<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Hogan_%28DD-178%29</id>
	<title>USS Hogan (DD-178) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Hogan_%28DD-178%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Hogan_(DD-178)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-11T08:21:59Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Hogan_(DD-178)&amp;diff=5600160&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;InternetArchiveBot: Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Hogan_(DD-178)&amp;diff=5600160&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-06-18T03:15:19Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image= [[Tập tin:USS Hogan (DD-178) underway, circa in 1920.jpg|300px|USS Hogan (DD-178)]]&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu khu trục USS &amp;#039;&amp;#039;Hogan&amp;#039;&amp;#039; (DD-178)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
| Ship country = Hoa Kỳ&lt;br /&gt;
| Ship flag = {{USN flag|1945}}&lt;br /&gt;
| Ship name = USS &amp;#039;&amp;#039;Hogan&amp;#039;&amp;#039; (DD-178)&lt;br /&gt;
| Ship namesake = [[Daniel Hogan (thủy thủ)|Daniel Hogan]]&lt;br /&gt;
| Ship ordered = &lt;br /&gt;
| Ship awarded = &lt;br /&gt;
| Ship builder = [[Union Iron Works]], [[San Francisco]], [[California]]&lt;br /&gt;
| Ship original cost = &lt;br /&gt;
| Ship laid down = [[25 tháng 11]] năm [[1918]]&lt;br /&gt;
| Ship launched = [[12 tháng 4]] năm [[1919]]&lt;br /&gt;
| Ship sponsor = bà Magnus A. Anderson&lt;br /&gt;
| Ship completed = &lt;br /&gt;
| Ship acquired = &lt;br /&gt;
| Ship commissioned = [[1 tháng 10]] năm [[1919]]&lt;br /&gt;
| Ship recommissioned = [[7 tháng 8]] năm [[1940]]&lt;br /&gt;
| Ship decommissioned = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| [[27 tháng 5]] năm [[1922]]&lt;br /&gt;
| [[11 tháng 10]] năm [[1945]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship in service = &lt;br /&gt;
| Ship out of service = &lt;br /&gt;
| Ship renamed = &lt;br /&gt;
| Ship reclassified = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DMS-6&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;, [[1940]]&lt;br /&gt;
| &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;AG-105&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;, [[5 tháng 6]] năm [[1945]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship struck = [[1 tháng 11]] năm [[1945]]&lt;br /&gt;
| Ship nickname = &lt;br /&gt;
| Ship honors = 6 × [[Ngôi sao Chiến trận]]&lt;br /&gt;
| Ship captured = &lt;br /&gt;
| Ship fate = Đánh chìm như một mục tiêu, [[8 tháng 11]] năm [[1945]]&lt;br /&gt;
| Ship status = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
| Ship class = [[Wickes (lớp tàu khu trục)|Lớp tàu khu trục &amp;#039;&amp;#039;Wickes&amp;#039;&amp;#039;]]&lt;br /&gt;
| Ship displacement = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|1154|LT|MT}} (thông thường),&lt;br /&gt;
| {{convert|1247|LT|MT}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship length = {{convert|314,4|ft|abbr=in|2|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship beam = {{convert|31|ft|abbr=in|2|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship draft = {{convert|9|ft|abbr=in|2|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship propulsion = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons;&amp;lt;ref name=&amp;quot;proceedings&amp;quot;&amp;gt;Thomas, Donald I., CAPT USN &amp;quot;Recommissioning Destroyers, 1939 Style&amp;quot; &amp;#039;&amp;#039;United States Naval Institute Proceedings&amp;#039;&amp;#039; September 1979 tr. 71&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
| 4 × nồi hơi {{convert|300|psi|abbr=on}};&amp;lt;ref name=&amp;quot;proceedings&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
| 2 × trục;&lt;br /&gt;
| công suất {{convert|24610|hp|kW|abbr=on|lk=on}}&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship speed = {{convert|35,3|kn|km/h|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship range = &lt;br /&gt;
| Ship endurance = &lt;br /&gt;
| Ship boats = &lt;br /&gt;
| Ship complement = 133 sĩ quan và thủy thủ&lt;br /&gt;
| Ship crew = &lt;br /&gt;
| Ship sensors = &lt;br /&gt;
| Ship EW = &lt;br /&gt;
| Ship armament = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 4 × pháo [[Hải pháo 4 inch/50 caliber|{{convert|4|in|mm|abbr=on}}/50 caliber]];&amp;lt;ref name=&amp;quot;proceedings&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
| 1 × pháo [[Hải pháo 3 inch/23 caliber|{{convert|3|in|mm|abbr=on}}/23 caliber]];&amp;lt;ref name=&amp;quot;proceedings&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
| 12 × ống phóng [[ngư lôi Mark 15|ngư lôi {{convert|21|in|mm|abbr=on}}]] (4×3)&amp;lt;ref name=&amp;quot;proceedings&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship armor = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft facilities = &lt;br /&gt;
| Ship notes = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;USS &amp;#039;&amp;#039;Hogan&amp;#039;&amp;#039; (DD-178)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; là một [[tàu khu trục]] thuộc [[Wickes (lớp tàu khu trục)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Wickes&amp;#039;&amp;#039;]] của [[Hải quân Hoa Kỳ]] trong giai đoạn [[Chiến tranh Thế giới thứ nhất]], sau được cải biến thành tàu quét mìn cao tốc &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DMS-6&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; trong [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]], và cuối cùng là một tàu phụ trợ &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;AG-105&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo thủy thủ [[Daniel Hogan (thủy thủ)|Daniel Hogan]], anh hùng trong cuộc [[Chiến tranh 1812]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Hogan&amp;#039;&amp;#039; được đặt lườn vào ngày [[25 tháng 11]] năm [[1918]] tại xưởng tàu của hãng [[Union Iron Works]] ở [[San Francisco, California]]. Nó được hạ thủy vào ngày [[12 tháng 4]] năm [[1919]], được đỡ đầu bởi bà Magnus A. Anderson, em gái [[Bộ trưởng Nội vụ Hoa Kỳ|Bộ trưởng Nội vụ]] [[Franklin K. Lane]], và được đưa ra hoạt động vào ngày [[1 tháng 10]] năm [[1919]] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, [[Thiếu tá Hải quân]] E. M. Williams.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
=== Giữa hai cuộc thế chiến ===&lt;br /&gt;
Sau khi hoàn tất chạy thử máy, &amp;#039;&amp;#039;Hogan&amp;#039;&amp;#039; đi đến [[San Diego]] vào ngày [[21 tháng 11]] để gia nhập Lực lượng Khu trục trực thuộc [[Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ|Hạm đội Thái Bình Dương]]. Từ ngày [[23 tháng 11]] năm [[1919]] đến ngày [[6 tháng 2]] năm [[1920]], nó lên đường cùng đội của nó để tham gia cơ động hạm đội, tuần tra, thực hành ngư lôi và tác xạ dọc theo bờ biển [[California]]. Vào ngày [[25 tháng 3]], nó khởi hành đi [[Hawaii]] và hoạt động tại đây trong một tháng tiếp theo. Chiếc tàu khu trục gia nhập trở lại đội của nó tại San Diego vào cuối [[tháng 4]], và trải qua năm tháng tiếp theo thực hành tác xạ và thực tập tại khu vực này.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nó quay trở lại San Diego vào đầu năm [[1921]], và tham gia các cuộc thử nghiệm ngư lôi và tập trận hải đội cho đến ngày [[9 tháng 12]]; trong giai đoạn này, vào [[tháng 10]], &amp;#039;&amp;#039;Hogan&amp;#039;&amp;#039; trở thành chiếc tàu Hải quân Hoa Kỳ đầu tiên được tiếp nhiên liệu trên đường đi, được kéo phía sau bởi tàu chở dầu {{USS|Cuyama|AO-3|2}}. Trong thời gian hoạt động còn lại, nó trợ giúp các [[thiết giáp hạm]] trong việc thực hành ngư lôi tại khu vực [[Thái Bình Dương]]. Nó được cho xuất biên chế tại San Diego vào ngày [[27 tháng 5]] năm [[1922]] và được đưa về lực lượng dự bị.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Thế Chiến II ===&lt;br /&gt;
Được cho nhập biên chế trở lại vào ngày [[7 tháng 8]] năm [[1940]], &amp;#039;&amp;#039;Hogan&amp;#039;&amp;#039; trải qua việc cải biến thành một [[tàu quét mìn]] cao tốc tại [[Xưởng hải quân Mare Island]], và được xếp lại lớp với ký hiệu lườn mới &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DMS-6&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;. Hoạt động trước chiến tranh của nó chủ yếu là huấn luyện quét mìn và tuần tra tại vùng [[biển Caribe]] và dọc theo vùng bờ Đông Hoa Kỳ. Trong những tháng đầu tiên của chiến tranh, &amp;#039;&amp;#039;Hogan&amp;#039;&amp;#039; hoạt động trong vai trò hộ tống vận tải tại vùng biển Caribe và khu vực Đông [[Đại Tây Dương]], bảo vệ tàu bè khỏi các cuộc tấn công của [[tàu ngầm]] [[U-boat]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chiến dịch chính mà nó tham gia là cuộc tấn công đổ bộ lên [[Bắc Phi]] vào cuối năm [[1942]], khi nó rời [[Norfolk, Virginia|Norfolk]] vào ngày [[24 tháng 10]], và cùng với Lực lượng Trung tâm đi đến ngoài khơi [[Fedhala]] cho các đợt càn quét chuẩn bị vào ngày [[7 tháng 11]]. Khi cuộc đổ bộ diễn ra vào sáng sớm ngày hôm sau, chiếc tàu quét mìn tiếp tục tuần tra tại khu vực vận chuyển. Ngay sau 05 giờ 00, nó được điều động đi xác minh một đối tượng đang di chuyển, và phát hiện chiếc tàu hơi nước [[Pháp]] &amp;#039;&amp;#039;Victoria&amp;#039;&amp;#039; cùng một tàu hộ tống. &amp;#039;&amp;#039;Hogan&amp;#039;&amp;#039; ra lệnh cho cả hai chuyển hướng, và khi mệnh lệnh không được tuân theo đã nổ một loạt súng máy cảnh cáo ngang mũi chiếc tàu hộ tống. &amp;#039;&amp;#039;Victoria&amp;#039;&amp;#039; bắn trả bằng hỏa lực của chính nó và tìm cách húc vào chiếc tàu quét mìn, nhưng &amp;#039;&amp;#039;Hogan&amp;#039;&amp;#039; né tránh được và hỏa lực 20&amp;amp;nbsp;mm của nó đã buộc đối phương phải đầu hàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong những ngày tiếp theo, &amp;#039;&amp;#039;Hogan&amp;#039;&amp;#039; tiếp tục tuần tra chống tàu ngầm ngoài khơi Fedhala, truy tìm các tàu ngầm đã tấn công các tàu vận tải vào ngày [[11 tháng 11]]. Con tàu đi vào cảng vào ngày [[18 tháng 11]], kết thúc thành công chiến dịch, và sau các hoạt động tuần tra đã lên đường quay về Norfolk, đến nơi vào ngày [[26 tháng 12]]. Sau đó nó tiếp nối nhiệm vụ hộ tống vận tải ven biển cho đến [[tháng 11]] năm [[1943]]. Nó khởi hành từ Norfolk vào ngày [[13 tháng 11]] để gia nhập [[Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ|Hạm đội Thái Bình Dương]], băng qua [[kênh đào Panama]], và đi đến [[Mare Island]] vào ngày [[5 tháng 12]]. Chiếc tàu quét mìn đang được cần đến cho giai đoạn đầu tiên của chuỗi chiến dịch &amp;quot;nhảy cóc&amp;quot; hướng đến [[Nhật Bản]]: cuộc tấn công [[quần đảo Marshall]]. Nó lên đường ngày [[16 tháng 1]] năm [[1944]] để đi [[Trân Châu Cảng]], rồi đến [[Kwajalein]] và tiến hành tuần tra chống tàu ngầm ngoài khơi [[đảo Roi]] trước khi khởi hành vào ngày [[4 tháng 2]] để đi [[Espiritu Santo]], đến nơi vào ngày [[27 tháng 2]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau một giai đoạn làm nhiệm vụ hộ tống vận tải, &amp;#039;&amp;#039;Hogan&amp;#039;&amp;#039; đi đến [[vịnh Milne]] vào ngày [[7 tháng 4]] để chuẩn bị cho [[Chiến dịch Reckless và Persecution]], cuộc đổ bộ lên [[Hollandia]]. Lực lượng tấn công khởi hành vào ngày [[18 tháng 4]], đi đến [[Teluk Yos Sudarso|vịnh Humboldt]] bốn ngày sau đó. Nó cùng các tàu quét mìn khác dọn sạch lối ra vào cho lực lượng đổ bộ dưới quyền [[Chuẩn đô đốc]] [[Daniel Barbey]]. Sau đó con tàu tiến hành bắn phá bờ biển và hộ tống. Nó đi đến [[mũi Sudest]] cùng với chiếc {{HMAS|Westralia|1939|6}} vào ngày [[25 tháng 4]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Hogan&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ [[Eniwetok]] vào ngày [[10 tháng 6]] để càn quét chuẩn bị cho cuộc tấn công chiếm đóng sắp đến tại [[Saipan]]. Nó ở lại ngoài khơi Saipan khi cuộc đổ bộ diễn ra vào ngày [[15 tháng 6]], chịu đựng hỏa lực pháo duyên hải của đối phương, rồi di chuyển đến [[Guam]] vào ngày hôm sau. Khi hạm đội Nhật Bản di chuyển về hướng [[quần đảo Mariana]] cho một trận hải chiến mang tính quyết định, chiếc tàu quét mìn được lệnh quay trở lại Saipan để bảo vệ cho các tàu vận tải. Khi [[trận chiến biển Philippine]] diễn ra vào các ngày [[19 tháng 6|19]]-[[20 tháng 6]], phía Đồng Minh giành được một thắng lợi lớn, tiêu diệt hầu hết không lực hải quân Nhật và đảm bảo cho chiến dịch Mariana không bị ngăn trở. &amp;#039;&amp;#039;Hogan&amp;#039;&amp;#039; quay trở lại khu vực tập trung ở Eniwetok vào ngày [[30 tháng 6]], nhưng quay trở lại Guam ngay vào ngày [[12 tháng 7]], làm nhiệm vụ quét mìn và bảo vệ cho cuộc tấn công tại đây. Nó đi đến Espiritu Santo vào ngày [[5 tháng 8]] năm [[1944]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau một lượt phục vụ hộ tống đến khu vực [[quần đảo Solomon]], &amp;#039;&amp;#039;Hogan&amp;#039;&amp;#039; lên đường đi ngang qua Trân Châu Cảng đến San Francisco để sửa chữa, đến nơi vào ngày [[5 tháng 10]]. Khi chiến dịch nhằm giải phóng [[Philippines]] bắt đầu đi vào cao điểm, chiếc tàu quét mìn rời San Francisco vào ngày [[6 tháng 11]], đi đến khu vực tập trung tại [[đảo Manus|Manus]] vào ngày [[4 tháng 12]] năm [[1944]]. Di chuyển đến [[vịnh Leyte]] trước lễ [[Giáng Sinh]], nó lên đường cùng lực lượng quét mìn và dò âm vào ngày [[2 tháng 1]] năm [[1945]]. Các cuộc tấn công cảm tử [[kamikaze]] diễn ra liên tục sau đó, suốt chặng đường đi đến [[vịnh Lingayen]]. Chiếc tàu quét mìn đi đến khu vực tấn công vào ngày [[2 tháng 1]], và bắt đầu hoạt động quét mìn chuẩn bị. Bốn trong số các tàu quét mìn đã bị đánh chìm hay hư hại, và xạ thủ phòng không trên chiếc &amp;#039;&amp;#039;Hogan&amp;#039;&amp;#039; phải liên tục đối phó với các cuộc không kích không ngừng nghỉ. Khi chiến dịch diễn ra thuận lợi, con tàu quay trở về vịnh Leyte vào ngày [[16 tháng 1]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi rút lui về [[Tinian]], &amp;#039;&amp;#039;Hogan&amp;#039;&amp;#039; một lần nữa khởi hành vào ngày [[7 tháng 2]] để tham gia cuộc tấn công quan trọng lên [[Iwo Jima]]. Trong chiến dịch này, nó thực hiện quét mìn, hộ tống tàu vận chuyển cũng như bắn phá bờ biển cho đến khi lên đường cùng một nhóm thiết giáp hạm và tàu hộ tống vào ngày [[7 tháng 3]]. Đi đến Trân Châu Cảng ngang qua [[Ulithi]] vào ngày [[13 tháng 4]], nó tiếp tục đi San Diego vào ngày [[3 tháng 5]] năm [[1945]]. Nó được sửa chữa và đại tu, được xếp lại lớp như một tàu phụ trợ với ký hiệu lườn &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;AG-105&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; vào ngày [[5 tháng 6]] năm [[1945]]. Con tàu chiến kỳ cựu sau cùng được sử dụng như một mục tiêu thử nghiệm ném bom, và bị đánh chìm ngoài khơi San Diego vào ngày [[8 tháng 11]] năm [[1945]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Phần thưởng ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Hogan&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng sáu [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
{{tham khảo|30em}}&lt;br /&gt;
* Bài này có các trích dẫn từ nguồn [[Dictionary of American Naval Fighting Ships]] thuộc [[phạm vi công cộng]]: http://www.history.navy.mil/danfs/h7/hogan.htm {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20130928064809/http://www.history.navy.mil/danfs/h7/hogan.htm |date=2013-09-28 }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
* [http://www.navsource.org/archives/05/178.htm NavSource Photos] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20130826055444/http://www.navsource.org/archives/05/178.htm |date=2013-08-26 }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;!-- non-breaking space to keep AWB drones from altering the space before the navbox--&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu khu trục Wickes}}&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Mỹ}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Hogan (DD-178)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu khu trục Wickes]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu quét mìn của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu phụ trợ của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu bị đánh chìm như mục tiêu]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Xác tàu đắm tại bờ biển California]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;InternetArchiveBot</name></author>
	</entry>
</feed>