<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Leary_%28DD-879%29</id>
	<title>USS Leary (DD-879) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Leary_%28DD-879%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Leary_(DD-879)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-11T07:29:18Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Leary_(DD-879)&amp;diff=7569480&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;InternetArchiveBot: Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Leary_(DD-879)&amp;diff=7569480&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-06-18T05:07:26Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{{Dablink|Về những tàu chiến Hoa Kỳ khác mang cùng tên, xin xem [[USS Leary]].}}&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image= [[Tập tin:USS Leary (DD-879) underway at sea, circa in 1972.jpg|300px|USS Leary DD-879]]&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu khu trục USS &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; (DD-879) trên đường đi, năm 1972.&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
|Ship country= Hoa Kỳ &lt;br /&gt;
|Ship flag= {{USN flag|1973}} &lt;br /&gt;
|Ship name= USS &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; (DD-879)&lt;br /&gt;
|Ship namesake= [[Clarence F. Leary]]&lt;br /&gt;
|Ship ordered=&lt;br /&gt;
|Ship awarded=&lt;br /&gt;
|Ship builder= [[Consolidated Steel Corporation]], [[Orange, Texas]]&lt;br /&gt;
|Ship original cost=&lt;br /&gt;
|Ship laid down= [[11 tháng 8]] năm [[1944]]&lt;br /&gt;
|Ship launched= [[20 tháng 1]] năm [[1945]]&lt;br /&gt;
|Ship sponsor= bà Theodore S. Wilkinson&lt;br /&gt;
|Ship completed=&lt;br /&gt;
|Ship acquired=&lt;br /&gt;
|Ship commissioned= [[7 tháng 5]] năm [[1945]]&lt;br /&gt;
|Ship recommissioned=&lt;br /&gt;
|Ship decommissioned= [[31 tháng 10]] năm [[1973]]&lt;br /&gt;
|Ship in service= [[23 tháng 6]] năm [[1945]]&lt;br /&gt;
|Ship out of service=&lt;br /&gt;
|Ship renamed=&lt;br /&gt;
|Ship reclassified= * &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DDR-879&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;, [[1949]]; &lt;br /&gt;
* &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DD-879&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;, [[1 tháng 7]] năm [[1964]]&lt;br /&gt;
|Ship struck= [[21 tháng 9]] năm [[1973]]&lt;br /&gt;
|Ship nickname=&lt;br /&gt;
|Ship honors=&lt;br /&gt;
|Ship captured=&lt;br /&gt;
|Ship fate= Được chuyển cho [[Tây Ban Nha]], [[17 tháng 5]] năm [[1978]]&lt;br /&gt;
|Ship status=&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
|Hide header=title&lt;br /&gt;
|Ship country= Tây Ban Nha&lt;br /&gt;
|Ship flag= {{shipboxflag|Spain|naval}}&lt;br /&gt;
|Ship name= &amp;#039;&amp;#039;Langara&amp;#039;&amp;#039; (D64)&lt;br /&gt;
|Ship namesake=&lt;br /&gt;
|Ship acquired= [[17 tháng 5]] năm [[1978]]&lt;br /&gt;
|Ship commissioned=&lt;br /&gt;
|Ship decommissioned=&lt;br /&gt;
|Ship renamed=&lt;br /&gt;
|Ship reclassified=&lt;br /&gt;
|Ship struck= &lt;br /&gt;
|Ship fate= Tháo dỡ, [[1994]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
| Hide header = &lt;br /&gt;
| Header caption = &lt;br /&gt;
| Ship class = [[Gearing (lớp tàu khu trục)|Lớp tàu khu trục &amp;#039;&amp;#039;Gearing&amp;#039;&amp;#039;]]&lt;br /&gt;
| Ship displacement = * {{convert|2616|LT|MT|abbr=on}} (tiêu chuẩn);&lt;br /&gt;
* {{convert|3460|LT|MT|abbr=on}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
| Ship length = {{convert|390,5|ft|m|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship beam = {{convert|40,9|ft|m|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship draft = {{convert|14,3|ft|m|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship propulsion = * 2 × turbine hơi nước hộp số General Electric;&lt;br /&gt;
* 4 × nồi hơi;&lt;br /&gt;
* 2 × trục;&lt;br /&gt;
* công suất {{convert|60000|shp|kW|abbr=on|lk=on}}&lt;br /&gt;
| Ship speed = {{convert|36,8|kn|lk=in}}&lt;br /&gt;
| Ship range = {{convert|4500|nmi|km|abbr=on}} ở tốc độ {{convert|20|kn|km/h|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship complement = 350&lt;br /&gt;
| Ship sensors = &lt;br /&gt;
| Ship EW = &lt;br /&gt;
| Ship armament = * &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Ban đầu:&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
** 6 × [[pháo 5 inch/38 caliber|pháo {{convert|5|in|mm|abbr=on|0}}/38 caliber]] trên bệ Mk 38 lưỡng dụng nòng đôi (3×2)&lt;br /&gt;
** 12 × pháo phòng không [[Bofors 40 mm]] (2×4 &amp;amp; 2×2) &lt;br /&gt;
** 11 × pháo phòng không [[Oerlikon 20 mm]]&lt;br /&gt;
** 2 × đường ray thả [[mìn sâu]]&lt;br /&gt;
** 6 × máy phóng mìn sâu [[K-gun]]&lt;br /&gt;
** 10 × ống phóng [[ngư lôi]] [[ngư lôi Mark 15|{{convert|21|in|mm|abbr=on|0}}]] &lt;br /&gt;
* &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Sau nâng cấp FRAM:&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
** 4 × pháo {{convert|5|in|adj=on|0}}&lt;br /&gt;
** 1 × bệ phóng tên lửa Mk 112 [[RUR-5 ASROC]] (8)&lt;br /&gt;
** 6 × ống phóng ngư lôi [[ngư lôi Mark 32|Mk 32]] &lt;br /&gt;
| Ship aircraft = 2 × máy bay trực thăng [[Gyrodyne QH-50C DASH]]&lt;br /&gt;
| Ship notes = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;USS &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; (DD/DDR-879)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; là một [[tàu khu trục]] [[Gearing (lớp tàu khu trục)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Gearing&amp;#039;&amp;#039;]] được [[Hải quân Hoa Kỳ]] chế tạo vào giai đoạn cuối [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]]. Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Mỹ được đặt theo tên [[Trung úy Hải quân]] [[Clarence F. Leary]] (1894-1918), người tử trận trong Thế Chiến I và được truy tặng [[Huân chương Chữ thập Hải quân]].&amp;lt;ref name=DANFS&amp;gt;{{chú thích web | title=Leary II (DD-879) | work=Dictionary of American Naval Fighting Ships | publisher=Naval History and Heritage Command | url=https://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/l/leary-ii.html | access-date =ngày 23 tháng 1 năm 2021}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Hoàn tất khi chiến tranh đã kết thúc, con tàu tiếp tục phục vụ trong giai đoạn [[Chiến tranh Lạnh]] và [[Chiến tranh Việt Nam]] cho đến khi xuất biên chế năm [[1973]]. Nó được chuyển cho [[Tây Ban Nha]] và tiếp tục phục vụ cùng [[Hải quân Tây Ban Nha]] như là chiếc &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Langara&amp;#039;&amp;#039; (D64)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; cho đến năm [[1994]], trở thành một trong những chiếc lớp &amp;#039;&amp;#039;Gearing&amp;#039;&amp;#039; có thời gian phục vụ lâu nhất. Con tàu bị tháo dỡ sau đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039;được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng [[Consolidated Steel Corporation]] ở [[Orange, Texas]] vào ngày [[11 tháng 8]] năm [[1944]]. Nó được hạ thủy vào ngày [[20 tháng 1]] năm [[1945]]; được đỡ đầu bởi bà Theodore S. Wilkinson, phu nhân [[Phó đô đốc]] [[Theodore S. Wilkinson]], và nhập biên chế vào ngày [[7 tháng 5]] năm [[1945]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
=== 1945 - 1950 ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; hoàn tất việc chạy thử máy tại khu vực [[vịnh Guantánamo, Cuba]] vào ngày [[23 tháng 6]] năm [[1945]], khi nó đi đến cảng nhà [[Norfolk, Virginia]]. Vào lúc này Hải quân Hoa Kỳ cải biến 24 trong số 98 tàu khu trục lớp &amp;#039;&amp;#039;Gearing&amp;#039;&amp;#039; thành những tàu khu trục cột mốc [[radar]], có khả năng cảnh báo sớm các vụ không kích mà không bị quá tải Trung tâm Thông tin Hành quân. Vì vậy &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; trải qua đợt đại tu và nâng cấp, trang bị những radar tiên tiến nhất vào lúc đó, rồi lên đường đi [[Boston]], [[Massachusetts]]. Nó lại đi đến [[Casco Bay]], [[Maine]] để hoạt động cùng một lực lượng đặc nhiệm hầu phát triển chiến thuật phòng thủ chống những cuộc tấn công tự sát kiểu [[kamikaze]]. Nó quay trở lại [[Xưởng hải quân Boston]] nhằm chuẩn bị tham gia cuộc Duyệt binh Hạm đội Tổng thống tại [[thành phố New York]] nhân [[ngày Hải quân]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref name=DesOrg1&amp;gt;{{chú thích web | title=A Tin Can Sailors Destroyer History – USS LEARY (DD-879) | url=http://www.destroyers.org/Histories/h-DD-879.htm | website=destroyers.org | access-date=ngày 23 tháng 1 năm 2021 | archive-date=2016-03-03 | archive-url=https://web.archive.org/web/20160303232735/http://www.destroyers.org/Histories/h-DD-879.htm | url-status=dead }}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau cuộc duyệt binh, &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; quay trở về Norfolk và gia nhập Hải đội Khu trục 1. Hải đội đón lên tàu một số đơn vị [[Lục quân Hoa Kỳ|Lục quân]], đưa họ băng qua [[kênh đào Panama]] và tiễn những đơn vị này rời tàu tại [[San Diego]]. Các con tàu lại lên đường không lâu sau đó để hướng đến [[Trân Châu Cảng]], và sau đó là [[Yokosuka]]. Sau kỳ nghỉ lễ [[Giáng sinh]] tại cảng [[Nhật Bản]], hải đội được tách ra thành những đội độc lập để làm nhiệm vụ chiếm đóng. Lực lượng Đặc nhiệm 69, đội của &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039;, còn bao gồm các tàu khu trục {{USS|Vesole|DD-878|3}}, {{USS|Dyess|DD-880|3}} và {{USS|Bordelon|DD-881|3}}, tất cả đều thuộc lớp &amp;#039;&amp;#039;Gearing&amp;#039;&amp;#039;. Đơn vị hoạt động dọc theo bờ biển [[Kure]] trước khi tập trung trở lại Yokosuka vài tháng sau đó. Trong quá trình thực hành mặt trước tháp pháo 5-inch số 1 bị hư hại, buộc con tàu phải đi đến Yokosuka để sửa chữa.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
[[Tập tin:USS Leary (DD-879) at Venice in 1949.jpg|thumb|left|USS &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; tại Venice, năm 1949.]]&lt;br /&gt;
Đội khu trục lên đường đi [[Guam]], riêng &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; gia nhập ít lâu sau đó sau khi hoàn tất việc sửa chữa. Tại Guam nó tham gia vào Lực lượng Đặc nhiệm 77, lực lượng tấn công chủ lực tại khu vực Tây Thái Bình Dương, bao gồm các [[tàu sân bay]] {{USS|Bunker Hill|CV-17|3}} và {{USS|Antietam|CV-36|3}}, [[tàu tuần dương hạng nặng]] {{USS|Boston|CA-69|3}}, các [[tàu tuần dương hạng nhẹ]] {{USS|Topeka|CL-67|3}} và {{USS|Duluth|CL-87|3}} cùng toàn đội tàu khu trục bao gồm {{USS|Blue|DD-744|3}} và ba tàu khu trục khác. Lực lượng đặc nhiệm thường hoạt động tại khu vực [[Saipan]], và đôi khi từ [[Apra Harbor]], Guam.&amp;lt;ref name=DesOrg1/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong giai đoạn này đội khu trục của &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; đang hộ tống các tàu sân bay đi [[Hong Kong]]. Sau khi toàn bộ các đơn vị của lực lượng đặc nhiệm được tập trung, họ di chuyển đến [[Thanh Đảo]], [[Trung Quốc]] sau khi nghỉ qua đêm tại vịnh Buckner, [[Okinawa]]. Các tàu tuần dương và tàu khu trục đưa thủy thủ của các tàu sân bay đến [[Thượng Hải]] cho một đợt nghỉ phép, rồi hành trình quay trở về nhà bắt đầu từ Thanh Đảo vào ngày [[4 tháng 6]], [[1946]], với những hoạt động và chặng dừng dọc đường đi. &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; về đến San Diego vào ngày [[21 tháng 12]], [[1946]], để rồi lại lên đường vào đầu [[tháng 1]], [[1947]], băng qua [[kênh đào Panama]] để quay về Norfolk và sau đó là [[Newport, Rhode Island]]. Con tàu bắt đầu hoạt động tại vùng bờ Đông Hoa Kỳ.&amp;lt;ref name=DesOrg1/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ Newport cho chuyến đi hoạt động đầu tiên sang [[Địa Trung Hải]] vào ngày [[29 tháng 10]], [[1947]]. Nó gia nhập cùng [[Đệ Lục hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Lục hạm đội]] và đã viếng thăm các cảng [[Algeria]], [[Hy Lạp]], [[Ý]] và đảo [[Rhodes]]. Con tàu quay trở về nhà vào ngày [[14 tháng 2]], [[1948]]. Vào năm [[1949]], nó được xếp lại lớp như một tàu khu trục cột mốc radar, và mang ký hiệu lườn mới &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DDR-879&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1950 - 1964 ===&lt;br /&gt;
[[Tập tin:USS Leary (DDR-879) aft view c1962.jpg|thumb|USS &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; vào năm 1962.]]&lt;br /&gt;
Trong gần mười lăm năm tiếp theo, &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; luân phiên các lượt biệt phái phục vụ cùng Đệ Lục hạm đội tại Địa Trung Hải với những giai đoạn được nghỉ ngơi, bảo trì, sửa chữa và huấn luyện hay tập trận cùng [[Đệ Nhị hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Nhị hạm đội]] dọc theo vùng bờ Đông và vùng [[biển Caribe]]. Ngoại trừ năm [[1957]], nó hầu như được biệt phái hàng năm sang sang Địa Trung Hải, và đã tham gia các hoạt động tuần tra ngăn ngừa khi xảy ra vụ [[Khủng hoảng kênh đào Suez]] năm [[1956]]. Vào năm [[1958]], nó được huy động hỗ trợ cho việc đổ bộ binh lính [[Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ|Thủy quân Lục chiến]] lên [[Beirut]], và sau đó hoạt động tuần tra ngoài khơi [[Liban]] vào lúc xảy ra cuộc [[Khủng hoảng Liban 1958|khủng hoảng chính trị]] tại đất nước này.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào ngày [[22 tháng 10]], [[1962]], [[Tổng thống Hoa Kỳ|Tổng thống]] [[John F. Kennedy]] công bố quyết định &amp;quot;cô lập&amp;quot; hàng hải [[Cuba]], sau khi máy bay trinh sát phát hiện ra [[Liên Xô]] đang bố trí những [[tên lửa đạn đạo]] tầm trung mang đầu đạn [[hạt nhân]] trên hòn đảo [[Trung Mỹ]] này, khiến đưa đến vụ [[Khủng hoảng tên lửa Cuba]]. &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; được huy động vào lực lượng hải quân làm nhiệm vụ phong tỏa, gia nhập cùng [[tàu tuần dương hạng nặng]] {{USS|Newport News|CA-148|3}}, [[soái hạm]] của lực lượng, và hoạt động tuần tra tại vùng biển giữa [[Key West, Florida]] và [[Havana, Cuba]] từ ngày [[22 tháng 10]] đến ngày [[24 tháng 11]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cao điểm của vụ việc là vào ngày [[9 tháng 11]], khi &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; cùng &amp;#039;&amp;#039;Newport News&amp;#039;&amp;#039; hoạt động tại vùng biển về phía Đông Bắc Cuba; radar của chiếc tàu khu trục đã phát hiện chiếc tàu chở hàng Xô-viết đang hướng đến &amp;#039;&amp;#039;Labinsk&amp;#039;&amp;#039; khu vực bị phong tỏa. Ba phút sau, &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; cùng với &amp;#039;&amp;#039;Newport News&amp;#039;&amp;#039; đã chặn đường chiếc tàu chở hàng, yêu cầu nó giảm tốc độ và dừng lại; và trong khi &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; xoay các khẩu pháo sang chiếc tàu chở hàng, một đội đổ bộ của &amp;#039;&amp;#039;Newport News&amp;#039;&amp;#039; đã đi sang khám xét &amp;#039;&amp;#039;Labinsk&amp;#039;&amp;#039;, tìm thấy hai tên lửa đạn đạo tầm trung nhưng không mang đầu đạn. Sau khi hoàn tất việc khám xét và chụp ảnh các tên lửa, họ cho phép con tàu Xô Viết rời khỏi vùng biển Cuba và quay trở về. &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; tiếp tục theo dõi &amp;#039;&amp;#039;Labinsk&amp;#039;&amp;#039; trong 20 phút trước khi tiếp nối hoạt động tuần tra.&amp;lt;ref&amp;gt;{{chú thích web | title=The Naval Quarantine of Cuba, 1962: Abeyance and Negotiation, 31 October-13 November | url=https://www.history.navy.mil/research/library/online-reading-room/title-list-alphabetically/c/cuban-missile-crisis/abeyance-and-negotiation.html | publisher= Naval History and Heritage Command |date=ngày 2 tháng 4 năm 2015 | access-date =ngày 20 tháng 2 năm 2021}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến ngày [[24 tháng 11]], Tổng thống Kennedy tuyên bố hoạt động phong tỏa đã thành công, và gỡ bỏ lệnh &amp;quot;cô lập&amp;quot; hàng hải sau khi các tên lửa tầm trung Liên Xô đã được tháo dỡ và di chuyển khỏi Cuba. &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; và &amp;#039;&amp;#039;Newport News&amp;#039;&amp;#039; về đến Norfolk một ngày trước [[lễ Tạ ơn]] khi đã hoàn thành nhiệm vụ.&amp;lt;ref&amp;gt;{{chú thích web | last=Schulman | first=Marc | url=https://www.historycentral.com/navy/cruiser/NewportnewsII.html | title=USS &amp;#039;&amp;#039;Newport News&amp;#039;&amp;#039; (CA-148) | date=2020 | website=HistoryCentral | access-date =ngày 20 tháng 2 năm 2021}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ [[tháng 4]], [[1964]] đến [[tháng 1]], [[1965]], &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; trải qua một đợt sửa chữa và nâng cấp trong khuôn khổ Chương trình [[Hồi sinh và Hiện đại hóa Hạm đội]] I (FRAM: Fleet Rehabilitation and Modernization), nhằm kéo dài vòng đời hoạt động thêm 10 đến 20 năm, đồng thời nâng cao năng lực tác chiến. Nó được cải tiến những thiết bị điện tử, [[radar]] và [[sonar]] hiện đại. Tháp pháo 5-inch phía trước thứ hai được tháo dỡ thay thế, bằng hai bệ [[ống phóng ngư lôi Mark 32 cho hạm tàu nổi|ống phóng ngư lôi Mark 32]] ba nòng, trang bị thêm bệ phóng tên lửa chống ngầm [[RUR-5 ASROC]] giữa các ống khói, cùng hầm chứa và sàn đáp để vận hành [[máy bay trực thăng]] không người lái chống tàu ngầm [[Gyrodyne QH-50 DASH]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt; Do được tháo dỡ dàn radar DDR, nó được xếp lại lớp như một tàu khu trục thông thường, và lấy lại ký hiệu lườn cũ &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DD-879&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; vào ngày [[1 tháng 7]], [[1964]].&amp;lt;ref&amp;gt;{{chú thích sách | last=Bauer | first=K. Jack | author-link=K. Jack Bauer | author2=Roberts, Stephen S. | title=Register of Ships of the U.S. Navy, 1775-1990: Major Combatants | url=https://archive.org/details/registerofshipso0000baue | publisher=Greenwood Press | year=1991 | location=[[Westport, Connecticut]] | page=[https://archive.org/details/registerofshipso0000baue/page/n233 206] | isbn=0-313-26202-0}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1965 - 1969 ===&lt;br /&gt;
Một cuộc đảo chính của phe cánh Tả xảy ra tại [[Cộng hòa Dominica]] vào ngày [[24 tháng 4]], [[1965]], dẫn đến những bất ổn và bạo loạn, đã khiến Hoa Kỳ quyết định can thiệp để duy trì trật tự, đảm bảo an ninh cho công dân Hoa Kỳ, đồng thời với dụng ý ngăn ngừa một chính phủ cộng sản có thể nắm chính quyền như trường hợp của [[Cuba]]. Vì vậy, từ ngày [[6 tháng 8|6]] đến ngày [[27 tháng 8]],&amp;lt;ref name=HullNumber&amp;gt;{{chú thích web | last=Schultz | first=Dave | title=U.S.S. Leary (DD-879) | url=https://www.hullnumber.com/DD-879 | website=Hullnumber.com | access-date =ngày 4 tháng 3 năm 2021}}&amp;lt;/ref&amp;gt; &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; đã làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình ngoài khơi thủ đô [[Santo Domingo]] để bảo vệ cho việc đổ bộ lực lượng [[Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ|Thủy quân Lục chiến]], rồi tiếp tục hỗ trợ cho lực lượng viễn chinh Hoa Kỳ, và sau đó cùng lực lượng đa quốc gia được [[Tổ chức các quốc gia châu Mỹ]] phái đến để vãn hồi trật tự.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref&amp;gt;{{chú thích web | title=Caribbean Tempest: The Dominican Republic Intervention of 1965 | url=https://www.history.navy.mil/content/history/nhhc/research/library/online-reading-room/title-list-alphabetically/c/caribbean-tempest.html | publisher=Naval History and Heritage Command | date=ngày 3 tháng 2 năm 2017 | access-date= ngày 27 tháng 1 năm 2019}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; sau đó được cử sang tham gia cuộc [[Chiến tranh Việt Nam]]. Nó đã phục vụ cùng Lực lượng Đặc nhiệm 77 thuộc [[Hoa Kỳ|Đệ Thất hạm đội]] tại [[Trạm Yankee]] trong [[vịnh Bắc Bộ]], tham gia hộ tống chống tàu ngầm và hoạt động canh phòng máy bay cho các tàu sân bay, mà có lúc lên đến ba chiếc cùng hoạt động phối hợp. Ngoài ra chiếc tàu khu trục còn bắn phá bờ biển đối phương, bắn hải pháo hỗ trợ cũng như tham gia các hoạt động [[tìm kiếm và giải cứu]] (SAR: Search And Rescue) những phi công bị bắn rơi. Sau khi được thay phiên, con tàu quay trở về vào ngày [[16 tháng 12]], [[1965]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau một giai đoạn được nghỉ ngơi và bảo trì, &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ Norfolk vào ngày [[4 tháng 3]], [[1966]] cho một lượt phục vụ kéo dài năm tháng cùng Đệ Lục hạm đội tại khu vực Địa Trung Hải. Hoàn tất lượt hoạt động, nó quay trở về cảng nhà vào ngày [[12 tháng 8]], và trong một tháng tiếp theo được sửa chữa, bảo trì và tiếp liệu. Cho đến hết năm [[1966]], con tàu thực hành huấn luyện tại chỗ, bao gồm hoạt động huấn luyện đánh giá hai máy bay trực thăng không người lái QH-50 DASH.&amp;lt;ref&amp;gt;{{chú thích web | url=http://www.gyrodynehelicopters.com/gearing_class.htm | title=Gyrodyne DASH Helicopters on Gearing-class destroyers | website=Gyrodyne Helicopter Historical Foundation | access-date =ngày 4 tháng 3 năm 2021}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Sang đầu năm [[1967]], từ ngày [[3 tháng 3|3]] đến ngày [[17 tháng 3]], nó phục vụ như tàu huấn luyện cho Trường Sonar Hạm đội tại [[Key West, Florida]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cùng với các tàu khu trục {{USS|Cony|DD-508|3}}, {{USS|Waldron|DD-699|3}} và {{USS|Damato|DD-871|3}}, &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ Norfolk vào ngày [[5 tháng 7]], [[1967]] để đi sang Viễn Đông qua ngã kênh đào Panama, và tiếp tục tham chiến tại [[Việt Nam]].&amp;lt;ref&amp;gt;{{chú thích web | title=USS Cony (DD-508) – A Tincan Sailors History Destroyers History | url=http://www.destroyers.org/histories/h-dd-508.htm | website=National Association of Destroyer Veterans | access-date=ngày 4 tháng 3 năm 2021 | archive-date=2021-10-16 | archive-url=https://web.archive.org/web/20211016201341/http://www.destroyers.org/histories/h-dd-508.htm | url-status=dead }}&amp;lt;/ref&amp;gt; Đi đến vùng chiến sự, nó lập tức được giao vai trò bắn phá bờ biển [[Bắc Việt Nam]], luân phiên với những hoạt động cùng các tàu sân bay tại Trạm Yankee.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong đợt hoạt động này &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; bắt đầu tham gia các hoạt động thuộc [[Chiến dịch Sea Dragon]], nhằm phá hủy các mục tiêu giao thông trên bộ cũng như ngăn chặn việc vận chuyển vũ khí và tiếp liệu ven biển của đối phương. Các tàu chiến thường hoạt động từng đôi một, với từ hai đến bốn tàu khu trục Hoa Kỳ và [[Australia]] phối hợp với một [[tàu tuần dương]], và được chỉ đường bởi máy bay trinh sát [[Douglas A-1 Skyraider]] hay [[Grumman S-2 Tracker]] xuất phát từ tàu sân bay. Các tàu chiến thường phải áp sát bờ, và thường xuyên phải chịu đựng hỏa lực pháo bờ biển từ phía Bắc Việt Nam; cho dù nhiều tàu chiến đã bị bắn trúng, không có chiếc nào bị đánh chìm trong suốt những năm chiến tranh, và &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; đã không chịu hư hại hay thương vong nào rong suốt hai năm tham gia hoạt động Sea Dragon. Đôi khi con tàu cũng được huy động để hỗ trợ hải pháo dọc bờ biển cho hoạt động tác chiến trên bộ của lực lượng Hoa Kỳ và đồng minh tại [[Nam Việt Nam]]; vào ngày [[9 tháng 10]], nó đã hoạt động tại khu vực [[vịnh Gành Rái]] thuộc vùng cửa [[sông Sài Gòn]]. Sau khi hoàn tất lượt phục vụ, chiếc tàu khu trục lên đường quay trở về Hoa Kỳ, về đến Norfolk vào ngày [[30 tháng 1]], [[1968]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref name=HullNumber/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; quay trở lại những hoạt động thường lệ cùng Đệ Nhị hạm đội tại vùng bờ Đông cho đến ngày [[4 tháng 6]], [[1968]], khi nó đi đến [[Xưởng hải quân Philadelphia]] để được đại tu. Hoàn tất công việc trong xưởng tàu vào [[tháng 9]], nó quay trở lại cảng Norfolk một thời gian ngắn trước khi lên đường đi sang vùng biển Caribe, nơi con tàu hoạt động huấn luyện ôn tập trong [[tháng 10]] và [[tháng 11]]. Nó lại có những hoạt động thường lệ từ cảng nhà cho đến hết năm [[1968]]. Đến [[tháng 1]], [[1969]], chiếc tàu khu trục lại lên đường băng qua kênh đào Panama cho một lượt phục vụ khác cùng Đệ Thất hạm đội tại Viễn Đông. Các hoạt động tác chiến tương tự tại Việt Nam được nó thực hiện cho đến [[tháng 10]], khi nó lên đường quay trở về Norfolk.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref name=HullNumber/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1969 - 1975 ===&lt;br /&gt;
Vào ngày [[5 tháng 11]], [[1969]], [[tàu chở dầu]] &amp;#039;&amp;#039;Keo&amp;#039;&amp;#039; dài {{convert|632|ft|m|abbr=on}} mang cờ [[Liberia]] bị vỡ làm đôi do sóng biển mạnh tại vị trí về phía Đông [[Cape May]], [[New Jersey]] khoảng {{convert|30|mi|km|abbr=on}}. Những thông tin ban đầu cho biết có 36 thành viên thủy thủ đoàn vẫn an toàn tại phần đuôi vẫn còn nổi của con tàu. &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; lập tức được phái đến hiện trường cùng với tàu khu trục {{USS|Hugh Purvis|DD-709|3}}, tàu tuần dương {{USS|Fox|CG-33|3}}, hai [[tàu cutter]] thuộc [[Tuần duyên Hoa Kỳ|lực lượng Tuần Duyên]] và hai máy bay [[Lockheed C-130 Hercules]]. Tuy nhiên trước khi lực lượng cứu hộ kịp đến nơi, phần đuôi tàu bị đắm và cả 36 thành viên thủy thủ đoàn đều tử nạn.&amp;lt;ref&amp;gt;{{chú thích web | last=Spigel | first=Adam B. | title=A Sampling of U.S. Naval Humanitarian Operations | url=https://www.history.navy.mil/research/library/online-reading-room/title-list-alphabetically/s/sampling-of-us-naval-humanitarian-operations.html#rescues | publisher=Naval History and Heritage Command | date=ngày 30 tháng 10 năm 2017 | access-date =ngày 29 tháng 3 năm 2021}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ [[tháng 5]] đến [[tháng 10]], [[1970]], &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; được phái đi phục vụ cùng Đệ Lục hạm đội tại Địa Trung Hải; sau đó con tàu còn thực hiện một lượt hoạt động tương tự từ [[tháng 12]], [[1971]]  đến [[tháng 6]], [[1972]]. Đây là những chuyến hoạt động cuối cùng tại nước ngoài, khi nó sau đó chỉ có những hoạt động dọc theo vùng bờ Đông, cho đến khi được cho xuất biên chế tại Norfolk vào ngày [[31 tháng 10]], [[1973]]. Với 28 năm phục vụ, &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; là một trong những tàu khu trục [[Gearing (lớp tàu khu trục)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Gearing&amp;#039;&amp;#039;]] phục vụ lâu nhất cùng Hải quân Hoa Kỳ. Con tàu trải qua một lượt khảo sát nhằm đánh giá độ bền của lườn tàu sau ảnh hưởng của vũ khí, nhằm cung cấp thông tin cho việc thiết kế các kiểu tàu chiến sau này. Sau khi hoàn tất, tên nó được cho rút khỏi danh sách [[Đăng bạ Hải quân]] vào ngày [[2 tháng 6]], [[1975]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref name=HullNumber/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== &amp;#039;&amp;#039;Langara&amp;#039;&amp;#039; (D64) ===&lt;br /&gt;
Con tàu được chuyển giao cho chính phủ [[Tây Ban Nha]] vào ngày [[17 tháng 5]], [[1978]]. Việc này thể hiện sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với việc [[Tây Ban Nha chuyển đổi sang nền dân chủ|chuyển đổi sang nền dân chủ]] của nước này, sau khi chấm dứt chế độ độc tài của [[Francisco Franco|tướng Franco]]. Con tàu phục vụ cùng [[Hải quân Tây Ban Nha]] như là chiếc &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Langara&amp;#039;&amp;#039; (D64)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;. Con tàu ngừng hoạt động và bị tháo dỡ năm [[1992]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref name=HullNumber/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
=== Chú thích ===&lt;br /&gt;
{{tham khảo}}&lt;br /&gt;
=== Thư mục ===&lt;br /&gt;
* {{cite DANFS | author=[[Naval Historical Center]] | title=Leary II (DD-879) | url=https://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/l/leary-ii.html | access-date = ngày 23 tháng 1 năm 2021}}&lt;br /&gt;
* [https://www.history.navy.mil/browse-by-topic/wars-conflicts-and-operations/cuban-missile-crisis.html Cuban Missile Crisis from Navy.mil]&lt;br /&gt;
* [http://www.destroyerhistory.org/sumner-gearingclass/gearingclass.html Gearing-Class Destroyers Design and Development]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
{{Thể loại Commons|USS Leary (DD-879)}}&lt;br /&gt;
*[http://www.navsource.org/archives/05/879.htm USS &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; photos and history at NavSource.org] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20210508035726/https://www.navsource.org/archives/05/879.htm |date=2021-05-08 }}&lt;br /&gt;
*[http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd879txt.htm USS &amp;#039;&amp;#039;Leary&amp;#039;&amp;#039; DANFS entry at HazeGray.org]&lt;br /&gt;
*[http://www.history.navy.mil/a-record/allow-lo/1965-68/jan1966.pdf Allowances and Location of Navy Aircraft]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;!-- non-breaking space to keep AWB drones from altering the space before the navbox--&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu khu trục Gearing}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Mỹ|Tây Ban Nha}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Leary (DD-879)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu khu trục Gearing]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Chiến tranh Lạnh]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Chiến tranh Việt Nam]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu được Hải quân Hoa Kỳ chuyển cho Hải quân Tây Ban Nha]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Hải quân Tây Ban Nha]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;InternetArchiveBot</name></author>
	</entry>
</feed>