [[tháng 4]], &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; và &amp;#039;&amp;#039;Ranger&amp;#039;&amp;#039; đi đến [[Căn cứ Hải quân Argentia|Argentia]], [[Newfoundland]] và bắt đầu hoạt động từ căn cứ này. Chúng bảo vệ trên không cho các đoàn tàu vận tải và tuần tra chống tàu ngầm, và vào [[tháng 7]] đã có vinh dự hộ tống cho chiếc [[RMS Queen Mary|RMS &amp;#039;&amp;#039;Queen Mary&amp;#039;&amp;#039;]], đưa [[Thủ tướng Anh Quốc]] [[Winston Churchill]] đi tham dự [[Hội nghị Quebec, 1943|Hội nghị Quebec]]. Nó quay trở về Boston vào ngày [[27 tháng 7]] để chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; lên đường cùng &amp;#039;&amp;#039;Ranger&amp;#039;&amp;#039; và các tàu chiến khác vào ngày [[5 tháng 8]] để gia nhập [[Hạm đội Nhà Anh Quốc|Hạm đội Nhà]] tại [[Scapa Flow]]. Đến nơi vào ngày [[19 tháng 8]], nó hoạt động phối hợp cùng [[Hải quân Hoàng gia Anh]] tại các vùng biển Bắc, bảo vệ cho các đoàn tàu vận tải tiếp liệu thiết yếu đi sang [[Nga]]. Đang khi ở lại Scapa Flow vào ngày [[21 tháng 9]], nó được [[Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ|Bộ trưởng Hải quân]] [[Frank Knox]] và [[Đô đốc]] [[Harold Rainsford Stark]] thị sát. Nó tháp tùng &amp;#039;&amp;#039;Ranger&amp;#039;&amp;#039; trong một cuộc không kích vào các ngày [[2 tháng 10|2]]-[[4 tháng 10]] nhắm vào tàu bè Đức tại [[Bodø]], [[Na Uy]]; và sau chiến dịch này nó tiếp tục hoạt động cùng Hạm đội Nhà. Nó hộ tống tàu sân bay {{HMS|Formidable|67|6}} trong các hoạt động không lực trong [[tháng 11]], và sau hai chuyến hộ tống vận tải đến [[Iceland]], đã quay trở về Boston, Hoa Kỳ vào ngày [[3 tháng 12]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1944 ===&lt;br /&gt;
Trong hai tháng đầu năm [[1944]], &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; huấn luyện tại [[vịnh Chesapeake]] và hoạt động cùng các tàu sân bay tại khu vực giữa vùng bờ Đông và quần đảo Bermuda. Nó tham gia cùng [[tàu sân bay hộ tống]] {{USS|Bogue|CVE-9|2}} và các tàu hộ tống khác tại Norfolk, khởi hành vào ngày [[26 tháng 2]]. Các đội tìm-diệt này đã đóng một vai trò quan trọng trong việc đánh đuổi các tàu ngầm U-boat Đức khỏi các tuyến vận chuyển hàng hải quan trọng. Sau khi tuần tra ngoài khơi trong hơn hai tuần, các tàu khu trục đã phát hiện một vệt dầu loang, bắt được tín hiệu [[sonar]], rồi tiến hành tấn công bằng [[mìn sâu]] vào xế trưa ngày [[13 tháng 3]]. Tàu ngầm U-boat [[U-575 (tàu ngầm Đức)|&amp;#039;&amp;#039;U-575&amp;#039;&amp;#039;]] đã bị hư hại nặng và bị buộc phải nổi lên mặt nước, nơi hải pháo của &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; và các tàu khác đã đánh chìm nó. Sau các đợt càn quét tàu ngầm khác xa về phía Đông đến tận quần đảo [[Azores]], nó quay trở về Boston vào ngày [[2 tháng 4]].&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Uss Hobson DD-464 Normandy.jpg|thumb|right|Vỏ đạn pháo 5 inch/38 caliber vương vải trên sàn tàu, sau khi bắn phá hỗ trợ cuộc [[Đổ bộ Normandy]] ngoài khơi [[bãi Utah]], [[6 tháng 6]] năm [[1944]]. Ảnh chụp tại sàn sau con tàu, với bệ pháo 54 bên phải.]]&lt;br /&gt;
Trong một thời gian dài, Đồng Minh đã tập trung lực lượng và phương tiện tại Anh chuẩn bị cho [[Chiến dịch Overlord]], cuộc [[Đổ bộ Normandy]]; và &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; đã khởi hành vào ngày [[21 tháng 4]], tham gia lực lượng khổng lồ vận chuyển và bảo vệ binh lính. Nó trải qua một tháng tuần tra ngoài khơi [[Bắc Ireland]], rồi đi đến [[Plymouth]] vào ngày [[21 tháng 5]], làm những công việc chuẩn bị cuối cùng cho cuộc tấn công. Được phân về Lực lượng Tấn công lên [[bãi Utah]] dưới quyền Chuẩn đô đốc [[Don P. Moon]], nó đi đến ngoài khơi [[Normandy]] cùng các con tàu khác của đội bắn phá lúc 01 giờ 40 phút ngày [[6 tháng 6]], và nổ súng vào các khẩu đội pháo bờ biển của Đức. Trong những giờ đổ bộ đầu tiên, tàu chị em {{USS|Corry|DD-463|3}} bị trúng [[thủy lôi|mìn]] và bị đắm; và sau đó nó cùng {{USS|Fitch|DD-462|3}} khai hỏa vào các vị trí của quân Đức trên bờ, đồng thời cứu vớt những người sống sót. Chiếc tàu khu trục tiếp tục bắn pháo hỗ trợ cho đến khi quay trở về Plymouth vào xế chiều hôm đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; quay trở lại tuyến đầu vào ngày [[8 tháng 6]] bảo vệ cho khu vực tấn công. Nó cũng gây nhiễu các quả [[bom lượn]] điều khiển bằng [[vô tuyến]] do đối phương phóng ra trong các ngày [[9 tháng 6|9]] đến [[11 tháng 6]], và bảo vệ cho các đoàn tàu vận tải vượt qua [[eo biển Manche]]. Do nhu cầu của phe Đồng Minh cần có một cảng tốt trên bờ biển nước [[Pháp]], nó đi đến [[Cherbourg]] vào ngày [[25 tháng 6]] trợ giúp cho cuộc [[Bắn phá Cherbourg|bắn phá]] xuống cảng này. Nó đã bắn vào các khẩu đội pháo hạng nặng đối phương, hộ tống cho các [[thiết giáp hạm]] {{USS|Texas|BB-35|3}} và {{USS|Arkansas|BB-33|3}}; và khi các tàu chiến khổng lồ này bị hỏa lực pháo đối phương vây bủa, nó đã cùng {{USS|Plunkett|DD-431|3}} thả các màn khói ngụy trang bảo vệ cho chúng rút lui. Vài ngày sau đó, Đồng Minh [[Trận Cherbourg|chiếm được]] Cherbourg.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhiệm vụ tiếp theo của &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039;là tại [[Địa Trung Hải]], nơi nó đi đến [[Mers-el-Kébir]], [[Algérie]]vào ngày [[11 tháng 7]], và trong một tháng đã làm nhiệm vụ hộ tống vận tải đi và đến [[Taranto]], [[Ý]]. Gia nhập Lực lượng Tấn công Delta dưới quyền Chuẩn đô đốc [[Bertram J. Rodgers]], nó khởi hành từ Taranto vào ngày [[11 tháng 8]] để tham gia [[Chiến dịch Dragoon]], cuộc đổ bộ của lực lượng Đồng Minh lên miền Nam nước Pháp. Sáng sớm ngày [[15 tháng 8]], nó hoạt động như tàu trinh sát pháo binh cho thiết giáp hạm {{USS|Nevada|BB-36|3}} trong việc bắn phá chuẩn bị; và khi lực lượng đổ bộ lên bờ, nó trực tiếp hỗ trợ bằng dàn pháo chính của mình. Nó ở lại khu vực tấn công cho đến chiều tối hôm sau, đi đến [[Palermo]] vào ngày [[17 tháng 8]] để làm nhiệm vụ hộ tống vận tải tại Địa Trung Hải.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi nhịp độ tấn công của Đồng Minh ngày càng tăng cao, &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; hoạt động trong vai trò hộ tống vận tải giữa Algeria, Ý và Pháp, bảo vệ các tuyến vận tải tiếp liệu và binh lính trọng yếu. Nó lên đường quay trở về Hoa Kỳ vào ngày [[25 tháng 10]], đi đến [[Charleston, South Carolina]] ngang qua Bermuda vào ngày [[10 tháng 11]]. Nó đi vào Xưởng hải quân Charleston để được cải biến thành một [[tàu khu trục quét mìn]], và được xếp lại lớp với ký hiệu lườn mới &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DMS-26&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; vào ngày [[15 tháng 11]] năm [[1944]]. Cho đến [[tháng 12]], nó chạy thử máy và huấn luyện ngoài khơi Charleston và Norfolk.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1945 ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; lên đường vảo ngày [[4 tháng 1]] năm [[1945]], băng qua [[kênh đào Panama]] để tham gia lực lượng được bố trí chống [[Nhật Bản]] tại [[Mặt trận Thái Bình Dương]]. Đi đến [[Trân Châu Cảng]] vào ngày [[11 tháng 2]], con tàu trải qua những đợt huấn luyện quét mìn bổ sung trước khi lên đường vào ngày [[24 tháng 2]] để đi [[Eniwetok]], tham gia một trong những chiến dịch đổ bộ lớn nhất, cũng là cuối cùng tại khu vực Thái Bình Dương, [[Trận Okinawa]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khởi hành vào ngày [[19 tháng 3]] cùng với đội quét mìn, &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; đi đến [[Okinawa]] trước lực lượng đổ bộ để càn quét khu vực ngoài khơi, thường xuyên bị máy bay Nhật Bản tấn công. Khi cuộc đổ bộ bắt đầu vào ngày [[1 tháng 4]], con tàu làm nhiệm vụ tuần tra và bắn pháo sáng ban đêm trong những ngày căng thẳng đầu tiên của chiến dịch. Khi những cuộc không kích cảm tử của đối phương bị đẩy lui với tổn thất lớn, &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; được huy động vào ngày [[13 tháng 4]] để đảm nhiệm vai trò cột mốc [[radar]] thay thế cho tàu khu trục {{USS|Mannert L. Abele|DD-733|3}}, vốn bị đánh chìm bởi một cuộc không kích nặng nề tối hôm trước. Nó tiếp tục làm nhiệm vụ cột mốc và quét mìn cho đến ngày [[16 tháng 4]], khi một cuộc tấn công cảm tử khác nhắm vào nó lúc 09 giờ 00. Con tàu bắn rơi một kẻ tấn công, nhưng một chiếc khác đã đâm bổ vào {{USS|Pringle|DD-477|3}}, gây ra một vụ nổ lớn. Chỉ một phút sau, một máy bay khác bị bắn rơi ngay sát bên mạn phải con tàu, nhưng quả bom của nó phát nổ trên sàn chính, gây ra một đám cháy lớn. Vẫn tiếp tục chiến đấu chống những chiếc [[kamikaze]], con tàu phục hồi được động lực, chiến đấu dập lửa, và vớt được trên 100 người sống sót từ chiếc &amp;#039;&amp;#039;Pringle&amp;#039;&amp;#039; đang chìm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau đợt tấn công, &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; thả neo tại [[Kerama Retto]], quay trở về [[Ulithi]] vào ngày [[29 tháng 4]], và về đến Trân Châu Cảng vào ngày [[16 tháng 5]]. Sau đó nó lên đường, đi ngang qua [[San Diego, California]] và kênh đào Panama, đi đến [[Xưởng hải quân Norfolk]] vào ngày [[16 tháng 6]] để được sửa chữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Sau chiến tranh ===&lt;br /&gt;
[[Tập tin:USS Hobson (DMS-26) underway in 1948.jpg|thumb|Tàu quét mìn USS &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; (DMS-26) trên đường đi, năm [[1948]].]]&lt;br /&gt;
[[Đế quốc Nhật Bản]] chấp nhận đầu hàng không điều kiện trong khi &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; vẫn đang được sửa chữa. Sau khi hoàn tất chạy thử máy huấn luyện, nó trải qua [[tháng 2]] năm [[1946]] hoạt động quét mìn ngoài khơi [[Yorktown, Virginia]]. Trong thời gian còn lại của năm, nó hoạt động huấn luyện và thực tập tại vùng [[biển Caribe]] và ngoài khơi Norfolk. Cho đến năm [[1950]], con tàu tiếp tục hoạt động ngoài khơi vùng bờ Đông và vùng biển Caribe trong các hoạt động đổ bộ và quét mìn. Vào cuối năm [[1948]], nó viếng thăm Argentia và [[Thành phố Halifax|Halifax]], [[Nova Scotia]] trong các hoạt động quét mìn phối hợp cùng các tàu chiến [[Canada]]. Khi [[Chiến tranh Triều Tiên]] nổ ra vào [[tháng 6]] năm [[1950]], cường độ huấn luyện quét mìn của con tàu được tăng cường. Nó tham gia các cuộc thực tập đổ bộ ngoài khơi [[North Carolina]] và tại [[Puerto Rico]] trong những năm [[1950]]-[[1951]], và tham gia các hoạt động tàu sân bay như một tàu canh phòng máy bay và tàu hộ tống.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong một hoạt động như vậy vào đêm [[26 tháng 4]] năm [[1952]], &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; đang di chuyển trong đội hình cùng [[tàu sân bay]] {{USS|Wasp|CV-18|3}} khoảng {{convert|600|nmi|km|abbr=on}} về phía Tây [[Azores]] ở tọa độ {{coord|38|27|N|41|21|W|display=inline, title}}. &amp;#039;&amp;#039;Wasp&amp;#039;&amp;#039; cần đổi hướng để thu hồi máy bay. Các tàu hộ tống cho chiếc tàu sân bay có hai lựa chọn: đi chậm lại và để cho &amp;#039;&amp;#039;Wasp&amp;#039;&amp;#039; bẻ lái, hoặc vượt ngang trước mũi chiếc tàu sân bay. Hạm trưởng chỉ huy của &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039;, Thiếu tá Hải quân W.J. Tierney, và sĩ quan cầu tàu Đại úy Hải quân William Hoefer, bất đồng ý kiến về phương án thực hiện. Vị chỉ huy thắng thế cuộc tranh luận và quyết định cắt ngang mũi chiếc tàu sân bay; trong khi Đại úy Hoefer thông báo trên phóng thanh: &amp;quot;Chuẩn bị va chạm!, Chuẩn bị va chạm!&amp;quot;. &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; vượt ngang mũi và bị chiếc tàu sân bay đâm trúng giữa tàu. Lực va chạm khiến chiếc tàu khu trục bị lật ngang và bị cắt làm đôi. {{USS|Rodman|DD-456|3}} và &amp;#039;&amp;#039;Wasp&amp;#039;&amp;#039; đã cứu vớt nhiều người sống sót, nhưng 176 người đã bị mất cùng con tàu, kể cả thiếu tá Tierney. Do không có thời gian mặc áo phao, nhiều người phải bơi giữa dòng nước [[Đại Tây Dương]] trong gần bốn giờ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Phần thưởng ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng sáu [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II. Nó còn chia sẻ danh hiệu [[Đơn vị Tuyên dương Tổng thống]] cùng các con tàu trong đội đặc nhiệm tàu sân bay hộ tống {{USS|Bogue|CVE-9|3}}.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
{{tham khảo|30em}}&lt;br /&gt;
* Bài này có các trích dẫn từ nguồn [[Dictionary of American Naval Fighting Ships]] thuộc [[phạm vi công cộng]]: http://www.history.navy.mil/danfs/h7/hobson.htm{{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20120716180718/http://www.history.navy.mil/danfs/h7/hobson.htm |date=2012-07-16 }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
{{Commonscat|USS Hobson (DD-464)}}&lt;br /&gt;
* [http://www.history.navy.mil/danfs/h7/hobson.htm history.navy.mil: USS &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039;]{{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20120716180718/http://www.history.navy.mil/danfs/h7/hobson.htm |date=2012-07-16 }}&lt;br /&gt;
* [http://www.navsource.org/archives/05/464.htm navsource.org: USS &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039;] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20190924203102/http://www.navsource.org/archives/05/464.htm |date=2019-09-24 }}&lt;br /&gt;
* [http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd464txt.htm hazegray.org: USS &amp;#039;&amp;#039;Hobson&amp;#039;&amp;#039;] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20191023113953/http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd464txt.htm |date=2019-10-23 }}&lt;br /&gt;
* [http://cdm16099.contentdm.oclc.org/cdm/compoundobject/collection/p16099coll5/id/4774 Hobson-Wasp Collision Collection, 1952-1953 MS 245] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20150217074714/http://cdm16099.contentdm.oclc.org/cdm/compoundobject/collection/p16099coll5/id/4774 |date=2015-02-17 }} held by [http://www.usna.edu/Library/sca/ Special Collection &amp;amp; Archives] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20141018031320/http://www.usna.edu/Library/sca/ |date=2014-10-18 }}, [http://www.usna.edu/Library/ Nimitz Library] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20141018032323/http://www.usna.edu/Library/ |date=2014-10-18 }} at the [http://www.usna.edu United States Naval Academy] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20160906180027/https://www.usna.edu/ |date=2016-09-06 }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;!-- non-breaking space to keep AWB drones from altering the space before the navbox--&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu khu trục Gleaves}}&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Mỹ}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Hobson (DD-464)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu khu trục Gleaves]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu quét mìn của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu quét mìn trong Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu quét mìn trong Chiến tranh Lạnh]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu đắm do va chạm]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Xác tàu đắm tại Đại Tây Dương]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Sự kiện hàng hải 1952]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;InternetArchiveBot</name></author>
	</entry>
</feed>