<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Lowry_%28DD-770%29</id>
	<title>USS Lowry (DD-770) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Lowry_%28DD-770%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Lowry_(DD-770)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-11T06:50:50Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Lowry_(DD-770)&amp;diff=7128419&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;Yuki Shiromita: Di chuyển từ Category:Tàu được Hải quân Hoa Kỳ chuyển cho Hải quân Brazil đến Category:Tàu được Hải quân Hoa Kỳ chuyển cho Hải quân Brasil dùng Cat-a-lot</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Lowry_(DD-770)&amp;diff=7128419&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-06-18T08:34:18Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Di chuyển từ &lt;a href=&quot;/wiki/Th%E1%BB%83_lo%E1%BA%A1i:T%C3%A0u_%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c_H%E1%BA%A3i_qu%C3%A2n_Hoa_K%E1%BB%B3_chuy%E1%BB%83n_cho_H%E1%BA%A3i_qu%C3%A2n_Brazil&quot; title=&quot;Thể loại:Tàu được Hải quân Hoa Kỳ chuyển cho Hải quân Brazil&quot;&gt;Category:Tàu được Hải quân Hoa Kỳ chuyển cho Hải quân Brazil&lt;/a&gt; đến &lt;a href=&quot;/wiki/Th%E1%BB%83_lo%E1%BA%A1i:T%C3%A0u_%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c_H%E1%BA%A3i_qu%C3%A2n_Hoa_K%E1%BB%B3_chuy%E1%BB%83n_cho_H%E1%BA%A3i_qu%C3%A2n_Brasil&quot; title=&quot;Thể loại:Tàu được Hải quân Hoa Kỳ chuyển cho Hải quân Brasil&quot;&gt;Category:Tàu được Hải quân Hoa Kỳ chuyển cho Hải quân Brasil&lt;/a&gt; dùng &lt;a href=&quot;/index.php?title=C:Help:Cat-a-lot&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1&quot; class=&quot;new&quot; title=&quot;C:Help:Cat-a-lot (trang không tồn tại)&quot;&gt;Cat-a-lot&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image= [[Tập tin:USS Lowry (DD-770) off San Pedro, California (USA), on 5 August 1944 (19-N-69905).jpg|300px|USS &amp;#039;&amp;#039;Lowry&amp;#039;&amp;#039;]]&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu khu trục USS &amp;#039;&amp;#039;Lowry&amp;#039;&amp;#039; (DD-770) ngoài khơi San Pedro, California, 5 tháng 8 năm 1944&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
| Ship country = Hoa Kỳ&lt;br /&gt;
| Ship flag = {{USN flag|1973}}&lt;br /&gt;
| Ship name = USS &amp;#039;&amp;#039;Lowry&amp;#039;&amp;#039; (DD-770)&lt;br /&gt;
| Ship namesake = [[Reigart Bolivar Lowry]]&lt;br /&gt;
| Ship ordered = &lt;br /&gt;
| Ship awarded = &lt;br /&gt;
| Ship builder = [[Bethlehem Shipbuilding Corporation|Bethlehem Steel Co.]], [[San Pedro, California]]&lt;br /&gt;
| Ship original cost = &lt;br /&gt;
| Ship laid down = [[1 tháng 8]] năm [[1943]]&lt;br /&gt;
| Ship launched = [[6 tháng 2]] năm [[1944]]&lt;br /&gt;
| Ship sponsor = cô Ann Lowry&lt;br /&gt;
| Ship completed = &lt;br /&gt;
| Ship acquired = &lt;br /&gt;
| Ship commissioned = [[23 tháng 7]] năm [[1944]]&lt;br /&gt;
| Ship recommissioned = [[27 tháng 12]] năm [[1950]]&lt;br /&gt;
| Ship decommissioned = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| [[30 tháng 6]] năm [[1947]];&lt;br /&gt;
| [[1973]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship in service = &lt;br /&gt;
| Ship out of service = &lt;br /&gt;
| Ship renamed = &lt;br /&gt;
| Ship reclassified = &lt;br /&gt;
| Ship struck = [[31 tháng 10]] năm [[1973]]&lt;br /&gt;
| Ship nickname = &lt;br /&gt;
| Ship honors = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| [[Đơn vị Tưởng thưởng Hải quân]];&lt;br /&gt;
| 6 × [[Ngôi sao Chiến trận]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship captured = &lt;br /&gt;
| Ship fate = Được chuyển cho [[Brazil]], [[31 tháng 10]] năm [[1973]]&lt;br /&gt;
| Ship status = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
| Ship country = Brazil&lt;br /&gt;
| Ship flag = {{shipboxflag|Brazil|naval}}&lt;br /&gt;
| Ship name = &amp;#039;&amp;#039;Espirito Santo&amp;#039;&amp;#039; (D38)&lt;br /&gt;
| Ship namesake = &lt;br /&gt;
| Ship acquired = [[31 tháng 10]] năm [[1973]]&lt;br /&gt;
| Ship commissioned = &lt;br /&gt;
| Ship recommissioned = &lt;br /&gt;
| Ship decommissioned = &lt;br /&gt;
| Ship struck = [[2 tháng 2]] năm [[1996]]&lt;br /&gt;
| Ship fate = Bán để tháo dỡ, [[tháng 10]] năm [[1996]]&lt;br /&gt;
| Ship status = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
| Ship class = [[Allen M. Sumner (lớp tàu khu trục)|Lớp tàu khu trục &amp;#039;&amp;#039;Allen M. Sumner&amp;#039;&amp;#039;]]&lt;br /&gt;
| Ship displacement = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|2200|LT|t|abbr=on}} (tiêu chuẩn);&lt;br /&gt;
| {{convert|3515|LT|t|abbr=on}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship length = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|369|ft|m|abbr=on}} (mực nước);&lt;br /&gt;
| {{convert|376|ft|6|in|m|abbr=on}} (chung)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship beam = {{convert|40|ft|m|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship draft = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|15|ft|9|in|m|abbr=on}} (tiêu chuẩn);&lt;br /&gt;
| {{convert|19|ft|m|abbr=on}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship propulsion = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 4 × nồi hơi;&lt;br /&gt;
| 2 × turbine hơi nước hộp số;&lt;br /&gt;
| 2 × trục;&lt;br /&gt;
| công suất {{convert| 60000|shp|kW|abbr=on|lk=on}}&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship speed = {{convert|34|kn|mph km/h|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship range = {{convert|6000|nmi|km|-3|abbr=on}} ở tốc độ {{convert|15|kn|mph km/h|0|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship endurance = &lt;br /&gt;
| Ship boats = &lt;br /&gt;
| Ship complement = 336 sĩ quan và thủy thủ&lt;br /&gt;
| Ship crew = &lt;br /&gt;
| Ship sensors = &lt;br /&gt;
| Ship EW = &lt;br /&gt;
| Ship armament = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 6 × pháo [[Hải pháo 5 inch/38 caliber|{{convert|5|in|mm|abbr=on}}/38 caliber]] (3×2) trên bệ Mk 38 nòng đôi;&lt;br /&gt;
| 12 × pháo phòng không [[Bofors 40 mm]] (2×4 &amp;amp; 2×2);&lt;br /&gt;
| 11 × pháo phòng không [[Oerlikon 20 mm]];&lt;br /&gt;
| 10 × ống phóng [[ngư lôi]] [[Ngư lôi Mark 15|Mark 15]] {{convert|21|in|mm|abbr=on}} (2×5);&lt;br /&gt;
| 6 × máy phóng [[K-gun]] và 2 × đường ray thả [[mìn sâu]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship armor = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft facilities = &lt;br /&gt;
| Ship notes = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;USS &amp;#039;&amp;#039;Lowry&amp;#039;&amp;#039; (DD-770)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; là một [[tàu khu trục]] [[Allen M. Sumner (lớp tàu khu trục)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Allen M. Sumner&amp;#039;&amp;#039;]] được [[Hải quân Hoa Kỳ]] chế tạo trong [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]]. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Mỹ được đặt theo tên [[Thiếu tướng Hải quân]] [[Reigart Bolivar Lowry]] (1826-1880), người tham gia cuộc [[Chiến tranh Mexico-Hoa Kỳ]] và cuộc [[Nội chiến Hoa Kỳ]]. Nó đã hoạt động cho đến hết Thế Chiến II, và tiếp tục phục vụ sau đó trong [[Chiến tranh Triều Tiên]] và [[Chiến tranh Việt Nam]] cho đến khi xuất biên chế năm [[1973]]. Con tàu được chuyển cho [[Brazil]] trong năm đó, và hoạt động như là chiếc &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Espirito Santo&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; cho đến khi ngừng hoạt động và bị tháo dỡ năm [[1996]]. &amp;#039;&amp;#039;Lowry&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng danh hiệu [[Đơn vị Tưởng thưởng Hải quân]] cùng bốn [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II, và thêm hai Ngôi sao Chiến trận khác trong Chiến tranh Triều Tiên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
{{main|Allen M. Sumner (lớp tàu khu trục)}}&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Lowry&amp;#039;&amp;#039; được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng [[Bethlehem Steel]] Co. ở [[San Pedro, California]] vào ngày [[1 tháng 8]] năm [[1943]]. Nó được hạ thủy vào ngày [[6 tháng 2]] năm [[1944]]; được đỡ đầu bởi cô Ann Lowry, và nhập biên chế vào ngày [[23 tháng 7]] năm [[1944]] dưới quyền chỉ huy của [[Trung tá Hải quân]] L. H. Martin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
=== 1944 - 1947 ===&lt;br /&gt;
Sau khi hoàn tất việc chạy thử máy huấn luyện, &amp;#039;&amp;#039;Lowry&amp;#039;&amp;#039; rời San Pedro vào ngày [[26 tháng 10]] năm [[1944]] để hoạt động huấn luyện tại [[Trân Châu Cảng]] trước khi lên đường đi [[Philippines]], đi đến [[vịnh San Pedro, Philippines|vịnh San Pedro]] tại [[Leyte (đảo)|đảo Leyte]] vào ngày [[14 tháng 12]]. Từ ngày [[19 tháng 12|19]] đến ngày [[29 tháng 12]], nó hộ tống các đoàn tàu vận tải đi lại giữa Leyte và đảo [[Mindoro]] và hỗ trợ cho cuộc đổ bộ lên Mindoro. Sau đó từ ngày [[2 tháng 1|2]] đến ngày [[10 tháng 1]] năm [[1945]], nó đảm nhiệm hộ tống bảo vệ cho lực lượng đặc nhiệm tàu sân bay đồng thời hỗ trợ hải pháo cho [[Trận Luzon|cuộc đổ bộ]] lên [[vịnh Lingayen]] tại [[Luzon]], Philippines, tiếp tục tuần tra và hỗ trợ ngoài khơi bãi đổ bộ cho đến khi lên đường đi [[Ulithi]] vào ngày [[22 tháng 1]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Lowry&amp;#039;&amp;#039; rời Ulithi vào ngày [[10 tháng 2]] để hộ tống các [[tàu sân bay]] nhanh thuộc Lực lượng Đặc nhiệm 58 trong các nhiệm vụ không kích đảo [[Honshū]] nhằm hỗ trợ cho [[Trận Iwo Jima|cuộc đổ bộ]] lên [[Iwo Jima]]; lực lượng quay trở về Ulithi vào ngày [[1 tháng 3]]. Chiếc tàu khu trục lại lên đường vào ngày [[21 tháng 3]] để hướng đến [[Okinawa]], nơi nó bảo vệ cho các tàu sân bay trong [[Trận Okinawa|chiến dịch đổ bộ]] lên đảo này, cho đến ngày [[29 tháng 4]]. Nó sau đó được điều động sang làm nhiệm vụ cột mốc [[radar]] canh phòng ngoài khơi Okinawa, khi nó nhiều lần đụng độ với máy bay [[Kamikaze]] tấn công cảm tử đối phương. Cuộc đối đầu ác liệt nhất diễn ra vào ngày [[28 tháng 5]], khi chiếc tàu khu trục {{USS|Drexler|DD-741|3}} cùng làm nhiệm vụ canh phòng bị hai máy bay Kamikaze đánh trúng và đắm với tổn thất nhân mạng nặng nề. &amp;#039;&amp;#039;Lowry&amp;#039;&amp;#039; đã nỗ lực chống trả nhiều đợt tấn công tự sát tiếp theo và cố gắng cứu chiếc tàu chị em, rồi sau đó cứu vớt những người sống sót bất chấp những đợt không kích tự sát tiếp nối sau đó. Do thành tích hoạt động trong vai trò cột mốc canh phòng tại Okinawa, con tàu được trao tặng danh hiệu [[Đơn vị Tưởng thưởng Hải quân]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Lowry&amp;#039;&amp;#039; chuyển sang nhiệm vụ bảo vệ cho các hoạt động quét [[thủy lôi|mìn]] trong [[biển Đông]] từ ngày [[29 tháng 6]], rồi đi đến vịnh San Pedro vào ngày [[27 tháng 7]] để bảo trì, tiếp liệu và nghỉ ngơi. Sau khi [[Nhật Bản đầu hàng]] vào ngày [[15 tháng 8]], con tàu gia nhập trở lại Lực lượng Đặc nhiệm 38 ngoài khơi [[Tokyo]] vào ngày [[24 tháng 8]] để làm nhiệm vụ cùng lực lượng chiếm đóng, chuyên chở thực phẩm cho những [[tù binh chiến tranh]] [[Khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai|Đồng Minh]] cho đến ngày [[1 tháng 10]], khi nó lên đường đi Okinawa, nơi nó đón những hành khách cựu chiến binh lên tàu cho hành trình quay trở về Hoa Kỳ. Nó về đến [[San Diego, California]] vào ngày [[21 tháng 10]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi được đại tu và huấn luyện, &amp;#039;&amp;#039;Lowry&amp;#039;&amp;#039; rời [[San Francisco, California]] vào ngày [[14 tháng 7]], [[1946]] để đi [[Kwajalein]], nơi nó hoạt động tuần tra trong khuôn khổ [[Chiến dịch Crossroads]], cuộc thử nghiệm [[bom nguyên tử]] trên [[đảo san hô Bikini]], làm nhiệm vụ từ ngày [[24 tháng 7]] đến ngày [[10 tháng 8]], khi nó lên đường quay trở về San Diego, về đến nơi vào ngày [[22 tháng 8]]. Sau các hoạt động huấn luyện dọc theo vùng bờ Tây và [[quần đảo Hawaii]], nó thực hiện chuyến viếng thăm [[Sydney]], [[Australia]] vào [[tháng 5]], [[1947]] nhân kỷ niệm 5 năm [[Trận chiến biển Coral]]. Quay trở về San Diego vào ngày [[14 tháng 6]], con tàu được cho xuất biên chế vào ngày [[30 tháng 6]], và được đưa về Hạm đội Dự bị Thái Bình Dương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Chiến tranh Triều Tiên ===&lt;br /&gt;
Do sự kiện lực lượng [[Bắc Triều Tiên]] tấn công xuống lãnh thổ [[Nam Triều Tiên]] vào [[tháng 6]], [[1950]], khiến [[Chiến tranh Triều Tiên]] bùng nổ, &amp;#039;&amp;#039;Lowry&amp;#039;&amp;#039; được cho nhập biên chế trở lại vào ngày [[27 tháng 12]], [[1950]] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân C. H. Morrison, Jr. Con tàu được phân về [[Hạm đội Đại Tây Dương Hoa Kỳ|Hạm đội Đại Tây Dương]], nên đã đi đến [[New York, New York|New York]] vào ngày [[30 tháng 4]], [[1951]], rồi được đại tu tại [[Norfolk, Virginia]] trước khi bắt đầu huấn luyện tại vùng [[biển Caribe]] vào [[tháng 8]]. Nó quay trở lại Norfolk vào ngày [[15 tháng 11]], rồi khởi hành vào ngày [[22 tháng 1]], [[1952]] để đi sang khu vực Tây Thái Bình Dương và gia nhập cùng [[Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Thất hạm đội]], đi đến [[Yokosuka]], Nhật Bản vào ngày [[27 tháng 2]]. Nó phục vụ cùng Lực lượng Đặc nhiệm 77 ngoài khơi bờ biển phía Đông [[Triều Tiên]] trong vai trò bắn phá bờ biển, canh phòng máy bay và hộ tống cho các tàu sân bay cho đến đầu [[tháng 4]], rồi chuyển sang nhiệm vụ tương tự dọc theo bờ biển phía Tây bán đảo cùng Lực lượng Đặc nhiệm 95, lực lượng phong tỏa và hộ tống [[Liên Hợp Quốc]], cho đến hết [[tháng 5]]. Nó lên đường vào ngày [[8 tháng 6]] để gia nhập trở lại Lực lượng Đặc nhiệm 77, làm nhiệm vụ bắn hải pháo hỗ trợ trước khi lên đường quay trở về nhà. Đi ngang qua [[kênh đào Suez]] và các cảng tại [[Địa Trung Hải]], nó về đến Norfolk vào ngày [[19 tháng 8]], hoàn tất một chuyến đi vòng quanh thế giới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ ngày [[19 tháng 8]], [[1952]] đến ngày [[1 tháng 2]], [[1954]], &amp;#039;&amp;#039;Lowry&amp;#039;&amp;#039; thực hiện những chuyến đi huấn luyện ngoài khơi bờ biển [[Florida]] và vùng biển Caribe nhằm tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu. Nó rời Norfolk vào ngày [[1 tháng 2]], [[1954]] cho chuyến đi vòng quanh thế giới lần thứ hai, vượt [[kênh đào Panama]] và đi đến Yokosuka, Nhật Bản vào ngày [[9 tháng 3]]. Sau một loạt các cuộc cơ động tập trận, bao gồm việc mô phỏng đầy đủ một cuộc tấn công giả định lên Iwo Jima, nó rời Yokosuka vào ngày [[29 tháng 6]] để quay về nhà qua ngã kênh đào Suez, về đến Norfolk vào ngày [[25 tháng 8]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những hoạt động huấn luyện dọc theo vùng bờ Đông và vùng biển Caribe được tiếp nối trước khi &amp;#039;&amp;#039;Lowry&amp;#039;&amp;#039; lần đầu tiên được phái sang hoạt động cùng [[Đệ lục Hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Lục hạm đội]] tại [[Địa Trung Hải]]. Nó rời Norfolk vào ngày [[7 tháng 11]], [[1956]], và quay trở về cảng nhà vào ngày [[28 tháng 2]], [[1957]], tiếp tục huấn luyện và được đại tu. Con tàu rời Norfolk vào ngày [[3 tháng 9]] để tham dự cuộc tập trận [[Chiến dịch Strikeback|Strikeback]] của Khối [[NATO]] tại vùng biển [[Bắc Đại Tây Dương]], rồi tiếp tục đi sang Địa Trung Hải; nó quay trở về Norfolk vào ngày [[22 tháng 12]]. Lượt phục vụ thứ ba của chiếc tàu khu trục cùng Đệ Lục hạm đội diễn ra từ ngày [[7 tháng 8]], [[1959]] đến ngày [[26 tháng 2]], [[1960]]. Sau đó, nó được cải biến tại [[Xưởng hải quân Portsmouth]] theo Chương trình [[Hồi sinh và Hiện đại hóa Hạm đội]] II (FRAM: Fleet Rehabilitation and Modernization), khi những cảm biến và vũ khí chống tàu ngầm được nâng cấp; công việc hiện đại hóa hoàn tất vào ngày [[14 tháng 1]], [[1961]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào [[tháng 6]], [[1961]], &amp;#039;&amp;#039;Lowry&amp;#039;&amp;#039; tham gia Đội đặm nhiệm [[chiến tranh chống tàu ngầm|chống tàu ngầm]] Alpha, một lực lượng đặc biệt đảm nhiệm nghiên cứu và phát triển thiết bị và chiến thuật chống tàu ngầm. Nó hoạt động cùng đội đặc nhiệm này trong bốn năm tiếp theo, đồng thời cũng tham gia vào [[Chương trình Mercury]] khi phục vụ vào việc thu hồi tàu không gian [[Mercury-Redstone 4|Liberty Bell 7]] trong chuyến bay dưới quỹ đạo của phi hành gia [[Virgil Grissom]] vào ngày [[21 tháng 7]], [[1961]]. Trong năm tiếp theo, nó tham gia chiến dịch &amp;quot;phong tỏa&amp;quot; [[Cuba]] khi xảy ra vụ [[Khủng hoảng tên lửa Cuba]] vào [[tháng 10]] - [[tháng 11]], [[1962]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau đợt bố trí phục vụ thứ tư tại Địa Trung Hải từ ngày [[18 tháng 2]] đến ngày [[12 tháng 7]], [[1965]], &amp;#039;&amp;#039;Lowry&amp;#039;&amp;#039; được trang bị [[máy bay trực thăng]] không người lái chống tàu ngầm [[Aerodyne QH-50 DASH]], rồi tham gia một đợt tập trận lớn tại Đại Tây Dương. Đợt biệt phái tiếp theo phục vụ cùng Đệ lục Hạm đội từ ngày [[4 tháng 3]] đến ngày [[12 tháng 8]], [[1966]] được tiếp nối bởi một giai đoạn hoạt động như tàu huấn luyện cho Trường Sonar Hạm đội tại [[Key West]], [[Florida]]. Vào [[tháng 1]] và [[tháng 2]], [[1967]], nó nhận lên tàu những học viên sĩ quan [[Peru]] cho một chuyến đi thực tập huấn luyện, trong khuôn khổ Chương trình Trao đổi Học viên sĩ quan. Từ ngày [[8 tháng 5]] đến ngày [[22 tháng 9]], con tàu được đại tu tại [[Xưởng hải quân Norfolk]], rồi tiếp tục huấn luyện ôn tập tại [[vịnh Guantánamo, Cuba]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Chiến tranh Việt Nam ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Lowry&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ Norfolk vào đầu [[tháng 4]], [[1968]], và băng qua kênh đào Panama để hướng sang Viễn Đông. Nó gia nhập Đệ Thất hạm đội để hoạt động trong cuộc [[Chiến tranh Việt Nam]], đảm nhiệm vai trò canh phòng máy bay cho tàu sân bay, và hỗ trợ hải pháo cho trận chiến trên bộ dọc theo bờ biển [[Nam Việt Nam]]. Xen kẻ những lượt hoạt động này là những chuyến viếng thăm cảng [[Bangkok]], [[Thái Lan]]; [[Sasebo]] và Yokosuka, Nhật Bản; [[Hong Kong]]; [[Pusan]], [[Hàn Quốc]] và [[vịnh Subic]], Philippines. Con tàu quay trở về Norfolk vào ngày [[27 tháng 11]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Lowry&amp;#039;&amp;#039; tiếp tục các hoạt động thường lệ dọc theo bờ biển Đại Tây Dương. Vào ngày [[29 tháng 5]], [[1969]], đang khi thực hành huấn luyện tác xạ ngoài khơi [[Puerto Rico]], một quả đạn pháo đã kích nổ sớm trong nòng pháo, phá hủy khẩu đội và làm một người thiệt mạng cùng nhiều người khác bị thương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== &amp;#039;&amp;#039;Espirito Santo&amp;#039;&amp;#039; (D 38) ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Lowry&amp;#039;&amp;#039; được cho rút khỏi danh sách [[Đăng bạ Hải quân]] vào ngày [[31 tháng 10]], [[1973]]. Nó được chuyển cho [[Brazil]] và tiếp tục phục vụ cùng [[Hải quân Brazil]] như là chiếc &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Espirito Santo&amp;#039;&amp;#039; (D 38)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; cho đến khi ngừng hoạt động vào ngày [[2 tháng 2]], [[1996]]. Nó được sử dụng làm mục tiêu tác xạ, và cuối cùng bị đánh đắm vào năm [[1998]]. Tuy nhiên nguồn khác cho rằng con tàu bị tháo dỡ vào [[tháng 10]], [[1996]].&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích web |url=http://www.navsource.org/archives/05/770.htm |title=Destroyer Photo Index DD-770 USS LOWRY |access-date=2019-08-03 |archive-date=2019-07-29 |archive-url=https://web.archive.org/web/20190729162737/http://www.navsource.org/archives/05/770.htm |url-status=dead }}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Phần thưởng ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Lowry&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng danh hiệu [[Đơn vị Tưởng thưởng Hải quân]] cùng bốn [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II, và thêm hai Ngôi sao Chiến trận khác trong Chiến tranh Triều Tiên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
{{tham khảo}}&lt;br /&gt;
{{Refbegin}}&lt;br /&gt;
* Bài này có các trích dẫn từ nguồn [[:en:Dictionary of American Naval Fighting Ships]] thuộc [[phạm vi công cộng]]: http://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/l/lowry.html&lt;br /&gt;
* Bài này có các trích dẫn từ nguồn [[:en:Naval Vessel Register]] thuộc [[phạm vi công cộng]]: www.nvr.navy.mil/SHIPDETAILS/SHIPSDETAIL_DD_770.HTML &lt;br /&gt;
{{Refend}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
* [http://www.navsource.org/archives/05/770.htm navsource.org: USS &amp;#039;&amp;#039;Lowry&amp;#039;&amp;#039;] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20190729162737/http://www.navsource.org/archives/05/770.htm |date=2019-07-29 }}&lt;br /&gt;
* [http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd770txt.htm hazegray.org: USS &amp;#039;&amp;#039;Lowry&amp;#039;&amp;#039;] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20060927090226/http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd770txt.htm |date=2006-09-27 }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;!-- non-breaking space to keep AWB drones from altering the space before the navbox--&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu khu trục Allen M. Sumner }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Mỹ|Brazil}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Lowry (DD-770)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu khu trục Allen M. Sumner]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Chiến tranh Lạnh]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Chiến tranh Triều Tiên]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Chiến tranh Việt Nam]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu được Hải quân Hoa Kỳ chuyển cho Hải quân Brasil]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu khu trục Mato Grosso]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Hải quân Brazil]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu thủy năm 1944]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;Yuki Shiromita</name></author>
	</entry>
</feed>