<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Ingraham_%28DD-694%29</id>
	<title>USS Ingraham (DD-694) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Ingraham_%28DD-694%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Ingraham_(DD-694)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-11T00:57:14Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Ingraham_(DD-694)&amp;diff=6767294&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;InternetArchiveBot: Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Ingraham_(DD-694)&amp;diff=6767294&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-02-26T04:35:56Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{{Dablink|Về những tàu chiến Hoa Kỳ khác mang cùng tên, xin xem [[USS Ingraham]].}}&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image= [[Tập tin:USS Ingraham (DD-694) off New York City on 9 March 1944 (19-N-62588).jpg|300px|USS Ingraham]]&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu khu trục USS &amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039; (DD-694), [[9 tháng 3]] năm [[1944]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
| Ship country = Hoa Kỳ&lt;br /&gt;
| Ship flag = {{USN flag|1973}}&lt;br /&gt;
| Ship name = USS &amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039; (DD-694)&lt;br /&gt;
| Ship namesake = Đại tá Hải quân [[Duncan Ingraham]]&lt;br /&gt;
| Ship ordered = &lt;br /&gt;
| Ship awarded = &lt;br /&gt;
| Ship builder = [[Federal Shipbuilding and Drydock Company|Federal Shipbuilding]], [[Kearny, New Jersey]]&lt;br /&gt;
| Ship original cost = &lt;br /&gt;
| Ship laid down = [[4 tháng 8]] năm [[1943]]&lt;br /&gt;
| Ship launched = [[16 tháng 1]] năm [[1944]]&lt;br /&gt;
| Ship sponsor = bà George Ingraham Hutchinson&lt;br /&gt;
| Ship completed = &lt;br /&gt;
| Ship acquired = &lt;br /&gt;
| Ship commissioned = [[10 tháng 3]] năm [[1944]]&lt;br /&gt;
| Ship recommissioned = &lt;br /&gt;
| Ship decommissioned = [[15 tháng 6]] năm [[1971]]&lt;br /&gt;
| Ship in service = &lt;br /&gt;
| Ship out of service = &lt;br /&gt;
| Ship renamed = &lt;br /&gt;
| Ship reclassified = &lt;br /&gt;
| Ship struck = [[16 tháng 7]] năm [[1971]]&lt;br /&gt;
| Ship nickname = &lt;br /&gt;
| Ship honors = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| [[Đơn vị Tưởng thưởng Hải quân]];&lt;br /&gt;
| 5 × [[Ngôi sao Chiến trận]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship captured = &lt;br /&gt;
| Ship fate = Được chuyển cho [[Hy Lạp]], [[16 tháng 7]] năm [[1971]]&lt;br /&gt;
| Ship status = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
| Ship country = Hy Lạp&lt;br /&gt;
| Ship flag = {{shipboxflag|Greece|naval}}&lt;br /&gt;
| Ship name = &amp;#039;&amp;#039;Miaoulis&amp;#039;&amp;#039; (D211)&lt;br /&gt;
| Ship namesake = [[Andreas Vokos Miaoulis]]&lt;br /&gt;
| Ship acquired = [[16 tháng 7]] năm [[1971]]&lt;br /&gt;
| Ship struck = [[1992]]&lt;br /&gt;
| Ship fate = Bị đánh chìm như mục tiêu, [[9 tháng 10]] năm [[2001]]&lt;br /&gt;
| Ship status = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
| Ship class = [[Allen M. Sumner (lớp tàu khu trục)|Lớp tàu khu trục &amp;#039;&amp;#039;Allen M. Sumner&amp;#039;&amp;#039;]]&lt;br /&gt;
| Ship displacement = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|2200|LT|t|abbr=on}} (tiêu chuẩn);&lt;br /&gt;
| {{convert|3515|LT|t|abbr=on}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship length = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|369|ft|m|abbr=on}} (mực nước);&lt;br /&gt;
| {{convert|376|ft|6|in|m|abbr=on}} (chung)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship beam = {{convert|40|ft|m|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship draft = {{convert|15|ft|9|in|m|abbr=on}} (tiêu chuẩn); {{convert|19|ft|m|abbr=on}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
| Ship propulsion = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 4 × nồi hơi;&lt;br /&gt;
| 2 × turbine hơi nước hộp số;&lt;br /&gt;
| 2 × trục;&lt;br /&gt;
| công suất {{convert| 60000|shp|kW|abbr=on|lk=on}}&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship speed = {{convert|34|kn|mph km/h|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship range = {{convert|6000|nmi|km|-3|abbr=on}} ở tốc độ {{convert|15|kn|mph km/h|0|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship endurance = &lt;br /&gt;
| Ship boats = &lt;br /&gt;
| Ship complement = 336-363 sĩ quan và thủy thủ&lt;br /&gt;
| Ship crew = &lt;br /&gt;
| Ship sensors = &lt;br /&gt;
| Ship EW = &lt;br /&gt;
| Ship armament = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 6 × pháo [[Hải pháo 5 inch/38 caliber|{{convert|5|in|mm|abbr=on}}/38 caliber]] (3×2) trên bệ Mk 38 nòng đôi;&lt;br /&gt;
| 12 × pháo phòng không [[Bofors 40 mm]] (2×4 &amp;amp; 2×2);&lt;br /&gt;
| 11 × pháo phòng không [[Oerlikon 20 mm]];&lt;br /&gt;
| 10 × ống phóng [[ngư lôi]] [[Ngư lôi Mark 15|Mark 15]] {{convert|21|in|mm|abbr=on}} (2×5);&lt;br /&gt;
| 6 × máy phóng [[K-gun]] và 2 × đường ray thả [[mìn sâu]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship armor = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft facilities = &lt;br /&gt;
| Ship notes = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;USS &amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039; (DD-694)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; là một [[tàu khu trục]] [[Allen M. Sumner (lớp tàu khu trục)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Allen M. Sumner&amp;#039;&amp;#039;]] được [[Hải quân Hoa Kỳ]] chế tạo trong [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]]. Nó là chiếc tàu chiến thứ ba của Hải quân Mỹ được đặt theo tên [[Đại tá Hải quân]] [[Duncan Ingraham|Duncan Nathaniel Ingraham]] (1802-1891). Nó đã hoạt động cho đến hết Thế Chiến II, và tiếp tục phục vụ sau đó trong [[Chiến tranh Triều Tiên]] và [[Chiến tranh Việt Nam]] cho đến khi được chuyển cho [[Hy Lạp]] năm [[1971]]. Nó tiếp tục phục vụ như là chiếc &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Miaoulis&amp;#039;&amp;#039; (D211)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; cho đến khi ngừng hoạt động năm [[1992]] và bị đánh chìm như mục tiêu năm [[2001]]. &amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng danh hiệu [[Đơn vị Tưởng thưởng Hải quân]] và bốn [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II, và thêm một Ngôi sao Chiến trận khác trong Chiến tranh Triều Tiên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
{{main|Allen M. Sumner (lớp tàu khu trục)}}&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039; được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng [[Federal Shipbuilding and Drydock Company]] ở [[Kearny, New Jersey]] vào ngày [[4 tháng 8]] năm [[1943]]. Nó được hạ thủy vào ngày [[16 tháng 1]] năm [[1944]]; được đỡ đầu bởi bà George Ingraham Hutchinson, cháu Đại tá Ingraham,&amp;lt;ref&amp;gt;Crestview, Florida, &amp;quot;Joins U. S. Fleet&amp;quot;, &amp;#039;&amp;#039;The Okaloosa News-Journal&amp;#039;&amp;#039;, Friday ngày 7 tháng 3 năm 1941, Volume 27, Number 9, page 3&amp;lt;/ref&amp;gt; và nhập biên chế vào ngày [[10 tháng 3]] năm [[1944]] dưới quyền chỉ huy của [[Trung tá Hải quân]] H. W. Gordon.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
=== 1944 ===&lt;br /&gt;
Sau khi hoàn tất việc chạy thử máy tại vùng biển [[Bermuda]] và huấn luyện ngoài khơi [[Norfolk, Virginia]], &amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039; khởi hành để đi sang khu vực [[Mặt trận Thái Bình Dương]], đi đến [[Eniwetok]] vào ngày [[31 tháng 10]] năm [[1944]], kịp thời để tham gia các chiến dịch sau cùng của [[Khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai|Khối Đồng Minh]] nhằm đẩy lui quân đội [[Đế quốc Nhật Bản|Nhật Bản]] về các đảo chính quốc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào giữa [[tháng 11]], &amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039; hộ tống các [[tàu sân bay]] trong các đợt không kích lên đảo [[Luzon]] thuộc quần đảo [[Philippines]], gây ra những thiệt hại đáng kể cho tàu bè và không lực của [[Lục quân Đế quốc Nhật Bản|Lục quân]] và [[Lục quân Đế quốc Nhật Bản|Hải quân Nhật Bản]]. Nó tiếp tục nhiệm vụ tuần tra và [[chiến tranh chống tàu ngầm|chống tàu ngầm]] cho đến ngày [[12 tháng 12]], khi nó lên đường tham gia [[trận Mindoro|cuộc tấn công và đổ bộ]] lên [[Mindoro]]. Ba ngày sau, nó phối hợp cùng tàu khu trục {{USS|Barton|DD-722|3}} đánh chìm một tàu chở hàng Nhật ngoài khơi mũi Tây Nam Mindoro.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1945 ===&lt;br /&gt;
Sau một lượt nghỉ ngơi ngắn, &amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ [[vịnh San Pedro (Philippines)|vịnh San Pedro]] vào ngày [[2 tháng 1]], [[1945]] cho chiến dịch đổ bộ tiếp theo lên [[vịnh Lingayen]]. Đi đến ngoài khơi vịnh Lingayen vào ngày [[6 tháng 1]], nó cung cấp hỏa lực phòng không bảo vệ cho lực lượng, và tham gia bắn hải pháo xuống các mục tiêu đối phương sâu trong đất liền. Đến cuối [[tháng 1]], nó gia nhập lực lượng đặc nhiệm tàu sân bay nhanh cho các đợt không kích xuống chính quốc Nhật Bản. Sau khi được sửa chữa tại [[Saipan]] vào ngày [[20 tháng 2]], chiếc tàu khu trục tiếp tục tham gia [[Trận Iwo Jima|cuộc đổ bộ]] lên [[Iwo Jima]] vào ngày [[23 tháng 2]], nơi nó bắn hải pháo hỗ trợ cho cuộc tấn công trên bộ của lực lượng [[Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ|Thủy quân Lục chiến]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ ngày [[21 tháng 3]], trong khuôn khổ [[Trận Okinawa|cuộc đổ bộ]] lên [[Okinawa]], &amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039; đảm trách vai trò cột mốc [[radar]] canh phòng nhằm cảnh báo sớm các đợt không kích của đối phương, và dẫn đường cho [[máy bay tiêm kích]] thuộc lực lượng tuần tra chiến đấu trên không (CAP). Vào ngày [[5 tháng 5]], nó bị máy bay tấn công tự sát đối phương tấn công dồn dập; bốn chiếc [[Kamikaze]] đã bị nó bắn rơi, nhưng chiếc thứ năm đã đâm trúng con tàu bên mạn trái phía trên mực nước. Quả bom chiếc máy bay mang theo kích nổ trong phòng phát điện, khiến con tàu bị mất điện và chịu đựng 51 người thương vong, trong đó có 15 người tử trận. Con tàu phải rút lui về [[Hunter&amp;#039;s Point, California|Hunter&amp;#039;s Point]], [[California]] để sửa chữa, và vẫn còn ở lại Hoa Kỳ khi [[Nhật Bản đầu hàng]] vào ngày [[15 tháng 8]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1946 – 1952 ===&lt;br /&gt;
Sau khi hoàn tất sửa chữa, &amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039; hoạt động dọc theo bờ biển phía Tây Hoa Kỳ cho đến ngày [[7 tháng 5]], [[1946]], khi nó lên đường tham gia cuộc thử nghiệm [[bom nguyên tử]] tại [[đảo san hô Bikini]]. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, nó khởi hành từ [[San Diego, California|San Diego]], [[California]] vào ngày [[24 tháng 2]], [[1947]] cho chuyến đi sang [[Viễn Đông]], tham gia nhiều cuộc tập trận, và vào cuối [[tháng 6]] đã đi đến [[Manila]], [[Philippines]], đại diện chính thức cho Hoa Kỳ trong lễ kỷ niệm một năm [[Hiệp ước Manila (1946)|Philippines độc lập]]. Tiếp tục chuyến viếng thăm thiện chí, nó ghé qua [[Guam]], [[Melbourne]] và [[Sydney]] thuộc [[Australia]]; đồng thời tham gia nghi thức thả vòng hoa tưởng niệm những binh sĩ tử trận trong [[Trận chiến biển Coral]] năm [[1942]]. Con tàu quay trở về San Diego vào ngày [[8 tháng 10]], [[1947]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039; hoạt động dọc theo bờ biển California cho đến ngày [[4 tháng 4]], [[1949]], khi nó rời San Diego để chuyển sang [[Norfolk, Virginia]], đến nơi vào ngày [[20 tháng 4]]. Nó tham gia thực tập huấn luyện tại khu vực [[Đại Tây Dương]] cho đến ngày [[24 tháng 11]], [[1950]], khi nó rời Norfolk cho một lượt bố trí hoạt động kéo dài bốn tháng cùng [[Đệ Lục hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Lục hạm đội]] tại [[Địa Trung Hải]]. Con tàu tiếp nối các hoạt động thực tập huấn luyện tại khu vực Đại Tây Dương trong mùa Hè năm [[1951]], rồi thực hiện thêm hai lượt phục vụ khác cùng Đệ Lục hạm đội tại Địa Trung Hải vào mùa Thu năm [[1951]] và mùa Hè năm [[1952]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Chiến tranh Triều Tiên - 1953 ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039; rời Norfolk vào ngày [[24 tháng 4]], [[1953]] để hộ tống cho [[tàu sân bay]] {{USS|Lake Champlain|CV-39|3}} đi sang Nhật Bản qua ngã Địa Trung Hải và [[kênh đào Suez]]. Đi đến [[Yokosuka]] vào ngày [[9 tháng 6]], nó gia nhập đội đặc nhiệm tàu sân bay vào cuối tháng đó để hỗ trợ trên không cho lực lượng [[Liên Hợp Quốc]] tại [[Triều Tiên]] trong cuộc [[Chiến tranh Triều Tiên]]. Nó cũng tham gia bắn phá các vị trí pháo binh và kho tiếp liệu đối phương dọc bờ biển. Sau khi hai bên xung đột đạt được thỏa thuận ngừng bắn, nó tiếp tục tuần tra giám sát ngoài khơi bờ biển Triều Tiên cho đến khi quay trở về Norfolk vào ngày [[27 tháng 10]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1954 – 1965 ===&lt;br /&gt;
Trong năm [[1954]], &amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039; tiến hành các hoạt động thực tập chống tàu ngầm, các chuyến đi đến [[Nam Mỹ]], và tham gia các cuộc tập trận của Khối [[NATO]] tại vùng biển ngoài khơi [[Bắc Ireland]]. Sau một đợt đại tu, nó quay trở lại hoạt động huấn luyện vào [[tháng 6]], [[1955]], thực hiện một chuyến đi huấn luyện đến vùng biển [[Scandinavia]], rồi quay trở về Norfolk vào ngày [[6 tháng 9]]. Nó lại khởi hành từ Norfolk vào ngày [[28 tháng 7]], [[1956]] để làm nhiệm vụ cùng Đệ Lục hạm đội tại khu vực Địa Trung Hải, vào thời điểm mà sự căng thẳng gia tăng giữa [[Ai Cập]] với [[Anh]], [[Pháp]] và [[Israel]] do vụ [[Khủng hoảng kênh đào Suez]]. Nó quay trở về Norfolk vào ngày [[4 tháng 12]], tiếp nối các hoạt động huấn luyện, rồi tham gia cuộc tập trận của Khối NATO vào [[tháng 9]] và [[tháng 10]], [[1957]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039; lại được phái sang hoạt động cùng Đệ Lục hạm đội tại khu vực Địa Trung Hải vào [[tháng 2]], [[1958]], làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực Đông Địa Trung Hải và biển [[Hồng Hải]]; nó quay trở về Norfolk, Virginia vào ngày [[2 tháng 7]], trước khi xảy ra vụ [[Khủng hoảng Li-băng]], nơi Đệ Lục hạm đội đóng một vai trò quan trọng để duy trì ổn định và bảo vệ cho công dân Hoa Kỳ. Chiếc tàu khu trục sau đó hoạt động dọc theo vùng bờ Đông cho đến ngày [[13 tháng 2]], [[1959]], khi nó lên đường cho một đợt bố trí khác cùng Đệ Lục hạm đội, vào thời điểm có nguy cơ đối đầu với các nước trong [[Khối Warszawa]] do mâu thuẫn tại [[Berlin]]. Nó rời khu vực Địa Trung Hải vào ngày [[30 tháng 8]], và quay về đến [[Xưởng hải quân Norfolk]] tại [[Portsmouth, Virginia]] vào ngày [[7 tháng 9]], nơi nó bắt đầu được đại tu.&lt;br /&gt;
[[Tập tin:USS Ingraham (DD-694) underway in June 1962.jpg|thumb|&amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039; trên đường đi, tháng 6, 1962.]]&lt;br /&gt;
Trong năm [[1960]], &amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039; tiến hành các hoạt động ngoài khơi [[Mayport, Florida]] trước khi thực hiện một lượt phục vụ khác cùng Đệ Lục hạm đội, bắt đầu từ cuối [[tháng 9]], [[1960]]. Nó quay trở lại hoạt động thường lệ ngoài khơi Mayport vào [[tháng 3]], [[1961]] trước khi trải qua một cuộc nâng cấp và hiện đại hóa kéo dài tám tháng, theo chương trình [[Hồi sinh và Hiện đại hóa Hạm đội]] II (FRAM: Rehabilitation and Modernization Fleet) tại [[Portsmouth, Virginia]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039; chuyển đến cảng nhà mới tại [[Newport, Rhode Island]] vào ngày [[23 tháng 2]], [[1962]], rồi tham gia các cuộc tập trận hạm đội tại Đại Tây Dương và vùng [[biển Caribe]], Trong [[tháng 9]] và [[tháng 10]], [[1962]], con tàu tham gia vào [[Chương trình Mercury]] khi hoạt động như một tàu thu hồi trong chuyến bay lên quỹ đạo trái đất của tàu &amp;quot;Sigma 7&amp;quot;. Cũng trong năm này, nó tham gia hoạt động phong tỏa [[Cuba]] trong vụ [[Khủng hoảng tên lửa Cuba]], do việc [[Liên Xô]] bố trí những [[tên lửa đạn đạo]] trên hòn đảo này. Nó được phái sang Địa Trung Hải cùng Đệ Lục hạm đội vào ngày [[1 tháng 10]], [[1963]], rồi quay trở lại hoạt động thường lệ dọc theo vùng bờ Đông, cho đến khi được phái sang [[Việt Nam]] vào ngày [[29 tháng 9]], [[1965]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Chiến tranh Việt Nam – 1965 – 1966 ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ Newport vào ngày [[29 tháng 9]], [[1965]] để đi sang khu vực Tây Thái Bình Dương và phục vụ trong cuộc [[Chiến tranh Việt Nam]]. Nó đi đến Yokosuka, Nhật Bản vào ngày [[31 tháng 10]], [[1965]] để được tiếp liệu trước khi tiếp tục đi sang [[Biển Đông]]. Ngoài nhiệm vụ hộ tống bảo vệ tàu sân bay {{USS|Ticonderoga|CV-14|3}}, nó còn tiến hành bắn phá bờ biển hỗ trợ cho lực lượng chiến đấu trên bộ. Vào ngày [[12 tháng 11]], [[1965]], con tàu tiến sâu {{convert|10|mi|km|abbr=on}} vào [[sông Sài Gòn]] để bắn phá một căn cứ tiếp liệu đối phương, và sang ngày hôm sau bắn phá một vị trí tập trung quân cách đó {{convert|300|mi|km|abbr=on}}. Sang đầu [[tháng 12]], nó theo dõi hoạt động của một tàu ngầm [[Xô Viết]] tại khu vực phụ cận đảo [[Hải Nam]], [[Trung Quốc]] tiếp giáp với [[vịnh Bắc Bộ]]; và từ ngày [[1 tháng 1]] đến ngày [[24 tháng 1]], [[1966]], nó hoạt động cùng Lực lượng Đặc nhiệm 77 ngoài khơi Việt Nam. Nó rời khu vực Viễn Đông vào ngày [[4 tháng 2]] để quay trở về Newport qua ngã kênh đào Suez, về đến cảng nhà vào ngày [[8 tháng 4]], [[1966]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1966 – 1971 ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039; tiếp tục hoạt động thường lệ dọc theo vùng bờ Đông Hoa Kỳ. Từ ngày [[14 tháng 6|14]] đến ngày [[21 tháng 6]], [[1966]], nó tham gia [[Chiến dịch Beachtime]], cuộc tập trận đổ bộ tại vùng biển Caribe. Nó được bảo trì từ ngày [[28 tháng 10]] đến ngày [[28 tháng 11]], [[1966]] nhằm chuẩn bị để được biệt phái sang Địa Trung Hải. Nó đi đến [[Gibraltar]] vào ngày [[8 tháng 12]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039; đã hoạt động huấn luyện vào mùa Hè năm [[1969]] tại [[vịnh Guantánamo, Cuba]]. Đến ngày [[2 tháng 9]], nó khởi hành từ Newport cùng tàu sân bay {{USS|Yorktown|CV-10|3}} để tham gia cuộc tập trận Peacekeeper từ ngày [[17 tháng 9|17]] đến ngày [[21 tháng 9]]. Sau đó nó lần lượt viếng thăm các cảng [[Brest, Finistère|Brest]], [[Pháp]] từ ngày [[23 tháng 9]]; [[Rotterdam]], [[Hà Lan]] từ ngày [[16 tháng 10|16]] đến ngày [[18 tháng 10]]; [[Kiel]], [[Đức]] từ ngày [[11 tháng 11|11]] đến ngày [[16 tháng 11]]; [[Copenhagen]], [[Đan Mạch]] từ ngày [[18 tháng 11|18]] đến ngày [[21 tháng 11]]; và [[Portsmouth]], [[Anh]] từ ngày [[25 tháng 11]] đến ngày [[1 tháng 12]]. Nó quay trở về Newport vào ngày [[11 tháng 12]].&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích web |url=http://www.watermelon-kid.com/navy/yorktown/carrier69_chronology.htm |ngày truy cập=2019-08-13 |tựa đề=U.S.S. Yorktown information |archive-date=2019-08-13 |archive-url=https://web.archive.org/web/20190813010459/http://www.watermelon-kid.com/navy/yorktown/carrier69_chronology.htm }}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ cuối năm [[1970]] sang đầu năm [[1971]], &amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039; thực hiện chuyến đi cuối cùng sang Địa Trung Hải cùng Đệ Lục hạm đội, viếng thăm các cảng [[Valletta]], [[Malta]]; [[vịnh Augusta]], [[Sicily]]; [[Palma]], [[Majorca]]; [[Naples]], [[Ý]]; [[Athens]], [[Hy Lạp]]. Sau khi quay trở về Hoa Kỳ, &amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039; được cho xuất biên chế vào ngày [[15 tháng 6]], [[1971]] và được bán cho [[Hy Lạp]] vào ngày [[16 tháng 7]], [[1971]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== &amp;#039;&amp;#039;Miaoulis&amp;#039;&amp;#039; (D211) ===&lt;br /&gt;
Chiếc tàu khu trục phục vụ cùng [[Hải quân Hy Lạp]] như là chiếc &amp;#039;&amp;#039;Miaoulis&amp;#039;&amp;#039; (D211), tên được đặt theo Đô đốc [[Andreas Vokos Miaoulis]] (1769-1835), vị anh hùng của cuộc [[Chiến tranh giành độc lập Hy Lạp]] vào đầu [[thế kỷ 19]].&amp;lt;ref name=navsource&amp;gt;{{chú thích web | last=Willshaw | first=Fred | title=USS Ingraham (DD-694) | work=Navsource Naval History | url=http://www.navsource.org/archives/05/694.htm | access-date=21 November 2015 | archive-date=2016-11-30 | archive-url=https://web.archive.org/web/20161130052303/http://www.navsource.org/archives/05/694.htm | url-status=dead }}&amp;lt;/ref&amp;gt; Thoạt tiên nó trang bị một máy bay trực thăng [[Aérospatiale Alouette III]] thay cho kiểu máy bay không người lái chống tàu ngầm [[Aerodyne QH-50 DASH]] được Hải quân Mỹ sử dụng.&amp;lt;ref name=conways&amp;gt;{{Harvnb|Gardiner|Chumbley|1995|p=161}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Nó được hiện đại hóa từ [[tháng 11]], [[1986]], khi dàn sonar với độ sâu thay đổi được tháo dỡ, sàn đáp và hầm chứa máy bay được mở rộng để kiểu máy bay trực thăng [[Bell UH-1N Twin Huey|Agusta-Bell AB-212]] lớn hơn có thể hoạt động.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Harvnb|Prézelin|Baker|1990|p=217}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Con tàu tiếp tục hoạt động cho đến năm [[1992]], khi nó được cho xuất biên chế và rút khỏi danh sách đăng bạ hải quân.&amp;lt;ref name=conways/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Miaoulis&amp;#039;&amp;#039; bị đánh chìm như một mục tiêu trong một cuộc tập trận của Hải quân Hy Lạp vào ngày [[9 tháng 10]], [[2001]].&amp;lt;ref name=navsource/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Phần thưởng ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng danh hiệu [[Đơn vị Tưởng thưởng Hải quân]] và bốn [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II, và thêm một Ngôi sao Chiến trận khác trong Chiến tranh Triều Tiên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
{{tham khảo}}&lt;br /&gt;
{{Refbegin}}&lt;br /&gt;
* Bài này có các trích dẫn từ nguồn [[:en:Dictionary of American Naval Fighting Ships]] thuộc [[phạm vi công cộng]]: http://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/i/ingraham-iii.html&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách|editor1-last=Gardiner|editor1-first=Robert|editor2-last=Chumbley|editor2-first=Stephen|title=Conway&amp;#039;s All The World&amp;#039;s Fighting Ships 1947–1995|url=https://archive.org/details/conwaysallworlds0000unse_i1t7|year=1995|publisher=Naval Institute Press|location=Annapolis, Maryland, USA|isbn=1-55750-132-7}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách|editor1-last=Prézelin|editor1-first=Bernard|editor2=A.D. Baker III|title=The Naval Institute Guide to Combined Fleets of the World 1990/1991|url=https://archive.org/details/combatfleetsofwo0000unse_a8n0|year=1990|publisher=Naval Institute Press|location=Annapolis, Maryland, USA|isbn=0-87021-250-8}}&lt;br /&gt;
{{Refend}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
* [http://www.navsource.org/archives/05/694.htm navsource.org: USS &amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039;] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20161130052303/http://www.navsource.org/archives/05/694.htm |date=2016-11-30 }}&lt;br /&gt;
* [http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd694txt.htm hazegray.org: USS &amp;#039;&amp;#039;Ingraham&amp;#039;&amp;#039;] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20060927084837/http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd694txt.htm |date=2006-09-27 }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;!-- non-breaking space to keep AWB drones from altering the space before the navbox--&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu khu trục Allen M. Sumner }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Mỹ|Hy Lạp}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Ingraham (DD-694)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu khu trục Allen M. Sumner]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Chiến tranh Lạnh]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Chiến tranh Triều Tiên]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Chiến tranh Việt Nam]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu được Hải quân Hoa Kỳ chuyển cho Hải quân Hy Lạp]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Hải quân Hy Lạp]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu bị đánh chìm như mục tiêu]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Xác tàu đắm tại Địa Trung Hải]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Sự kiện hàng hải 2001]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu thủy năm 1944]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;InternetArchiveBot</name></author>
	</entry>
</feed>