<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Hyman_%28DD-732%29</id>
	<title>USS Hyman (DD-732) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Hyman_%28DD-732%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Hyman_(DD-732)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-11T11:04:05Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Hyman_(DD-732)&amp;diff=7113461&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;InternetArchiveBot: Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Hyman_(DD-732)&amp;diff=7113461&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-06-18T03:40:45Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image= [[Tập tin: USS Hyman (DD-732) underway in the early 1950s.jpg|300px|USS &amp;#039;&amp;#039;Hyman&amp;#039;&amp;#039; (DD-732) underway in the early 1950s]]&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu khu trục USS &amp;#039;&amp;#039;Hyman&amp;#039;&amp;#039; (DD-732) trên đường đi, đầu những năm [[thập niên 1950|1950]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
|Ship country= Hoa Kỳ &lt;br /&gt;
|Ship flag= {{USN flag|1969}}&lt;br /&gt;
|Ship name= USS &amp;#039;&amp;#039;Hyman&amp;#039;&amp;#039; (DD-732)&lt;br /&gt;
|Ship namesake=[[Willford Hyman|Willford Milton Hyman]]&lt;br /&gt;
|Ship ordered=&lt;br /&gt;
|Ship awarded=&lt;br /&gt;
|Ship builder=[[Bath Iron Works]]&lt;br /&gt;
|Ship original cost=&lt;br /&gt;
|Ship laid down= [[22 tháng 11]] năm [[1943]]&lt;br /&gt;
|Ship launched= [[8 tháng 4]] năm [[1944]]&lt;br /&gt;
|Ship sponsor=&lt;br /&gt;
|Ship completed=&lt;br /&gt;
|Ship acquired=&lt;br /&gt;
|Ship commissioned= [[16 tháng 6]] năm [[1944]]&lt;br /&gt;
|Ship recommissioned=&lt;br /&gt;
|Ship decommissioned= [[14 tháng 11]] năm [[1969]]&lt;br /&gt;
|Ship in service=&lt;br /&gt;
|Ship out of service=&lt;br /&gt;
|Ship renamed=&lt;br /&gt;
|Ship reclassified=&lt;br /&gt;
|Ship struck= [[14 tháng 11]] năm [[1969]]&lt;br /&gt;
|Ship nickname=&lt;br /&gt;
|Ship honors=&lt;br /&gt;
|Ship captured=&lt;br /&gt;
|Ship fate= Bán để tháo dỡ, [[13 tháng 10]] năm [[1970]]&lt;br /&gt;
|Ship status=&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
| Ship class = [[Allen M. Sumner (lớp tàu khu trục)|Lớp tàu khu trục &amp;#039;&amp;#039;Allen M. Sumner&amp;#039;&amp;#039;]]&lt;br /&gt;
| Ship displacement = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|2200|LT|t|abbr=on}} (tiêu chuẩn);&lt;br /&gt;
| {{convert|3515|LT|t|abbr=on}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship length = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|369|ft|m|abbr=on}} (mực nước);&lt;br /&gt;
| {{convert|376|ft|6|in|m|abbr=on}} (chung)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship beam = {{convert|40|ft|m|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship draft = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|15|ft|9|in|m|abbr=on}} (tiêu chuẩn);&lt;br /&gt;
| {{convert|19|ft|m|abbr=on}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship propulsion = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 4 × nồi hơi;&lt;br /&gt;
| 2 × turbine hơi nước hộp số;&lt;br /&gt;
| 2 × trục;&lt;br /&gt;
| công suất {{convert| 60000|shp|kW|abbr=on|lk=on}}&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship speed = {{convert|34|kn|mph km/h|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship range = {{convert|6000|nmi|km|-3|abbr=on}} ở tốc độ {{convert|15|kn|mph km/h|0|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship endurance = &lt;br /&gt;
| Ship boats = &lt;br /&gt;
| Ship complement = 336 sĩ quan và thủy thủ&lt;br /&gt;
| Ship crew = &lt;br /&gt;
| Ship sensors = &lt;br /&gt;
| Ship EW = &lt;br /&gt;
| Ship armament = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 6 × pháo [[Hải pháo 5 inch/38 caliber|{{convert|5|in|mm|abbr=on}}/38 caliber]] (3×2) trên bệ Mk 38 nòng đôi;&lt;br /&gt;
| 12 × pháo phòng không [[Bofors 40 mm]] (2×4 &amp;amp; 2×2);&lt;br /&gt;
| 11 × pháo phòng không [[Oerlikon 20 mm]];&lt;br /&gt;
| 10 × ống phóng [[ngư lôi]] [[Ngư lôi Mark 15|Mark 15]] {{convert|21|in|mm|abbr=on}} (2×5);&lt;br /&gt;
| 6 × máy phóng [[K-gun]] và 2 × đường ray thả [[mìn sâu]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship armor = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft facilities = &lt;br /&gt;
| Ship notes = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;USS &amp;#039;&amp;#039;Hyman&amp;#039;&amp;#039; (DD-732)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;, là một [[tàu khu trục]] [[Allen M. Sumner (lớp tàu khu trục)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Allen M. Sumner&amp;#039;&amp;#039;]] được [[Hải quân Hoa Kỳ]] chế tạo trong [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]]. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Mỹ được đặt theo tên [[Thiếu tá Hải quân]] [[Willford Hyman|Willford Milton Hyman]] (1901-1942), hạm trưởng tàu khu trục {{USS|Sims|DD-409|6}}, đã tử trận cùng với con tàu trong [[Trận chiến biển Coral]] ngày [[7 tháng 5]] năm [[1942]], và được truy tặng [[Huân chương Chữ thập Hải quân]]. Nó đã hoạt động cho đến hết Thế Chiến II, và tiếp tục phục vụ sau đó trong [[Chiến tranh Triều Tiên]] và [[Chiến tranh Lạnh]] cho đến khi xuất biên chế năm [[1969]] và bị bán để tháo dỡ một năm sau đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
{{main|Allen M. Sumner (lớp tàu khu trục)}}&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Hyman&amp;#039;&amp;#039; được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng [[Bath Iron Works]] Corp. ở [[Bath, Maine]] vào ngày [[22 tháng 11]] năm [[1943]]. Nó được hạ thủy vào ngày [[8 tháng 4]] năm [[1944]], và nhập biên chế vào ngày [[16 tháng 6]] năm [[1944]] dưới quyền chỉ huy của [[Trung tá Hải quân]] Rollo Neill Norgaard.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
=== 1944 – 1945 ===&lt;br /&gt;
Sau khi hoàn tất chuyến đi chạy thử máy tại khu vực quần đảo[[Bermuda]] và tại [[Casco Bay, Maine]], &amp;#039;&amp;#039;Hyman&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ [[Boston, Massachusetts]] vào ngày [[18 tháng 9]] năm [[1944]] để gia nhập [[Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ|Hạm đội Thái Bình Dương]]. Đi ngang qua [[kênh đào Panama]] và [[San Diego]], nó đi đến [[Trân Châu Cảng]] vào ngày [[12 tháng 10]], và trải qua những tháng tiếp theo thực tập huấn luyện, thực hành đổ bộ, cùng những chuyến đi hộ tống vận tải đến căn cứ tiền phương tại [[Eniwetok]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chiến sự tại [[Mặt trận Thái Bình Dương]] đang khi vào giai đoạn kết thúc, trong đó hai gọng kìm đang tiếp cận [[Đế quốc Nhật Bản|Nhật Bản]] từ hướng Trung tâm Thái Bình Dương và từ [[Philippines]]. Mục tiêu chính yếu tiếp theo là [[Iwo Jima]], tiền đồn phòng thủ hướng Trung tâm của chính quốc Nhật Bản. Vì vậy, &amp;#039;&amp;#039;Hyman&amp;#039;&amp;#039; khởi hành vào ngày [[27 tháng 1]] năm [[1945]] cùng các tàu vận chuyển thuộc Lực lượng Đặc nhiệm 50 của [[Phó đô đốc]] [[Kelly Turner]], ghé qua Eniwetok trước khi đi đến [[Saipan]], nơi nó tiến hành các cuộc tổng dượt sau cùng. Sáng ngày [[19 tháng 2]], nó tham gia thành phần hộ tống cho lực lượng đổ bộ, và cung cấp hỏa lực hỗ trợ cho cuộc đổ bộ và tấn công trên bộ. Chiếc tàu khu trục tiếp tục bắn phá các công sự phòng thủ của quân Nhật cho đến ngày [[23 tháng 2]], khi nó tuần tra chống tàu ngầm ở khu vực phía Nam Iwo Jima. Quay lại nhiệm vụ hỗ trợ hỏa lực vào ngày hôm sau, nó đánh trả một đợt không kích của đối phương, và tiếp tục hoạt động tại Iwo Jima cho đến ngày [[2 tháng 3]], khi nó khởi hành đi [[vịnh Leyte]], nơi nó chuẩn bị cho chiến dịch đổ bộ tiếp theo lên [[Okinawa]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào ngày [[27 tháng 3]], &amp;#039;&amp;#039;Hyman&amp;#039;&amp;#039; khởi hành trong thành phần Lực lượng Tấn công phía Nam dưới quyền [[Chuẩn đô đốc]] [[John L. Hall Jr.|John Lesslie Hall]], đi đến ngoài khơi Okinawa vào ngày [[1 tháng 4]], vào đúng ngày D của cuộc đổ bộ. Nó đã tuần tra bảo vệ tại khu vực đổ bộ chống lại sự tấn công của máy bay và tàu ngầm đối phương, và trong những ngày tiếp theo đã đánh trả nhiều đợt không kích nhắm vào lực lượng đổ bộ. Vào ngày [[5 tháng 4]], nó dẫn đầu một lực lượng truy tìm tung tích một [[tàu ngầm bỏ túi]] đối phương. Sang ngày hôm sau, đang khi cùng các con tàu khác làm nhiệm vụ cột mốc [[radar]] canh phòng về phía Tây [[Ie Shima]], nó bị máy bay [[Kamikaze]] tấn công tự sát hàng loạt. Nó đã bắn rơi nhiều máy bay đối phương trước khi bị một chiếc, cho dù đã bị bắn hỏng, vẫn đâm trúng phía giữa tàu gần các dàn ống phóng [[ngư lôi]], làm bùng phát các đám cháy. Đang khi chữa cháy, nó tiếp tục giúp vào việc bắn rơi thêm hai máy bay đối phương khác trước khi trận chiến kết thúc. Con tàu chịu đựng 12 thành viên thủy thủ đoàn tử trận và trên 40 người bị thương.&lt;br /&gt;
[[Tập tin:USS Hyman (DD-732) underway in San Francisco Bay, California (USA), 20 July 1945 (19-N-87168).jpg|thumb|left|USS &amp;#039;&amp;#039;Hyman&amp;#039;&amp;#039; trong vịnh San Francisco, 20 tháng 7, 1945.]]&lt;br /&gt;
Sau khi được sửa chữa tạm thời tại [[Kerama Retto]] vào ngày [[7 tháng 4]], &amp;#039;&amp;#039;Hyman&amp;#039;&amp;#039; đi đến Saipan vào ngày [[28 tháng 4]] rồi tiếp tục hành trình quay trở về Hoa Kỳ chỉ với một động cơ, về đến [[San Francisco]], [[California]] vào ngày [[16 tháng 5]]. Nó hoàn tất việc sửa chữa vào cuối [[tháng 7]], và sau các hoạt động huấn luyện lại lên đường đi sang Trân Châu Cảng, nhưng đến nơi vào đúng ngày [[Đế quốc Nhật Bản]] [[Nhật Bản đầu hàng|chấp nhận]] [[15 tháng 8]], kết thúc cuộc chiến tranh. Chiếc tàu khu trục làm nhiệm vụ canh phòng máy bay cho tàu sân bay tại vùng biển [[Hawaii]], rồi đi đến [[Kwajalein]] vào ngày [[5 tháng 9]] để tiếp nhận đầu hàng của lực lượng Nhật Bản trú đóng tại đây. Nó tiếp nhận đầu hàng của lực lượng Nhật Bản trên đảo [[Kosrae|Kusaie]] vào ngày [[8 tháng 9]], và tại [[Pohnpei|Ponape]] vào ngày [[11 tháng 9]]. Đại tá Hải quân Momm, tư lệnh đội khu trục trên &amp;#039;&amp;#039;Hyman&amp;#039;&amp;#039;, đã đảm nhiệm vai trò tư lệnh quân quản của Ponape vào ngày hôm sau. Con tàu tiếp tục làm nhiệm vụ chiếm đóng và hồi hương tại khu vực cho đến khi đi đến Eniwetok vào ngày [[26 tháng 12]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1946 - 1950 ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Hyman&amp;#039;&amp;#039; thực hành huấn luyện tại [[Yokosuka]], Nhật Bản vào đầu năm [[1946]] trước khi lên đường, đi ngang qua [[California]] và [[kênh đào Panama]] để đi [[Casco Bay, Maine]], đến nơi vào ngày [[16 tháng 4]]. Nó thực hành huấn luyện và thực tập [[chiến tranh chống tàu ngầm|chống tàu ngầm]] dọc theo vùng bờ Đông và vùng [[biển Caribe]] cho đến cuối năm [[1946]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Hyman&amp;#039;&amp;#039; lên đường vào ngày [[2 tháng 2]], [[1947]] cho lượt hoạt động đầu tiên tại [[Địa Trung Hải]]. Trong năm tiếp theo, nó hoạt động ven biển dọc theo vùng bờ Đông trước khi khởi hành vào ngày [[13 tháng 9]], [[1948]] cùng một đội [[tàu sân bay]] và [[tàu tuần dương]] để đi sang khu vực Địa Trung Hải. Đội đã hỗ trợ cho hoạt động của Lực lượng Gìn giữ Hòa bình [[Liên Hợp Quốc]] tại vùng đất [[Palestine]] sau khi xảy ra xung đột giữa nước [[Israel]] mới thành lập với các nước [[Ả Rập]] chung quanh; chiếc tàu khu trục quay trở về [[Newport, Rhode Island]] vào ngày [[23 tháng 1]], [[1949]]. Trong các năm [[1949]]-[[1950]], nó làm nhiệm vụ huấn luyện nhân sự của [[Hải quân Dự bị Hoa Kỳ]] từ căn cứ [[Algiers, Louisiana]], thực hiện những chuấn đi huấn luyện thực hành ngắn kéo dài hai tuần.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Chiến tranh Triều Tiên ===&lt;br /&gt;
Khi lực lượng [[Bắc Triều Tiên]] tấn công xuống [[Nam Triều Tiên]] khiến [[Chiến tranh Triều Tiên|chiến tranh]] bùng nổ vào [[tháng 6]], [[1950]], &amp;#039;&amp;#039;Hyman&amp;#039;&amp;#039; tách khỏi vai trò huấn luyện dự bị để huấn luyện và tập trận tại vùng biển Caribe. Nó thực hiện một chuyến đi sang Địa Trung Hải từ ngày [[6 tháng 3]] đến ngày [[7 tháng 6]], [[1951]], rồi cùng đội khu trục khởi hành từ Newport vào ngày [[2 tháng 10]] để đi sang vùng chiến sự. Nó đi ngang qua kênh đào Panama, San Diego và quần đảo [[Hawaii]], đi đến [[Yokosuka]], Nhật Bản vào ngày [[31 tháng 10]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến lúc này cuộc chiến trên bộ tại [[Triều Tiên]] đã vào thế giằng co, nên những hoạt động tác chiến chủ yếu bao gồm không kích các mục tiêu sâu trong đất liền và bắn phá bờ biển. &amp;#039;&amp;#039;Hyman&amp;#039;&amp;#039; đã đi đến ngoài khơi [[Wonsan]] vào ngày [[6 tháng 11]], tiến hành bắn phá các mục tiêu đối phương và ở lại khu vực này cho đến ngày [[19 tháng 11]], khi nó chuyển sang nhiệm vụ canh phòng máy bay cho [[tàu sân bay]] [[Hải quân Hoàng gia Australia|Australia]] {{HMAS|Sydney|R17}}. Quay trở lại khu vực cảng Wonsan, nó đã đấu pháo tay đôi với các khẩu đội pháo bờ biển đối phương tại bán đảo [[Kalmo Pando]] vào ngày [[24 tháng 11]], chịu đựng hư hại nhẹ bởi mảnh đạn pháo. Sau đó nó gia nhập cùng Lực lượng Đặc nhiệm 77 vào [[tháng 12]], và đảm trách vai trò tìm kiếm và giải cứu những phi công bị bắn rơi khi thực hiện những phi vụ can thiệp trong [[biển Nhật Bản]]. Nó quay trở về Yokosuka vào ngày [[22 tháng 2]], [[1952]], và không lâu sau đó đã lên đường cho hành trình quay trở về Hoa Kỳ, đi ngang qua [[Sri Lanka|Ceylon]], [[Saudi Arabia]], [[Ý]] và [[Pháp]], hoàn tất một chuyến đi vòng quanh thế giới khi về đến Newport vào ngày [[21 tháng 4]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1953 - 1970 ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Hyman&amp;#039;&amp;#039; lại lên đường vào ngày [[7 tháng 1]], [[1953]] để đi sang vùng biển Địa Trung Hải, nơi nó tham gia các cuộc tập trận phối hợp cùng các tàu chiến [[Anh]] và [[Pháp]], rồi quay trở về cảng nhà vào ngày [[24 tháng 5]]. Trong những năm [[1954]] và [[1955]], nó thực hành chống tàu ngầm tại vùng biển Caribe và Đại Tây Dương. Sang năm [[1956]], nó đưa những học viên sĩ quan trong chuyến đi huấn luyện đến vùng biển Caribe, rồi tham gia các cuộc tập trận của Khối [[NATO]] ngoài khơi [[Virginia Capes]] trong [[tháng 5]]. Vào [[tháng 6]], [[1957]], con tàu tham gia cuộc duyệt binh hải quân quốc tế nhân dịp lễ hội tại [[Jamestown, Virginia]] nhân kỷ niệm 350 năm người Anh đến định cư tại Tân Thế Giới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau một chuyến đi thực tập dành cho học viên sĩ quan khác, &amp;#039;&amp;#039;Hyman&amp;#039;&amp;#039; khởi hành vào ngày [[29 tháng 11]], [[1957]] để đi sang Địa Trung Hải, hoạt động cùng [[Đệ lục Hạm đội Hoa Kỳ|Đệ lục Hạm đội]] và viếng thăm nhiều cảng tại khu vực Đông Địa Trung Hải. Nó quay trở về Hoa Kỳ vào ngày [[12 tháng 4]], [[1958]], và trong thời gian còn lại của năm đã tham gia các cuộc tập trận của Khối [[NATO]] tại Bắc Đại Tây Dương cùng các đợt thực tập chống tàu ngầm. Các hoạt động tại vùng biển nhà kéo dài cho đến ngày [[4 tháng 8]], [[1960]], khi nó lên đường cho một lượt phục vụ khác cùng Đệ lục Hạm đội tại Địa Trung Hải. Con tàu đã đi đến khu vực phía Tây quần đảo [[Azores]] vào [[tháng 4]], [[1961]] để phục vụ như tàu thu hồi dự phòng trong khuôn khổ [[Chương trình Mercury]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sang năm [[1962]], &amp;#039;&amp;#039;Hyman&amp;#039;&amp;#039; thực hiện một chuyến đi khác sang Địa Trung Hải, viếng thăm các cảng tại khu vực [[Trung Đông]] và hoạt động cùng hải quân nhiều nước. Đang khi con tàu trải qua một đợt sửa chữa vào [[tháng 10]], việc phát hiện [[Liên Xô]] bố trí [[tên lửa đạn đạo]] mang đầu đạn [[hạt nhân]] tại [[Cuba]] đã đưa đến vụ [[Khủng hoảng tên lửa Cuba]], và một chiếc dịch &amp;quot;cô lập&amp;quot; Cuba được tiến hành. Tuy nhiên khi chiếc tàu khu trục hoàn tất việc đại tu và đi đến khu vực, vụ khủng hoảng đã được giải quyết theo con đường ngoại giao, và việc phong tỏa được dỡ bỏ vào cuối [[tháng 11]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Hyman&amp;#039;&amp;#039; lên đường đi [[Costa Rica]] vào [[tháng 3]], [[1963]] nhân chuyến viếng thăm đất nước [[Trung Mỹ]] này của [[Tổng thống Hoa Kỳ|Tổng thống]] [[John F. Kennedy]]; và sau một đợt thực tập chống tàu ngầm, nó đã đi đến vùng biển phía Đông [[mũi Canaveral]] chuẩn bị cho một lượt phóng tàu không gian khác trong Chương trình Mercury. Nó hoạt động như tàu thu hồi dự phòng cho chuyến bay [[Faith 7]] lên quỹ đạo quanh trái đất của phi hành gia [[Gordon Cooper]]. Sau đó nó tiếp nối các hoạt động huấn luyện tại vùng biển Caribe. Sang năm [[1964]], nó lại tham gia thực tập chống tàu ngầm, và phục vụ khảo sát thủy văn tại vùng biển Cuba. Nó đi vào [[Xưởng hải quân Boston]] vào [[tháng 4]] để đại tu, rồi lên đường cho một lượt phục vụ nữa cùng Đệ lục Hạm đội tại Địa Trung Hải vào ngày [[27 tháng 11]]. Con tàu quay trở về Newport vào ngày [[13 tháng 3]], [[1965]], rồi thực hiện một chuyến đi thực tập cho nhân sự [[Hải quân Dự bị Hoa Kỳ]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đang khi thực hành huấn luyện vào giữa [[tháng 9]], [[1965]], &amp;#039;&amp;#039;Hyman&amp;#039;&amp;#039; được lệnh tham gia tìm kiếm một [[sà lan]] chở [[chlorine]] bị mất tích trên [[sông Mississippi]] sau cơn [[bão Betsy]]. Cho dù bị hư hại bởi cơn bão vốn cũng đã đám chìm chiếc sa lan, nó đã truy tìm trên sông Mississippi trong một tuần lễ; và cuối cùng sonar và máy dò độ sâu đã xác định được vị trí đắm của chiếc sa lan chở đầy khí độc này gần [[Baton Rouge, Louisiana]] vào ngày [[17 tháng 9]]. Sau đó nó đi đến [[Orange, Texas]] để sửa chữa; và nhiệm vụ huấn luyện dự bị được tiếp tục cho đến năm [[1967]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Hyman&amp;#039;&amp;#039; được cho xuất biên chế vào ngày [[14 tháng 11]], [[1969]], và tên nó được cho rút khỏi danh sách [[Đăng bạ Hải quân]] cùng ngày hôm đó. Con tàu bị bán vào ngày [[13 tháng 10]], [[1970]] để tháo dỡ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
{{tham khảo}}&lt;br /&gt;
{{Refbegin}}&lt;br /&gt;
* Bài này có các trích dẫn từ nguồn [[:en:Dictionary of American Naval Fighting Ships]] thuộc [[phạm vi công cộng]]: http://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/h/hyman.html&lt;br /&gt;
* Bài này có các trích dẫn từ nguồn [[:en:Naval Vessel Register]] thuộc [[phạm vi công cộng]]: www.nvr.navy.mil/SHIPDETAILS/SHIPSDETAIL_DD_732.HTML &lt;br /&gt;
{{Refend}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
*[http://www.navsource.org/archives/05/732.htm navsource.org: USS &amp;#039;&amp;#039;Hyman&amp;#039;&amp;#039;] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20190614123631/http://www.navsource.org/archives/05/732.htm |date=2019-06-14 }}&lt;br /&gt;
*[http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd732txt.htm hazegray.org: USS &amp;#039;&amp;#039;Hyman&amp;#039;&amp;#039;] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20060927093746/http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd732txt.htm |date=2006-09-27 }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;!-- non-breaking space to keep AWB drones from altering the space before the navbox--&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu khu trục Allen M. Sumner }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Mỹ}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Hyman (DD-732)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu khu trục Allen M. Sumner]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Chiến tranh Lạnh]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Chiến tranh Triều Tiên]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu thủy năm 1944]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;InternetArchiveBot</name></author>
	</entry>
</feed>