<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Monssen_%28DD-798%29</id>
	<title>USS Monssen (DD-798) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Monssen_%28DD-798%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Monssen_(DD-798)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-10T07:23:18Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Monssen_(DD-798)&amp;diff=6765766&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;InternetArchiveBot: Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Monssen_(DD-798)&amp;diff=6765766&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-06-18T06:14:38Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{{Dablink|Về những tàu chiến Hoa Kỳ khác mang cùng tên, xin xem [[USS Monssen]].}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image= [[Tập tin:USS Monssen (DD-798) underway in July 1953.jpg|300px|USS Monssen (DD-798) underway after she was recommissioned, in July 1953.]]&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu khu trục USS &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; (DD-798) trên đường đi sau khi tái biên chế, [[1953]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
| Ship country = Hoa Kỳ&lt;br /&gt;
| Ship flag = {{USN flag|1957}}&lt;br /&gt;
| Ship name = USS &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; (DD-798)&lt;br /&gt;
| Ship namesake = Đại úy Hải quân [[Mons Monssen]]&lt;br /&gt;
| Ship ordered = &lt;br /&gt;
| Ship awarded = &lt;br /&gt;
| Ship builder = [[Bethlehem Steel Company]], [[Staten Island]]&lt;br /&gt;
| Ship original cost = &lt;br /&gt;
| Ship laid down = [[1 tháng 6]] năm [[1943]]&lt;br /&gt;
| Ship launched = [[30 tháng 10]] năm [[1943]]&lt;br /&gt;
| Ship sponsor = bà Mons Monssen&lt;br /&gt;
| Ship completed = &lt;br /&gt;
| Ship acquired = &lt;br /&gt;
| Ship commissioned = [[14 tháng 2]] năm [[1944]]&lt;br /&gt;
| Ship recommissioned = [[31 tháng 10]] năm [[1951]]&lt;br /&gt;
| Ship decommissioned = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| [[30 tháng 4]] năm [[1946]]&lt;br /&gt;
| [[11 tháng 12]] năm [[1957]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship in service = &lt;br /&gt;
| Ship out of service = &lt;br /&gt;
| Ship renamed = &lt;br /&gt;
| Ship reclassified = &lt;br /&gt;
| Ship struck = [[1 tháng 2]] năm [[1963]]&lt;br /&gt;
| Ship nickname = &lt;br /&gt;
| Ship honors = 8 × [[Ngôi sao Chiến trận]]&lt;br /&gt;
| Ship captured = &lt;br /&gt;
| Ship fate = Bán để tháo dỡ, [[21 tháng 10]] năm [[1963]]&lt;br /&gt;
| Ship status = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
| Ship class = [[Fletcher (lớp tàu khu trục)|Lớp tàu khu trục &amp;#039;&amp;#039;Fletcher&amp;#039;&amp;#039;]]&lt;br /&gt;
| Ship type = [[Tàu khu trục]]&lt;br /&gt;
| Ship displacement = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|2100|LT|t|abbr=on}} (tiêu chuẩn)&lt;br /&gt;
| {{convert|2924|LT|t|abbr=on}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship length = {{convert|376|ft|5|in|m|abbr=on}} (chung)&lt;br /&gt;
| Ship beam = {{convert|39|ft|08|in|m|abbr=on}} (chung)&lt;br /&gt;
| Ship draft = {{convert|13|ft|9|in|m|abbr=on}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
| Ship propulsion = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 2 × turbine hơi nước hộp số&lt;br /&gt;
| 2 × trục&lt;br /&gt;
| công suất {{convert| 60000|shp|kW|abbr=on|lk=on}}&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship speed = {{convert|36|kn|mph km/h|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship range = {{convert|6500|nmi|km|-3|abbr=on}} ở tốc độ {{convert|15|kn|mph km/h|0|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship endurance = &lt;br /&gt;
| Ship boats = &lt;br /&gt;
| Ship complement = 336 sĩ quan và thủy thủ&lt;br /&gt;
| Ship crew = &lt;br /&gt;
| Ship sensors = &lt;br /&gt;
| Ship EW = &lt;br /&gt;
| Ship armament = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 5 × pháo [[Hải pháo 5 inch/38 caliber|{{convert|5|in|mm|abbr=on}}/38 caliber]] (5×1);&lt;br /&gt;
| 2 × pháo phòng không [[Bofors 40 mm]];&lt;br /&gt;
| 6 × pháo phòng không [[Oerlikon 20 mm]];&lt;br /&gt;
| 10 × ống phóng [[ngư lôi]] [[Ngư lôi Mark 15|Mark 15]] {{convert|21|in|mm|abbr=on}} (2×5);&lt;br /&gt;
| 6 × máy phóng [[K-gun]] và 2 × đường ray thả [[mìn sâu]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship armor = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft facilities = &lt;br /&gt;
| Ship notes = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;USS &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; (DD-798)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; là một [[tàu khu trục]] [[Fletcher (lớp tàu khu trục)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Fletcher&amp;#039;&amp;#039;]] được [[Hải quân Hoa Kỳ]] chế tạo trong [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]]. Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Mỹ được đặt theo tên [[Đại úy Hải quân]] [[Mons Monssen]] (1867-1930), người được tặng thưởng [[Huân chương Danh dự]] do chiến đấu dũng cảm trên [[thiết giáp hạm]] {{USS|Missouri|BB-11}} vào năm [[1904]]. Nó đã hoạt động cho đến hết Thế Chiến II, ngừng hoạt động một thời gian ngắn, rồi tái biên chế trở lại năm [[1951]] và tiếp tục phục vụ cho đến khi xuất biên chế năm [[1957]]. Con tàu bị bán để tháo dỡ năm [[1963]]. &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng tám [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
{{main|Fletcher (lớp tàu khu trục)}}&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng [[Bethlehem Steel Company]] ở [[Staten Island]], [[New York]] vào ngày [[1 tháng 6]] năm [[1943]]. Nó được hạ thủy vào ngày [[30 tháng 10]] năm [[1943]]; được đỡ đầu bởi bà Mons Monssen, vợ góa Đại úy Monssen, và nhập biên chế vào ngày [[14 tháng 2]] năm [[1944]] dưới quyền chỉ huy của [[Trung tá Hải quân]] Bernhart A. Feutsch.&amp;lt;ref name=&amp;quot;DANFS&amp;quot;&amp;gt;{{chú thích web | url=http://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/m/monssen-ii.html | title=Monssen II (DD-798) | publisher=Naval History and Heritage Command | date=ngày 11 tháng 8 năm 2015 | accessdate=ngày 3 tháng 5 năm 2016}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
=== 1944 ===&lt;br /&gt;
Sau khi hoàn tất chạy thử máy tại vùng biển [[Bermuda]], &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; di chuyển lên phía Bắc đến [[Boston, Massachusetts]] để tham gia cùng các [[tàu tuần dương hạng nhẹ]] mới {{USS|Vincennes|CL-64|3}}, {{USS|Houston|CL-81|3}} và {{USS|Miami|CL-89|3}}, và hộ tống chúng đi sang [[San Diego, California]]. Từ đây nó hộ tống Đội tàu sân bay 26 đi [[Trân Châu Cảng]], đến nơi vào ngày [[8 tháng 5]] năm [[1944]], rồi tổng dượt cho [[Chiến dịch Mariana]] sắp diễn ra. Vào ngày [[30 tháng 5]], nó khởi hành cùng Đội đặc nhiệm 52.16 để đi [[Eniwetok]], và tiếp tục hướng đi [[Saipan]], đến nơi vào ngày [[15 tháng 6]]. Lúc sáng sớm, nó đã bắn phá chuẩn bị xuống các vị trí của [[Đế quốc Nhật Bản|Nhật Bản]] tại bãi Green 1, rồi tiếp tục hỗ trợ hỏa lực cho [[Trận Saipan|cuộc đổ bộ]] lên [[Saipan]], kéo dài hầu như liên tục cho đến giữa trưa ngày [[17 tháng 6]]. Các hoạt động do nó thực hiện bao gồm việc giúp đánh bại một đợt phản công lớn của [[xe tăng]] và bộ binh đối phương về phía Nam [[Garapan]] vào sáng sớm ngày [[16 tháng 6]].&amp;lt;ref name=&amp;quot;DANFS&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
[[Tập tin:USS Monssen (DD-798) off Staten Island in February 1944.jpg|thumb|left|&amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; ngoài khơi Staten Island, tháng 2 năm 1944.]]&lt;br /&gt;
Cuối ngày [[17 tháng 6]], &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; rời Saipan để gặp gỡ Lực lượng Đặc nhiệm 58, lực lượng [[tàu sân bay]] nhanh trực thuộc [[Đệ Ngũ hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Ngũ hạm đội]] về phía Tây [[Guam]], như lực lượng tăng cường nhằm đối phó với [[Hạm đội Liên hợp Nhật Bản]] đang xuất phát từ [[Philippines]] để phản công. Trong [[Trận chiến biển Philippine]] diễn ra sau đó, chiếc tàu khu trục được phối thuộc cùng Đội đặc nhiệm 58.7 bao gồm các [[thiết giáp hạm]] nhanh, và được bố trí trong vai trò cột mốc [[radar]] canh phòng nhằm cảnh báo sớm các đợt không kích của đối phương. Đụng độ bắt đầu diễn ra vào sảng ngày [[19 tháng 6]], khi lực lượng chịu đựng không kích liên tục bởi máy bay xuất phát từ các tàu sân bay Nhật; &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; đã bắn rơi hai [[máy bay ném bom bổ nhào]] [[Yokosuka D4Y]] &amp;quot;Judy&amp;quot; và gây hư hại cho một chiếc thứ ba.&amp;lt;ref name=&amp;quot;DANFS&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sang ngày [[20 tháng 6]], Đệ Ngũ hạm đội phản công khi tung ra cuộc không kích nhắm vào hạm đội đối phương ở tầm xa tối đa của bán kính hoạt động những máy bay của họ. Khi lực lượng tấn công quay trở về tàu lúc chiều tối và gặp khó khăn khi hạ cánh, &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; cùng các tàu chiến khác đã bật hết mọi đèn pha để dẫn đường bất chấp nguy cơ bị tàu ngầm đối phương phát hiện, rồi tiếp tục truy kích hạm đội đối phương cho đến khi quay trở lại Saipan vào chiều tối ngày [[21 tháng 6]]. Chiếc tàu khu trục quay trở lại nhiệm vụ bảo vệ các tàu đổ bộ, tuần tra, canh phòng radar và bắn pháo hỗ trợ cho lực lượng trên bộ, cho đến ngày [[2 tháng 7]] khi nó quay trở về Eniwetok để nghỉ ngơi và tiếp liệu một thời gian ngắn. Quay trở lại Saipan vào ngày [[12 tháng 7]], nó tiếp tục làm nhiệm vụ bảo vệ cho đến ngày [[23 tháng 7]], khi nó tham gia cùng các tàu chiến khác để bắn phá [[Tinian]].&amp;lt;ref name=&amp;quot;DANFS&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào ngày [[24 tháng 7]], &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; hộ tống các tàu vận tải khi chúng tiến hành [[Trận Tinian|đổ bộ]] lên Tinian, rồi làm nhiệm vụ bắn pháo hỗ trợ cho binh lính tại bãi đổ độ, và tiếp tục hỗ trợ cuộc chiến tại đây cho đến ngày [[31 tháng 7]]. Nó ở lại khu vực Tinian cho đến ngày [[6 tháng 8]], rồi tiến hành tuần tra chống tàu ngầm về phía Bắc Saipan trước khi quay trở về Eniwetok. Từ đây, nó lên đường cùng Đội đặc nhiệm 32.41 để đi [[Guadalcanal]], nơi thực hành tổng dượt nhằm chuẩn bị cho [[Chiến dịch quần đảo Palau]] sắp diễn ra. Vào ngày [[8 tháng 9]], nó được phân công hộ tống và hỗ trợ hỏa lực cho Đội đặc nhiệm 32.4, và khởi hành hướng sang phía Tây. Trong các ngày [[15 tháng 7|15]] và [[16 tháng 7]], nó túc trực ngoài khơi [[Peleliu]] để hỗ trợ cho [[Trận Peleliu|cuộc đổ bộ]] tại đây, rồi chuyển sang [[Trận Angaur|Angaur]] vào ngày [[17 tháng 7]] và bảo vệ cho các tàu vận chuyển cho đến ngày [[23 tháng 7]]. Sang ngày [[24 tháng 7]], chiếc tàu khu trục lên đường đi [[đảo Manus|Manus]] thuộc [[quần đảo Admiralty]], và lại khởi hành vào ngày [[11 tháng 10]] để tham gia [[trận Leyte|cuộc đổ bộ]] lên [[vịnh Leyte]], Philippines.&amp;lt;ref name=&amp;quot;DANFS&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; đã hộ tống cho Đội đặc nhiệm 79.11 bao gồm các [[tàu đổ bộ]] cho hành trình đi đến vịnh Leyte, đi đến bãi đổ bộ tại [[Dulag, Leyte|Dulag]] vào ngày [[20 tháng 10]], rồi cùng Hải đội Khu trục 54 tuần tra canh phòng dọc theo [[eo biển Surigao]]. Cho đến ngày [[24 tháng 10]], hải đội chỉ đối đầu với những đợt không kích lẻ tẻ; nhưng đến sáng sớm ngày [[25 tháng 10]], một lực lượng hạm tàu nổi đối phương được báo cáo đang tìm cách đột phá vào khu vực vận chuyển ở vịnh Leyte xuyên qua eo biển Surigao. Tuy nhiên, [[Đệ Thất hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Thất hạm đội]] đã chờ đợi sẵn.&amp;lt;ref name=&amp;quot;DANFS&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong đêm trước đó, [[Chuẩn đô đốc]] [[Jesse B. Oldendorf]] đã bố trí lực lượng của mình cho trận chiến được xem là cuộc đối đầu của [[hàng chiến trận]] cuối cùng trong lịch sử. Đại tá Hải quân [[Jesse B. Coward]], tư lệnh Hải đội Khu trục 54, phân chia lực lượng dưới quyền thành các đội phía Tây và phía Đông để tấn công bằng [[ngư lôi]] vào đội hình Nhật Bản đang đi dọc eo biển lên hướng Bắc. &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; được phân vào đội phía Tây cùng {{USS|McDermut|DD-677|2}} và được bố trí gần bờ biển [[Leyte (đảo)|đảo Leyte]]. Ngay sau nữa đêm, Lực lượng phía Nam Nhật Bản được phát hiện tiến vào eo biển; khoảng 03 giờ 00, đội phía Đông tấn công, phóng 27 quả ngư lôi trong vòng hai phút. Đến 03 giờ 10 phút, &amp;#039;&amp;#039;McDermut&amp;#039;&amp;#039; và &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; dưới quyền chỉ huy của Trung tá Hải quân Charles Kniese Bergin, cũng bắt đầu tấn công. Lúc 03 giờ 20 phút, các vụ nổ xảy ra, một trong những quả ngư lôi của &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; đã đánh trúng [[thiết giáp hạm]] [[Yamashiro (thiết giáp hạm Nhật)|&amp;#039;&amp;#039;Yamashiro&amp;#039;&amp;#039;]], nhưng không ngăn được nó tiếp tục di chuyển. Sau khi phóng hết ngư lôi, &amp;#039;&amp;#039;McDermut&amp;#039;&amp;#039; và &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; rút lui lên phía Bắc bám dọc theo bờ biển Leyte để tránh hỏa lực hải pháo từ các hải đội khu trục 24 và 56, cũng như của các thiết giáp hạm và tàu tuần dương trong hàng chiến trận Hoa Kỳ.&amp;lt;ref name=&amp;quot;DANFS&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến bình minh, &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; tiếp nối hoạt động tuần tra, và sang ngày hôm sau đã lên đường đi [[Jayapura|Hollandia]], [[New Guinea]] nơi nó hộ tống một đoàn tàu vận tải tăng viện đi đến Leyte trong [[tháng 11]]. Đến ngày [[9 tháng 12]], nó khởi hành đi [[Bougainville]], đến nơi ba ngày sau đó để hộ tống Đội đặc nhiệm 79.1 bao gồm các tàu vận chuyển đi New Guinea, nơi tiến hành tổng dượt cho [[Trận Luzon|cuộc tấn công]] lên [[Luzon]], Philippines. Vào ngày [[21 tháng 12]], nó có mặt tại Manus, nơi nó gặp gỡ Đơn vị Đặc nhiệm 77.9.12, bao gồm các tàu đổ bộ lực lượng tăng viện, vào ngày [[30 tháng 12]] để đi đến phía Bắc Philippines.&amp;lt;ref name=&amp;quot;DANFS&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1945 ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; đi đến [[vịnh Lingayen]] vào ngày [[11 tháng 1]], [[1945]], hai ngày sau khi diễn ra cuộc đổ bộ chính. Sang ngày hôm sau, ba máy bay tấn công tự sát [[Kamikaze]] đã tiếp cận khu vực vận chuyển. Chiếc tàu khu trục đã nổ súng bắn cháy hai chiếc, và trợ giúp vào việc bắn nổ tung một chiếc khi chỉ cách một tàu buôn {{convert|100|ft|m|abbr=on}}. Chiếc thứ hai đâm trúng [[tàu vận chuyển cao tốc]] {{USS|Belknap|APD-34|2}}.&amp;lt;ref name=&amp;quot;DANFS&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sang ngày [[13 tháng 1]], &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; rời Luzon hộ tống các tàu vận tải rỗng đi Leyte, rồi tiếp tục đi [[Ulithi]] nơi nó gia nhập Đội đặc nhiệm 58.5, đội tàu sân bay hoạt động đêm. Lực lượng lên đường vào ngày [[10 tháng 2]] hướng đến các đảo chính quốc Nhật Bản. Trong các ngày [[16 tháng 2|16]] và [[17 tháng 2]], lực lượng đã không kích khu vực phụ cận [[Tokyo]] nhằm ngăn chặn lực lượng dự bị được tăng cường sang mục tiêu chính: các quần đảo [[quần đảo Ogasawara|Bonin]] và [[quần đảo Kazan|Volcano]]. Đến ngày [[19 tháng 2]], lực lượng có mặt tại [[Iwo Jima]], hỗ trợ cho [[Trận Iwo Jima|cuộc đổ bộ]] tại đây. &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; tiếp tục ở lại khu vực quần đảo Volcano bảo vệ các tàu sân bay và bắn hải pháo hỗ trợ cho lực lượng trên bộ, cho đến ngày [[9 tháng 3]] khi nó quay trở về Ulithi. Vào ngày [[14 tháng 3]], nó lại lên đường cùng Lực lượng Đặc nhiệm 58 để không kích các đảo chính quốc Nhật Bản. Các tàu sân bay tung ra cuộc tấn công vào ngày [[18 tháng 3]] xuống [[Kyūshū]], và xuống [[Căn cứ Hải quân Kure]] vào ngày hôm sau; sau đó &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; hộ tống cho tàu sân bay {{USS|Franklin|CV-13|2}} bị hư hại rút lui về tuyến sau.&amp;lt;ref name=&amp;quot;DANFS&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; quay trở lại đội hình lực lượng đặc nhiệm vào ngày [[23 tháng 3]] cho các cuộc không kích tiếp theo lên chính quốc Nhật Bản, tiếp nối bằng đợt càn quét [[quần đảo Ryūkyū]]. Trong bảy tuần lễ tiếp theo, nó phục vụ trong vai trò trạm cột mốc [[radar]] canh phòng và tàu canh phòng máy bay khi các phi vụ không kích được tiến hành trong [[Trận Okinawa|Chiến dịch Okinawa]]. Một tuần sau khi cuộc đổ bộ mở màn, nó tiến lên phía Bắc nhằm ngăn chặn một lực lượng tàu nổi đối phương từ chính quốc đang tiến xuống phía Nam; tuy nhiên máy bay từ tàu sân bay đã đánh chìm siêu thiết giáp hạm [[Yamato (thiết giáp hạm Nhật)|&amp;#039;&amp;#039;Yamato&amp;#039;&amp;#039;]]. Đến ngày [[11 tháng 5]], chiếc tàu khu trục rút lui về Ulithi để tiếp liệu, rồi quay trở lại ngoài khơi [[Okinawa]] vào ngày [[28 tháng 5]]. Sau một tuần lễ làm nhiệm vụ cột mốc radar, nó đi lên phía Bắc để càn quét Kyūshū trong các ngày [[2 tháng 6|2]] và [[3 tháng 6]] trước khi quay trở lại Okinawa. Nó còn tham gia đợt không kích tiếp theo lên Kyūshū vào ngày [[8 tháng 6]], cũng như những vị trí đối phương ở phía Bắc Ryūkyū.&amp;lt;ref name=&amp;quot;DANFS&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ ngày [[13 tháng 6|13]] đến ngày [[30 tháng 6]], &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; được bảo trì và tiếp liệu tại Leyte trước khi lên đường vào ngày [[1 tháng 7]] cho những nhiệm vụ sau cùng trong chiến tranh cùng Lực lượng Đặc nhiệm 38. Vào ngày [[10 tháng 7]], máy bay từ tàu sân bay đã không kích khu vực Tokyo, rồi từ ngày [[13 tháng 7|13]] đến ngày [[15 tháng 7]], xuống [[Hokkaidō]] và phía Bắc đảo [[Honshū]] trong khi các thiết giáp hạm của lực lượng đặc nhiệm bắn phá [[Muroran, Hokkaidō|Muroran]], một trung tâm sản xuất thép quan trọng. Từ ngày [[17 tháng 7|17]] đến ngày [[19 tháng 7]], Tokyo lại là mục tiêu của các tàu sân bay, trong khi các hạm tàu nổi trong đó có &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039;, bắn phá nhà máy [[Hitachi Armament Works]] cách {{convert|70|mi|km|abbr=on}} về phía Bắc. Trong các ngày [[25 tháng 7|25]] và [[28 tháng 7]], lực lượng không kích khu vực [[biển Nội địa]] Nhật Bản.&amp;lt;ref name=&amp;quot;DANFS&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi được tiếp liệu ngay trên biển, Lực lượng Đặc nhiệm 38 quay trở lại khu vực Tokyo vào ngày [[9 tháng 8]], nhưng đến ngày [[10 tháng 8]], &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; cùng các tàu chiến thuộc Hải đội Khu trục 54 được cho tách ra và quay trở về vùng bờ Tây để đại tu. Hướng lên phía Bắc, hải đội gia nhập cùng Lực lượng Đặc nhiệm 92 trong hoạt động càn quét tàu bè đối phương tại phía Bắc [[quần đảo Kuril]] và bắn phá [[Paramushiro]] vào ngày [[11 tháng 8]], rồi tiếp tục hành trình đi [[Adak, Alaska]]. Tại Adak vào ngày [[14 tháng 8]], nó nhận được tin tức về việc [[Nhật Bản đầu hàng]], và được lệnh quay trở lại Nhật Bản cùng Lực lượng Đậc nhiệm 92 cho nhiệm vụ chiếm đóng khu vực Căn cứ Hải quân [[Ominato]]. Một tháng sau đó, con tàu được lệnh quay trở về Hoa Kỳ, về đến Trân Châu Cảng vào ngày [[24 tháng 9]], và tiếp tục hành trình đi [[San Francisco]] ngay ngày hôm sau. Nó chuyển đến [[San Diego]] ngay sau đó, nơi nó gia nhập Hạm đội Dự bị Thái Bình Dương, và được cho xuất biên chế vào ngày [[30 tháng 4]], [[1946]].&amp;lt;ref name=&amp;quot;DANFS&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== 1951 – 1963 ==&lt;br /&gt;
Sau khi [[Chiến tranh Triều Tiên]] bùng nổ, &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; được cho nhập biên chế trở lại vào ngày [[31 tháng 10]], [[1951]], và sang [[tháng 3]], [[1952]] đã gia nhập [[Hạm đội Đại Tây Dương Hoa Kỳ|Hạm đội Đại Tây Dương]]. Nó đặt cảng nhà mới tại [[Newport, Rhode Island]] trong thành phần Hải đội Khu trục 34, và tăng cường sức mạnh cho [[Đệ nhị Hạm đội Hoa Kỳ|Đệ nhị Hạm đội]] khi đơn vị này gửi tàu chiến sang Viễn Đông hỗ trợ cho lực lượng [[Liên Hợp Quốc]] tại [[Triều Tiên]].&amp;lt;ref name=&amp;quot;DANFS&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến ngày [[3 tháng 5]], [[1954]], bản thân &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; được phái sang tăng cường cho [[Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ|Đệ thất Hạm đội]]. Lên đường băng qua [[kênh đào Panama]], nó đi đến khu vực Tây Thái Bình Dương vào ngày [[7 tháng 6]], và trong bốn tháng tiếp theo đã tuần tra ngoài khơi [[bán đảo Triều Tiên]] và [[eo biển Đài Loan]], đồng thời tập trận tại vùng biển Nhật Bản và [[Okinawa]]. Con tàu rời Nhật Bản vào ngày [[5 tháng 10]], quay trở về nhà qua ngã [[Ấn Độ Dương]], [[kênh đào Suez]] và [[Địa Trung Hải]], về đến Newport vào cuối [[tháng 12]], hoàn tất một chuyến đi vòng quanh thế giới.&amp;lt;ref name=&amp;quot;DANFS&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong ba năm tiếp theo, &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; hoạt động dọc theo vùng bờ Đông và vùng [[biển Caribe]], và trong năm [[1956]] đã được phái sang hoạt động cùng [[Đệ lục Hạm đội Hoa Kỳ|Đệ lục Hạm đội]] tại Địa Trung Hải. Con tàu lại được cho xuất biên chế lần sau cùng vào ngày [[3 tháng 12]], [[1957]], neo đậu cùng Hạm đội Dự bị Đại Tây Dương tại [[Boston, Massachusetts|Boston]], [[Massachusetts]]. Đến năm [[1962]], nó được chuyển sang Đội dự bị Philadelphia. Đang khi được kéo đến [[Philadelphia, Pennsylvania|Philadelphia]], [[Pennsylvania]] vào ngày [[6 tháng 3]], [[1962]], thời tiết xấu, sóng cao và gió mạnh khiến dây cáp kéo bị đứt, và con tàu bị mắc cạn tại [[Beach Haven Inlet]], [[New Jersey]]. Phải mất đến sáu tuần trước khi con tàu được kéo khỏi chỗ mắc cạn. Được xem là không còn cần thiết, &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; bị bán cho hãng Union Minerals &amp;amp; Alloys Corp. tại [[New York, New York]] vào ngày [[21 tháng 10]], [[1963]] để tháo dỡ.&amp;lt;ref name=&amp;quot;DANFS&amp;quot;/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Phần thưởng ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng tám [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
{{Tham khảo}}&lt;br /&gt;
{{Refbegin}}&lt;br /&gt;
* Bài này có các trích dẫn từ nguồn [[:en:Dictionary of American Naval Fighting Ships]] thuộc [[phạm vi công cộng]]: http://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/m/monssen-ii.html&lt;br /&gt;
* Bài này có các trích dẫn từ nguồn [[:en:Naval Vessel Register]] thuộc [[phạm vi công cộng]]: www.nvr.navy.mil/SHIPDETAILS/SHIPSDETAIL_DD_798.HTML&lt;br /&gt;
{{Refend}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
* [http://www.navsource.org/archives/05/798.htm navsource.org: USS &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039;] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20161130052450/http://www.navsource.org/archives/05/798.htm |date=2016-11-30 }}&lt;br /&gt;
* [http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd798txt.htm hazegray.org: USS &amp;#039;&amp;#039;Monssen&amp;#039;&amp;#039;] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20060927092932/http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd798txt.htm |date=2006-09-27 }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;!-- non-breaking space to keep AWB drones from altering the space before the navbox--&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu khu trục Fletcher}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Mỹ}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Monssen (DD-798)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu khu trục Fletcher]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Chiến tranh Lạnh]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu thủy năm 1943]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;InternetArchiveBot</name></author>
	</entry>
</feed>