<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Lionfish_%28SS-298%29</id>
	<title>USS Lionfish (SS-298) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Lionfish_%28SS-298%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Lionfish_(SS-298)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-10T07:22:58Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Lionfish_(SS-298)&amp;diff=7737471&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;InternetArchiveBot: Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Lionfish_(SS-298)&amp;diff=7737471&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-02-26T05:18:55Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{|{{Infobox ship begin}}{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
| Ship image = [[Hình:USS Lionfish (SS-298).jpg|300px|USS Lionfish]]&lt;br /&gt;
| Ship caption = USS &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; đang neo đậu ở Đảo Midway, 22 tháng 5 năm 1945&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career|Hide header=|Ship country=[[Hoa Kỳ]]|Ship flag={{USN flag|1953}}|Ship name=USS &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039;|Ship namesake=[[Cá sư tử]]|Ship ordered=|Ship builder=*[[Công ty Đóng tàu Cramp]], [[Philadelphia]]&lt;br /&gt;
*[[Xưởng Hải quân Portsmouth]], [[Kittery, Maine]]{{sfn|Friedman|1995|p=285–304}}|Ship yard number=553|Ship laid down=15 tháng 12 năm 1942{{sfn|Friedman|1995|p=285–304}}|Ship launched=7 tháng 11 năm 1943{{sfn|Friedman|1995|p=285–304}}|Ship sponsor=Bà Harold C. Train|Ship acquired=|Ship commissioned=1 tháng 11 năm 1944{{sfn|Friedman|1995|p=285–304}}|Ship decommissioned=16 tháng 1 năm 1946{{sfn|Friedman|1995|p=285–304}}|Ship identification=*&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;SS-298&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
*Mã liên lạc: NXPS&lt;br /&gt;
*{{ICS|November}}{{ICS|Xray}}{{ICS|Papa}}{{ICS|Sierra}}}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career|Hide header=yes|Ship recommissioned=31 tháng 1 năm 1951{{sfn|Friedman|1995|p=285–304}}|Ship decommissioned=15 tháng 12 năm 1953{{sfn|Friedman|1995|p=285–304}}|Ship in service=|Ship out of service=|Ship struck=20 tháng 12 năm 1971{{sfn|Friedman|1995|p=285–304}}|Ship reinstated=|Ship status=Tàu bảo tàng ở [[Battleship Cove]], [[Fall River, Massachusetts]], 30 tháng 8 năm 1972{{sfn|Bauer|Roberts|1991|p=275–280}}|Ship fate=|Ship honours=* [[Tập tin:Silver-service-star-3d.png|20px]] [[Tập tin:Bronze-service-star-3d.svg|18px]] 1 × [[Ngôi sao Chiến trận]]|Ship notes=|Ship reclassified=*&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;AGSS-298&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
*(1 tháng 12 năm 1962){{sfn|Friedman|1995|p=285–304}}}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
| Hide header = &lt;br /&gt;
| Header caption = &lt;br /&gt;
| Ship class = [[Tàu ngầm lớp Balao|Lớp tàu ngầm &amp;#039;&amp;#039;Balao&amp;#039;&amp;#039;]]{{sfn|Bauer|Roberts|1991|p=275–280}}&lt;br /&gt;
| Ship displacement = *{{convert|1526|LT|t|lk=on}} khi nổi{{sfn|Bauer|Roberts|1991|p=275–280}}&lt;br /&gt;
*{{convert|2424|LT|t|abbr=on}} khi lặn{{sfn|Bauer|Roberts|1991|p=275–280}}&lt;br /&gt;
| Ship length = {{convert|311|ft|10|in|m|abbr=on}}{{sfn|Bauer|Roberts|1991|p=275–280}}&lt;br /&gt;
| Ship beam = {{convert|27|ft|3|in|m|abbr=on}}{{sfn|Bauer|Roberts|1991|p=275–280}}&lt;br /&gt;
| Ship draft = {{convert|16|ft|10|in|m|abbr=on}} ở mức tối đa{{sfn|Bauer|Roberts|1991|p=275–280}}&lt;br /&gt;
| Ship propulsion = *4 x [[Động cơ Diesel Fairbanks Morse 38D8-1⁄8|động cơ diesel Fairbanks Morse 38D8-1⁄8]] dẫn động máy phát điện &lt;br /&gt;
*2 x ắc quy Sargo 126-cell&lt;br /&gt;
*4 x động cơ điện Ellitott với hộp số giảm tốc&lt;br /&gt;
*2 x trục chân vịt&lt;br /&gt;
*5.400 shp (4.0 MW) khi nổi&lt;br /&gt;
*2.740 shp (2.04 MW) khi lặn&lt;br /&gt;
| Ship speed = *{{convert|20,25|kn|mph km/h|lk=on}} khi nổi{{sfn|Friedman|1995|p=305–311}}&lt;br /&gt;
*{{convert|8,75|kn|mph km/h}} khi lặn{{sfn|Friedman|1995|p=305–311}}&lt;br /&gt;
| Ship range = {{convert|11000|nmi|mi km|lk=on}} khi nổi ở vận tốc {{convert|10|kn|mph km/h}}{{sfn|Friedman|1995|p=305–311}}&lt;br /&gt;
| Ship endurance = *48 giờ ở vận tốc {{convert|2|kn|mph km/h}} khi lặn{{sfn|Friedman|1995|p=305–311}}&lt;br /&gt;
*75 ngày tuần tra&lt;br /&gt;
| Ship test depth = {{convert|400|ft|m|abbr=on}}{{sfn|Friedman|1995|p=305–311}}&lt;br /&gt;
| Ship complement = 10 sĩ quan, 77 thủy thủ{{sfn|Friedman|1995|p=305–311}}&lt;br /&gt;
| Ship sensors = * Hệ thống Sonar QC&lt;br /&gt;
* Radar dò tìm mặt biển SJ&lt;br /&gt;
* Radar cảnh giới bầu trời SD&lt;br /&gt;
* Radar dẫn bắn ST&lt;br /&gt;
| Ship EW = Máy tính Xử lý Dữ liệu cho Ngư lôi (TDC)&lt;br /&gt;
| Ship armament = *&amp;#039;&amp;#039;Xuất xưởng&amp;#039;&amp;#039;:&lt;br /&gt;
* 10 x ống phóng ngư lôi 21-inch (533 mm) &lt;br /&gt;
** 6 x ống phóng ở mũi tàu&lt;br /&gt;
** 4 x ống phóng ở đuôi tàu&lt;br /&gt;
** 24 ngư lôi &lt;br /&gt;
* 1 x pháo [[Pháo 5-inch/25-caliber|5-inch (127 mm)/25 caliber Mk. 17]]&lt;br /&gt;
* 1 x pháo [[Bofors 40 mm]]&lt;br /&gt;
* 2 x súng máy [[M2 Browning|M3 Browning]]&lt;br /&gt;
*&amp;#039;&amp;#039;Tháng 2 năm 1945&amp;#039;&amp;#039;:&lt;br /&gt;
* 1 x pháo [[Pháo 5-inch/25-caliber|5-inch (127 mm)/25 caliber Mk. 17]]&lt;br /&gt;
* 1 x pháo [[Bofors 40 mm]]&lt;br /&gt;
* 1 x pháo Oerlikon 20 mm&lt;br /&gt;
* 2 x súng máy [[M2 Browning|M3 Browning]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox NRHP|embed=yes|name=USS Lionfish (SS-298)|nrhp_type=nhl|image=Battleship Cove - panoramio (7).jpg|caption=Tàu bảo tàng USS &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; ở Fall River, Massachusetts|location=[[Fall River, Massachusetts]]|locmapin=Massachusetts|map_width=300|built=1943|architect=Hải quân Hoa Kỳ|added=30 tháng 9 năm 1976|designated_nrhp_type=14 tháng 1 năm 1986|refnum=76002270|lat_degrees=41|lat_minutes=42|lat_seconds=22|lat_direction=N|long_degrees=71|long_minutes=09|long_seconds=47|long_direction=W|image_size=300}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;USS &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; (SS/AGSS-298)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;, là một [[tàu ngầm]] [[Balao (lớp tàu ngầm)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Balao&amp;#039;&amp;#039;]] của [[Hải quân Hoa Kỳ]] và là con tàu đầu tiên của [[Hải quân Hoa Kỳ]] được đặt tên theo loài [[cá sư tử]], một loài cá thuộc [[Họ Cá mù làn|họ cá mù làn]] sống ở [[Thái Bình Dương]] và [[vùng biển Caribe]]. Con tàu đã thực hiện tổng cộng hai chuyến tuần tra trong [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Chiến tranh Thế giới thứ hai]] và được tặng thưởng một Ngôi sao Chiến trận. &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; tiếp tục phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ trong một thời gian ngắn sau chiến tranh tới khi được xóa đăng bạ vào năm 1971. Con tàu sau đó được đưa về [[Massachusetts]] làm tàu bảo tàng vào năm 1972. Năm 1986, &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; được công nhận là một Di tích Lịch sử Quốc gia và hiện đang neo đậu tại Battleship Cove ở [[Fall River, Massachusetts]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
{{main|Balao (lớp tàu ngầm)}}Lớp &amp;#039;&amp;#039;Balao&amp;#039;&amp;#039; được người Mỹ có nhiều điểm tương đồng thiết kế của [[Gato (lớp tàu ngầm)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Gato&amp;#039;&amp;#039;]] trước đó. Cải tiến nổi bật nhất của lớp &amp;#039;&amp;#039;Balao&amp;#039;&amp;#039; là người Mỹ sử dụng thép cường độ cao HTS, có độ dày và độ đàn hồi cao hơn hẳn so với loại thép được dùng làm vỏ tàu của các tàu ngầm lớp &amp;#039;&amp;#039;Gato&amp;#039;&amp;#039;, để làm vỏ tàu của các tàu ngầm lớp &amp;#039;&amp;#039;Balao.&amp;#039;&amp;#039;{{sfn|Friedman|1995|p=311}} Chính nhờ điều này mà các tàu ngầm lớp &amp;#039;&amp;#039;Balao&amp;#039;&amp;#039; có thể lặn xuống độ sâu tối đa khoảng 200 mét, sâu hơn khoảng 30 mét so với độ sâu tối đa mà những tàu ngầm lớp &amp;#039;&amp;#039;Gato&amp;#039;&amp;#039; có thể lặn xuống, nhưng được hạ xuống còn 120 mét để đảm bảo sự an toàn của thủy thủ đoàn.{{sfn|Friedman|1995|p=311}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hình dáng bên ngoài của lớp &amp;#039;&amp;#039;Balao&amp;#039;&amp;#039; cũng được thay đổi đáng kể. Hệ thống đảo thượng tầng và cột kính tiềm vọng đã được tối giản để giảm khả năng tàu bị phát hiện khi nổi trên mặt nước. Toàn bộ mái che đã được tháo bỏ khỏi đảo thượng tầng của các tàu ngầm lớp &amp;#039;&amp;#039;Balao&amp;#039;&amp;#039; để giảm độ nặng của tàu, và có thể lắp đặt thêm các khẩu pháo phòng không và mở rộng hệ thống radar và ăng ten phụ.{{sfn|Friedman|1995|p=311}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; có chiều dài tổng thể là 95 mét, và có mức choán nước là 1.526 tấn Anh (1.550 tấn) khi nổi và 2.414 tấn Anh (2.453 tấn) khi lặn.{{sfn|Friedman|1995|p=209-210}} Con tàu sử dụng bốn [[động cơ diesel]] chín [[xi lanh]] có piston đối đỉnh Fairbanks-Morse 38D8-1⁄8, kết hợp với bốn động cơ điện Ellitott, và hai ắc quy Sargo 126 cell. Hệ thống kết hợp này có ưu điểm lớn là các động cơ có thể tự hoạt động một cách độc lập với nhau trong bất kỳ tình huống nào, bao gồm trường hợp dùng chúng làm động cơ dẫn động máy phát điện và động cơ dẫn động trục chân vịt.{{sfn|Friedman|1995|p=311}} Động cơ đầy của tàu có thể tạo ra mức công suất tối đa là 5.400 shp khi nổi, 2.740 shp khi lặn, đồng thời giúp con tàu đạt được tốc độ di chuyển tối đa là 20,25 knot khi nổi và 8,75 knot khi lặn.{{sfn|Friedman|1995|p=311}} &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; có tầm hoạt động là 11.000 hải lý khi nổi ở vận tốc 10 knot/giờ và có thể tác chiến tuần tra liên tục trong vòng 75 ngày.{{sfn|Friedman|1995|p=311}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; được lắp đặt 10 ống phóng ngư lôi 21-inch (sáu ống ở mũi tàu và bốn ống ở đuôi tàu) và mang tổng cộng 24 quả ngư lôi Mark 14 (sau đó được thay thế bởi ngư lôi điện Mark 18).{{sfn|Friedman|1995|p=311}} Con tàu được lắp đặt hệ thống điện tử TDC (Torpedo Data Computer), có thể xử lý dữ liệu thu được từ kính tiềm vọng hoặc sonar của tàu và cho ra những thông số chính xác về khoảng cách tới các mục tiêu, góc bắn và tốc độ di chuyển của tàu đối phương.{{sfn|Friedman|1995|p=311}} &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; ban đầu được trang bị một khẩu hải pháo [[Pháo 5-inch/25-caliber|5-inch/25-caliber Mark 17]], một khẩu pháo [[Bofors 40 mm]] và hai khẩu súng máy hạng nặng M3 Browning không cố định (khi cần sẽ mang lên boong tàu sử dụng).{{sfn|Friedman|1995|p=311}} Con tàu có thể mang được tối đa 40,88 tấn đạn dược các loại. Cảm biến điện tử của tàu bao gồm hệ thống Sonar QC,&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích web|url=https://maritime.org/doc/sonar/chap14.htm|tựa đề=Naval Sonar|tác giả=Bureau of Naval Personal|tên=|ngày=1953|website=San Francisco Maritime National Park Association|url-status=live|ngày truy cập=2022-07-16}}&amp;lt;/ref&amp;gt; radar dò tìm mặt biển SJ,&amp;lt;ref name=&amp;quot;RADAR&amp;quot;&amp;gt;{{chú thích tạp chí|author=Macintyre, Donald, CAPT RN|date=September 1967|title=Shipborne Radar|publisher=United States Naval Institute Proceedings}}&amp;lt;/ref&amp;gt; radar cảnh giới bầu trời SD,&amp;lt;ref name=&amp;quot;NRL&amp;quot;&amp;gt;{{Chú thích sách|url=https://archive.org/details/DTIC_ADA084225|title=Evolution of Naval Radio-Electronics and Contributions of the Naval Research Laboratory|last1=Gebhard|first1=Louis A.|date=1979|publisher=Naval Research Laboratory|location=Washington, D.C.|page=186|access-date=13 July 2021}}&amp;lt;/ref&amp;gt; và kính tiềm vọng của tàu được tích hợp radar đo khoảng cách ST.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; được đặt lườn tại Công ty Đóng tàu Cramp ở [[Philadelphia]] vào ngày 15 tháng 12 năm 1942. Con tàu được hạ thủy vào ngày 7 tháng 11 năm 1943 và được đỡ đầu bởi Bà Harold C. Train. &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; sau đó được đưa đến Xưởng Hải quân Portsmouth ở Kittery, [[Maine]] để lắp đặt trang thiết bị, trước khi chính thức nhập biên chế vào ngày 1 tháng 11 năm 1944, dưới sự chỉ huy của Thiếu tá Edward D. Spruance, con trai của Đô đốc [[Raymond A. Spruance]] và đã có kinh nghiệm phục vụ trên tàu ngầm [[USS Tambor (SS-198)|USS &amp;#039;&amp;#039;Tambor&amp;#039;&amp;#039;]].&amp;lt;ref name=&amp;quot;Lionfish&amp;quot;&amp;gt;{{Chú thích web|url=https://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/l/lionfish.html|tựa đề=Lionfish (SS 298)|website=Naval History and Heritage Command|url-status=live|ngày truy cập=2022-09-01}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
Sau khi hoàn tất việc lắp đặt vũ khí, trang thiết bị, &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; bắt đầu trải qua một loạt bài tập huấn luyện về quy trình vận hành tàu ngầm khi lặn/nổi, cách tấn công, ẩn mình và kiểm soát thiệt hại, cũng như các đợt nâng cấp nhỏ lẻ khác. &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; rời Portsmouth vào giữa tháng 12 năm 1944 và dừng chân ở [[Newport Beach, California|Newport]] trong một thời gian ngắn để tiến hành thực hiện các bài tập về các sử dụng ngư lôi, trước di chuyển đến [[New London, Connecticut|New London]] vào ngày 8 tháng 1 năm 1945.  &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; sau đó di chuyển về Key West vào ngày 15 tháng 1 năm 1945 và cập bên Port Everglades, Florida vào ngày 16 tháng 1 năm 1945 để hoàn tất những đợt chuẩn bị cuối cùng trước khi ra trận. &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; khởi hành ngày 27 tháng 1 năm 1945 về [[Kênh đào Panama]] và tiến đến [[Hawaii]]. Con tàu cập bến [[Trân Châu Cảng]] vào ngày 25 tháng 2 năm 1945 và được biên chế vào Hải đội 241, Hải đoàn Tàu ngầm 24.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Lionfish&amp;quot; /&amp;gt;{{sfn|Historic Naval Ships Association|1978|p=2-3}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Chiến tranh Thế giới thứ hai ===&lt;br /&gt;
Sau khi hoàn thành các buổi huấn luyện tăng cường, &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; rời [[Trân Châu Cảng]] và bắt đầu chuyến tuần tra đầu tiên vào ngày 19 tháng 3, với nhiệm vụ đầu tiên là tiến về [[Saipan]] cùng với tàu ngầm [[USS Trutta (SS-412)|USS &amp;#039;&amp;#039;Trutta&amp;#039;&amp;#039;]] và [[USS Parche (SS-384)|USS &amp;#039;&amp;#039;Parche&amp;#039;&amp;#039;]]. Sau khi hoàn thành việc sửa chữa ở Saipan, &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; tiếp tục ra khơi vào ngày 2 tháng 4 năm 1945 và thực hiện nhiệm vụ tuần tra ở khu vực phía nam Eo biển Bungo, gần [[Kyushu]] và [[Shikoku]] của Nhật Bản.{{sfn|Historic Naval Ships Association|1978|p=3}}  Ngày 13 tháng 4, con tàu chuyển hướng tuần tra ở [[Hoàng Hải|Biển Hoàng Hải]], gần khu vực [[Đảo Jeju]].{{sfn|Historic Naval Ships Association|1978|p=7}}  Vào ngày 1 tháng 5 năm 1945, &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; báo cáo bắn chìm con thuyền buồm nặng 100 tấn ở tọa độ [https://www.google.com/maps/place/33°50&amp;#039;00.0%22N+124°00&amp;#039;00.0%22E/data=!4m5!3m4!1s0x0:0xe0c1cf6c844f8e09!8m2!3d33.8333333!4d124?hl=vi-VN 33°50&amp;#039; Bắc, 124°00&amp;#039; Đông] khi đang trên đường di chuyển xuống phía nam Hoàng Hải.{{sfn|Historic Naval Ships Association|1978|p=12}}  Năm ngày sau, &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; rời khu vực tuần tra và tiến về điểm tập kết để tiếp nhận các thành viên phi hành đoàn [[Boeing B-29 Superfortress|B-29]] được cứu sống bởi tàu ngầm [[USS Ray (SS-271)|USS &amp;#039;&amp;#039;Ray&amp;#039;&amp;#039;]]. Sau khi đưa các thành viên phi đoàn về Saipan, &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; quay trở về Midway vào ngày 15 tháng 5 năm 1945 và kết thúc chuyến tuần tra đầu tiên.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Lionfish&amp;quot; /&amp;gt;{{sfn|Historic Naval Ships Association|1978|p=13-15}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 20 tháng 6 năm 1945, &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; bắt đầu chuyến tuần tra thứ hai dưới quyền chỉ huy của thuyền trưởng mới, Trung tá Bricker M. Ganyard.{{sfn|Historic Naval Ships Association|1978|p=31}}  Sau khi hoàn thành việc vận chuyển một nhóm công binh về [[Guam]], ngày 28 tháng 6, &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; tiến vào tuần tra ở Eo biển Bungo. Đến ngày 4 tháng 7, con tàu được giao nhiệm vụ cảnh giới bầu trời để giải cứu các phi công Đồng Minh bị bắn rơi ở vùng biển Nhật Bản.{{sfn|Historic Naval Ships Association|1978|p=33}}  Lúc 04:37 ngày 10 tháng 7, gần khu vực Mũi Ashizuri, radar của &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; phát hiện ra một tàu ngầm lớp &amp;#039;&amp;#039;I&amp;#039;&amp;#039; của Nhật Bản đang di chuyển ở phía sau &amp;#039;&amp;#039;Lionfish,&amp;#039;&amp;#039; cách &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; khoảng 960 mét. &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; phóng năm quả ngư lôi Mark 18 vào lúc 04:43 và thủy thủ đoàn của tàu báo cáo đã nghe thấy hai tiếng nổ lớn lúc 04:44-04:45, cùng với tiếng tàu bị gãy đôi. Nhưng khi quan sát qua kính tiềm vọng, họ chỉ thấy một cột khói bốc lên ở tọa độ [https://geohack.toolforge.org/geohack.php?pagename=Japanese_submarine_I-162&amp;amp;params=32_45_N_131_46_E_ 32°45′ Bắc 131°46′ Đông], nơi họ nghe thấy tiếng nổ, và không có dấu hiệu của bất kỳ chiếc tàu ngầm nào bị đánh chìm.{{sfn|Historic Naval Ships Association|1978|p=35-36}}  Thực tế, &amp;#039;&amp;#039;I-162&amp;#039;&amp;#039;, chiếc tàu ngầm Nhật được &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; báo cáo bắn chìm ngày hôm đó, đã cập bến [[Kure]] bình an vô sự vào buổi sáng cùng ngày.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích web|url=http://www.combinedfleet.com/I-162.htm|title=IJN Submarine I-162: Tabular Record of Movement|last1=Hackett|first1=Bob|last2=Kingsepp|first2=Sander|year=2016|work=combinedfleet.com|url-status=live|access-date=1 September 2022}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Con tàu báo cáo tiếp tục bắn chìm tàu ngầm lớp &amp;#039;&amp;#039;I-168&amp;#039;&amp;#039; vào sáng ngày 11 tháng 7 và ngày 16 tháng 7, đều ở phía tây [[Kyushu]]. Tuy nhiên, đối chiếu báo cáo sau chiến tranh không thể xác nhận được mục tiêu mà &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; đã báo cáo bắn chìm trong hai ngày đó. Trong những ngày tiếp theo, &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; làm nhiệm vụ tuần tra dọc vùng biển Nhật Bản để tìm kiếm giải cứu các phi công Đồng Minh bị bắn hạ khi đang làm nhiệm vụ ném bom [[Nhật Bản]]. Sau khi [[Nhật Bản đầu hàng]] vào ngày 15 tháng 8, &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; được lệnh rời khu vực tuần tra để quay trở về căn cứ. Con tàu cập bến Midway vào ngày 22 tháng 8 năm 1945, kết thúc chuyến tuần tra thứ hai và cuối cùng của &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039;.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Lionfish&amp;quot; /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Hậu chiến ===&lt;br /&gt;
Sau khi chiến tranh kết thúc, &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; khởi hành đến Xưởng Hải quân Mare Island vào ngày 11 tháng 9 năm 1945 để hoàn thành nốt giai đoạn đại tu cuối cùng trước khi ngừng hoạt động. &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; ngừng hoạt động vào ngày 16 tháng 1 năm 1946 và được đưa về vào Hạm đội Trừ Bị Thái Bình Dương ở Mare Island.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Lionfish&amp;quot; /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; được tái biên chế vào ngày 31 tháng 1 năm 1951, dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Arthur G. McIntyre, và bắt đầu tiến hành các đợt huấn luyện ở vùng biển phía Đông Hoa Kỳ. Ngày 21 tháng 4 năm 1951, con tàu cập bến [[Key West, Florida]], và hoạt động tại đó với vai trò là tàu huấn luyện sonar tới tháng 6 năm 1951. Sau đó, nó được đưa về làm tàu huấn luyện ở New London tới ngày 25 tháng 9. Ngày 18 tháng 10 năm 1952, &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; tiến hành một chuyến hải trình ở Địa Trung Hải và đã viếng thăm Malta. Trong thời gian đó, &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; còn tham gia nhiều cuộc tập trận chung của [[NATO]] ở [[İzmir|Izmir]], Phaleron, [[Taranto]], và [[Napoli]]s. Con tàu quay về [[New London, Connecticut|New London]] vào ngày 27 tháng 12, và sau đó di chuyển về Xưởng Hải quân Boston, nơi con tàu được xuất biên chế vào ngày 15 tháng 12 năm 1946. Năm 1960, con tàu được đưa vào hoạt động trở lại với vai trò là một tàu ngầm huấn luyện ở [[Providence, Rhode Island]], nhưng không được tái biên chế một cách chính thức.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Lionfish&amp;quot; /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tàu bảo tàng ==&lt;br /&gt;
Ngày 20 tháng 12 năm 1971, &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; bị xóa tên khỏi Danh sách Đăng bạ Hải quân. Vào ngày 30 tháng 8 năm 1972, con tàu được đưa về làm tàu bảo tàng ở bang [[Massachusetts]]. Hiện nay, &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; đang neo đậu ở [[Battleship Cove]], một khu bảo tàng hàng hải phi lợi nhuận nằm tại thành phố [[Fall River, Massachusetts|Fall River]] của Massachusetts.&amp;lt;ref name=&amp;quot;Lionfish&amp;quot; /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì chưa bao giờ được nhận gói nâng cấp [[Chương trình Công suất đẩy dưới nước lớn hơn|GUPPY]] như nhiều tàu ngầm lớp &amp;#039;&amp;#039;Balao&amp;#039;&amp;#039; khác, &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; là một trong số ít tàu ngầm của [[Hải quân Hoa Kỳ]] thời [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Chiến tranh Thế giới thứ hai]] được bảo tồn với cấu hình nguyên bản thời chiến. Năm 1986, con tàu được công nhận là một [[Di tích Lịch sử Quốc gia Hoa Kỳ|Di tích Lịch sử Quốc gia]] của Hoa Kỳ.&amp;lt;ref name=&amp;quot;NRHP&amp;quot;&amp;gt;{{Chú thích web|url=http://mhc-macris.net/Details.aspx?MhcId=FLR.914|title=MACRIS inventory record and NRHP nomination for USS Lionfish|publisher=Commonwealth of Massachusetts|access-date=2022-09-01}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Khen thưởng ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng một Ngôi sao Chiến trận cho hai chuyến tuần tra của tàu ở [[Chiến tranh Thái Bình Dương|Mặt trận Thái Bình Dương]] trong [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Chiến tranh Thế giới thứ hai]].&amp;lt;ref name=&amp;quot;Lionfish&amp;quot; /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Xem thêm ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* [[Danh sách tàu ngầm lớp Balao]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Chú thích ===&lt;br /&gt;
{{tham khảo}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Sách tham khảo ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* {{Chú thích sách|title=Register of Ships of the U.S. Navy, 1775–1990: Major Combatants|url=https://archive.org/details/registerofshipso0000baue|last1=Bauer|first1=K. Jack|last2=Roberts|first2=Stephen S.|publisher=Greenwood Press|year=1991|isbn=0-313-26202-0|location=[[Westport, Connecticut]]}}&lt;br /&gt;
* {{Chú thích sách|title=Silent Victory: The U.S. Submarine War against Japan|url=https://archive.org/details/silentvictoryuss0000blai|last=Blair|first=Clay,Jr.|publisher=Bantam|year=1976|isbn=9780553010503|location=New York|author-link=Clay Blair}}; also Naval Institute Press, March 2001, {{ISBN|978-1-55750-217-9}}&lt;br /&gt;
* {{Chú thích sách|title=U.S. Submarines through 1945: An Illustrated Design History|url=https://archive.org/details/ussubmarinesthro0000frie|last=Friedman|first=Norman|publisher=Annapolis|year=1995|isbn=978-1-55750-263-6}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Tài liệu tham khảo ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* {{Chú thích web|url=https://issuu.com/hnsa/docs/ss-298_lionfish|tựa đề=USS Lionfish (SS-298), Submarine War Patrol Reports|tác giả=Historic Naval Ships Association|ngày=1978|url-status=dead|access-date=2022-09-01|archive-date=2023-02-27|archive-url=https://web.archive.org/web/20230227005722/https://issuu.com/hnsa/docs/ss-298_lionfish}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
{{Thể loại Commons|USS Lionfish (SS-298)}}&lt;br /&gt;
* [http://www.battleshipcove.org Battleship Cove]&lt;br /&gt;
* [http://www.williammaloney.com/Aviation/SubmarineLionfish/index.htm USS Lionfish] - những bức ảnh chụp bên trong USS &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039; (SS-298) ở Fall River, MA.&lt;br /&gt;
* [https://www.imdb.com/title/tt2909932/?ref_=ttpl_pl_tt Subconscious (2015)] - một bộ phim về USS &amp;#039;&amp;#039;Lionfish&amp;#039;&amp;#039;.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu ngầm Balao}}&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Mỹ}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Lionfish (SS-298)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu thủy năm 1943]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu ngầm|Lionfish]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu ngầm Hoa Kỳ|Lionfish]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu ngầm của Hải quân Hoa Kỳ trong Thế Chiến II|Lionfish]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu bảo tàng]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu thuộc di tích lịch sử quốc gia]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu ngầm Balao]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu ngầm của Hải quân Hoa Kỳ trong Chiến tranh Lạnh]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;InternetArchiveBot</name></author>
	</entry>
</feed>