<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Natoma_Bay_%28CVE-62%29</id>
	<title>USS Natoma Bay (CVE-62) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Natoma_Bay_%28CVE-62%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Natoma_Bay_(CVE-62)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-11T12:00:56Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Natoma_Bay_(CVE-62)&amp;diff=6552878&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;SongVĩ.Bot: Sửa bản mẫu có danh sách bị lỗi và làm đẹp bản mẫu</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Natoma_Bay_(CVE-62)&amp;diff=6552878&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2021-11-18T07:16:55Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Sửa bản mẫu có danh sách bị lỗi và làm đẹp bản mẫu&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image= [[Tập tin: USS Natoma Bay (CVE-62) underway in the Pacific Ocean, circa 1944.jpg|300px|Natoma Bay CVE-62]]&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu sân bay hộ tống USS &amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; (CVE-62)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
|Ship country= Hoa Kỳ &lt;br /&gt;
|Ship flag= {{USN flag|1943}}&lt;br /&gt;
|Ship name= USS &amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; (CVE-62)&lt;br /&gt;
|Ship namesake= vịnh Natoma, [[đảo Graham]], [[Alaska]]&lt;br /&gt;
|Ship ordered=&lt;br /&gt;
|Ship awarded=&lt;br /&gt;
|Ship builder= [[Kaiser Shipyards]], [[Vancouver, Washington]]&lt;br /&gt;
|Ship original cost=&lt;br /&gt;
|Ship laid down= [[17 tháng 1]] năm [[1943]]&lt;br /&gt;
|Ship launched= [[20 tháng 7]] năm [[1943]]&lt;br /&gt;
|Ship sponsor= Lady Halifax&lt;br /&gt;
|Ship completed=&lt;br /&gt;
|Ship acquired=&lt;br /&gt;
|Ship commissioned= [[14 tháng 10]] năm [[1943]]&lt;br /&gt;
|Ship recommissioned=&lt;br /&gt;
|Ship decommissioned= [[20 tháng 5]] năm [[1946]]&lt;br /&gt;
|Ship in service=&lt;br /&gt;
|Ship out of service=&lt;br /&gt;
|Ship renamed=&lt;br /&gt;
|Ship reclassified= CVU–62, [[12 tháng 6]] năm [[1955]]&lt;br /&gt;
|Ship struck= [[1 tháng 9]] năm [[1958]]&lt;br /&gt;
|Ship nickname=&lt;br /&gt;
|Ship honors= 7 × [[Ngôi sao Chiến trận]]&lt;br /&gt;
|Ship captured=&lt;br /&gt;
|Ship fate= Bán để tháo dỡ, [[30 tháng 7]] năm [[1959]]&lt;br /&gt;
|Ship status=&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
| Ship class = [[Casablanca (lớp tàu sân bay hộ tống)|Lớp tàu sân bay hộ tống &amp;#039;&amp;#039;Casablanca&amp;#039;&amp;#039;]]&lt;br /&gt;
| Ship displacement = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|7800|LT|MT}} (tiêu chuẩn)&lt;br /&gt;
| {{convert|10902|LT|MT}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship length = {{convert|512|ft|4|in|m|abbr=on}} (chung)&lt;br /&gt;
| Ship beam = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|65|ft|3|in|m|abbr=on}} (mực nước)&lt;br /&gt;
| {{convert|108|ft|1|in|m|abbr=on}} (chung)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship draft = {{convert|22|ft|6|in|m|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship propulsion = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 2 × [[động cơ hơi nước]] Skinner Uniflow, năm buồng bành trướng đặt dọc;&lt;br /&gt;
| 4 × nồi hơi, áp lực {{convert|285|psi|abbr=on}};&lt;br /&gt;
| 2 × trục;&lt;br /&gt;
| công suất {{convert|9000|shp|kW|abbr=on|lk=on}}&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship speed = {{convert|20|kn|lk=on}}&lt;br /&gt;
| Ship range = {{convert|10240|nmi|lk=on|-1|abbr=on}} ở tốc độ {{convert|15|kn}}&lt;br /&gt;
| Ship endurance = &lt;br /&gt;
| Ship boats = &lt;br /&gt;
| Ship complement = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 860 sĩ quan và thủy thủ,&lt;br /&gt;
| đội bay 56 sĩ quan và thủy thủ&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship crew = &lt;br /&gt;
| Ship sensors = &lt;br /&gt;
| Ship EW = &lt;br /&gt;
| Ship armament = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 1 × pháo [[Hải pháo 5 inch/38 caliber|{{convert|5|in|mm|abbr=on}}/38 caliber]];&lt;br /&gt;
| 16 × pháo phòng không [[Bofors 40 mm]] (8×2);&lt;br /&gt;
| 20 × pháo phòng không [[Oerlikon 20 mm]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship armor = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft = 28 máy bay&lt;br /&gt;
| Ship aircraft facilities = &lt;br /&gt;
| Ship notes = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;USS &amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; (CVE–62)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; là một [[tàu sân bay hộ tống]] [[Casablanca (lớp tàu sân bay hộ tống)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Casablanca&amp;#039;&amp;#039;]] được [[Hải quân Hoa Kỳ]] chế tạo trong [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]]; tên nó được đặt theo vịnh Natoma tại [[đảo Graham]] ngoài khơi bờ biển Tây Nam [[Alaska]]. &amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; đã hoạt động cho đến hết Thế Chiến II, xuất biên chế năm [[1946]], rút đăng bạ năm [[1958]] và bị bán để tháo dỡ năm [[1959]]. Nó được tặng thưởng bảy [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
{{main|Casablanca (lớp tàu sân bay hộ tống)}}&lt;br /&gt;
Con tàu được đặt lườn như là chiếc &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Begum&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; tại Xưởng tàu Vancouver của hãng [[Kaiser Shipyards|Kaiser Company, Inc.]] ở [[Vancouver, Washington]] vào ngày [[17 tháng 1]] năm [[1943]]. Nó được đổi tên thành &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; vào ngày [[22 tháng 1]] năm [[1943]] trước khi được hạ thủy vào ngày [[20 tháng 7]] năm [[1943]]; được đỡ đầu bởi Lady Halifax, phu nhân Đại sứ [[Anh Quốc]] tại Hoa Kỳ. Nó nhập biên chế vào ngày [[14 tháng 10]] năm [[1943]] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, [[Đại tá Hải quân]] Harold L. Meadow.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
=== 1943 – 1944 ===&lt;br /&gt;
Sau chuyến đi chạy thử máy ngoài khơi bờ biển [[California]], dưới quyền Bộ chỉ huy Không lực Hạm đội Bờ Tây, &amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; thực hiện vận chuyển nhân sự và máy bay giữa [[San Diego]] và [[quần đảo Hawaii]] cho đến ngày [[3 tháng 1]] năm [[1944]]. Sau đó, với Liên đội không lực VC-63 trên tàu, nó rời San Diego để đi [[Trân Châu Cảng]], và gia nhập Đội tàu sân bay 24 thuộc Lực lượng Đổ bộ 5 vào ngày [[10 tháng 1]]. Vào ngày [[23 tháng 1]], nó khởi hành cùng Đội đặc nhiệm 51.2 cho cuộc tấn công lên [[quần đảo Marshall]]. Trong khi diễn ra cuộc chiến nhằm kiểm soát [[đảo san hô Majuro|Majuro]] từ ngày [[31 tháng 1]] đến ngày [[7 tháng 2]], nó tuần tra [[chiến tranh phòng không|phòng không]] và [[chiến tranh chống tàu ngầm|chống tàu ngầm]] cũng như tuần tra chiến đấu trên không. Từ ngày [[8 tháng 2]], nó mở rộng hoạt động sang khu vực [[Wotje]] và [[Maloelap]], luân phiên giữa các đảo này và Majuro.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khởi hành từ Majuro vào ngày [[7 tháng 3]], &amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; đi đến [[Espiritu Santo]] vào ngày [[12 tháng 3]], nơi nó gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 37 ba ngày sau đó cho cuộc không kích và bắn phá mặt biển xuống [[Kavieng]], [[New Ireland (đảo)|New Ireland]] vào các ngày [[19 tháng 3|19]] và [[20 tháng 3]]. Sau đó nó đi lên phía Bắc [[quần đảo Solomon]] và New Ireland, hỗ trợ trên không cho các đoàn tàu vận tải đến và đi từ [[Emirau]], nơi một sân bay và một căn cứ hải quân nhỏ được xây dựng. Trong ba tuần lễ tiếp theo, nó đi lại giữa khu vực Solomon và [[quần đảo Bismarck]] hỗ trợ cho cuộc tấn công vô hiệu hóa quần đảo và pháo đài chủ lực của Nhật Bản tại [[Rabaul]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào ngày [[19 tháng 4]], &amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; gặp gỡ Lực lượng Đặc nhiệm 78, rồi di chuyển về hướng [[Papua New Guinea|New Guinea]] nơi máy bay của nó không kích các vị trí đối phương hỗ trợ cho ba mũi gọng kìm tấn công của lục quân và hải quân Hoa Kỳ dọc theo bờ biển New Guinea tại [[Aitape]], [[Jayapura|Hollandia]] (nay là Jayapura) và [[vịnh Tanahmerah]] vào ngày [[22 tháng 4]]. Đang khi và sau cuộc đổ bộ, nó tung ra các phi vụ tuần tra bảo vệ, cũng như gửi các máy bay ném bom và chiến đấu tấn công phá hủy các căn cứ của quân Nhật tại khu vực Aitape. Nó quay trở về [[đảo Manus]] vào ngày [[28 tháng 4]] để sửa chữa động cơ, rồi lên đường đi Trân Châu Cảng vào ngày [[7 tháng 5]], đến nơi vào ngày [[18 tháng 5]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi chất lên tàu 37 [[máy bay tiêm kích]] [[Republic P-47 Thunderbolt]] thuộc Phi đội Tiêm kích 19, Liên đội Tiêm kích 318 [[Không lực Lục quân Hoa Kỳ]], &amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; lên đường vào ngày [[5 tháng 6]] để đi sang [[quần đảo Mariana]] ngang qua Eniwetok, và đi đến đảo [[Saipan]] vào ngày [[19 tháng 6]]. Nó được lệnh rút lui về phía Đông Saipan trong khi tàu chiến và máy bay thuộc Lực lượng Đặc nhiệm 58 đánh trả [[Hạm đội Liên hợp Nhật Bản]] trong [[Trận chiến biển Philippine]], gây thiệt hại nặng cho đối phương và hầu như vô hiệu hóa không lực tàu sân bay của Nhật Bản. Đến ngày [[22 tháng 6]], nó đi về phía Tây và phóng các máy bay Lục quân đến điểm đến của chúng, sân bay Aslito trên đảo Saipan. Nó chuyển 25 máy bay vào ngày [[22 tháng 6]] và số còn lại vào sáng sớm ngày [[23 tháng 6]], trước khi rút lui về địa điểm tiếp nhiên liệu cách {{convert|45|nmi|km|abbr=on}} về phía Đông Saipan.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tại đây đội đặc nhiệm bị đối phương không kích; bốn [[máy bay ném bom bổ nhào]] [[Aichi D3A]] &amp;quot;Val&amp;quot; đã xông đến để tấn công nhưng không ghi được quả nào trúng đích. Hỏa lực phòng không dày đặc đã giúp bảo vệ cho những mục tiêu chính của chúng, các tàu sân bay &amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; và &amp;#039;&amp;#039;Manila Bay&amp;#039;&amp;#039;, vô hại. &amp;#039;&amp;#039;Manila Bay&amp;#039;&amp;#039; thậm chí còn tung bốn trong số những chiếc P-47 Thunderbolt Lục quân nó mang theo để hoạt động [[tuần tra chiến đấu trên không]], cho đến khi màn hình radar sạch bóng máy bay đối phương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; quay trở về Eniwetok vào ngày [[27 tháng 6]], đón thương binh lên tàu rồi lên đường đi San Diego, đến nơi vào ngày [[16 tháng 7]] để được bảo trì và tiếp liệu trước khi tiếp tục nhiệm vụ vận chuyển. Từ ngày [[5 tháng 9|5]] đến ngày [[14 tháng 9]], nó hoạt động thực tập huấn luyện và chuẩn nhận phi công tàu sân bay cho Liên đội Hỗn hợp VC-81 ngoài khơi Trân Châu Cảng, rồi đến ngày [[15 tháng 9]] đã lên đường đi Manus trong thành phần [[Đệ Tam hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Tam hạm đội]]. Vào ngày [[3 tháng 10]], nó đi đến [[cảng Seeadler]], bắt đầu những chuẩn bị cuối cùng cho chiến dịch nhằm tái chiếm [[Philippines]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Được phân về Đội đặc nhiệm tàu sân bay hộ tống 77.4, &amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; rời [[quần đảo Admiralty]] vào ngày [[12 tháng 10]] để đi đến vùng biển phía Đông Philippines. Sau khi chịu đựng thời tiết giông bão từ ngày [[14 tháng 10|14]] đến ngày [[17 tháng 10]], lực lượng bắt đầu các hoạt động không kích từ ngày [[18 tháng 10]]. Trước cuộc đổ bộ, máy bay của nó đã ném bom các vị trí đối phương và bắn phá xe cộ tàu bè đối phương chung quanh [[Leyte (đảo)|Leyte]] và [[đảo Negros]]. Trong cuộc tấn công đổ bộ diễn ra vào ngày [[20 tháng 10]], con tàu tung ra máy bay ném bom và máy bay chiến đấu cho các phi vụ hỗ trợ, trinh sát và bảo vệ trên không; rồi trong những ngày tiếp theo đã tiếp tục hỗ trợ cho lực lượng trên bờ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào ngày [[25 tháng 10]], trong khi &amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; trong vai trò [[soái hạm]] của Đơn vị Đặc nhiệm 77.4.2 (&amp;quot;Taffy 2&amp;quot;) dưới quyền chỉ huy của [[Chuẩn đô đốc]] [[Felix Stump]] đang di chuyển ngoài khơi lối ra vào phía Đông của [[vịnh Leyte]], [[Hạm đội Liên hợp Nhật Bản]] đã tung ra ba gọng kìm tấn công nhằm tìm các đẩy lui cuộc đổ bộ của lực lượng Đồng Minh. Trong số các mũi tấn công này, Lực lượng phía Nam Nhật Bản dưới quyền [[Phó đô đốc]] [[Shōji Nishimura]] nhanh chóng bị đánh bại bởi các thiết giáp hạm, tàu tuần dương và tàu khu trục thuộc Đội đặc nhiệm 77.2 dưới quyền Chuẩn đô đốc [[Jesse B. Oldendorf]] trong [[Trận chiến eo biển Surigao]] vào những giờ đầu tiên của ngày [[25 tháng 10]]. Những tàu Nhật Bản sống sót rút lui qua [[biển Mindanao]] bị các tàu khu trục và xuồng phóng lôi [[PT-boat]] truy đuổi, và sang buổi sáng bởi các máy bay ném bay bom và máy bay tiêm kích từ tàu sân bay.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến 06 giờ 58 phút sáng, Đơn vị Đặc nhiệm 77.4.3 (&amp;quot;Taffy 3&amp;quot;) bao gồm sáu tàu sân bay hộ tống, ba tàu khu trục và bốn tàu khu trục hộ tống dưới quyền Chuẩn đô đốc [[Clifton Sprague]], đang di chuyển ngoài khơi [[Samar (đảo)|Samar]], khi họ bị tấn công bởi Lực lượng Trung tâm Nhật Bản hùng mạnh do Phó đô đốc [[Takeo Kurita]] chỉ huy. Tình thế hầu như tuyệt vọng cho phía Hoa Kỳ, khi đối phương có ưu thế áp đảo với bốn thiết giáp hạm, sáu tàu tuần dương hạng nặng, hai tàu tuần dương hạng nhẹ và 11 tàu khu trục; Sprague kêu gọi mọi sự trợ giúp có thể từ các đơn vị bạn. Vào lúc đó, Lực lượng Đặc nhiệm 38 chủ lực của [[Đô đốc]] [[William Halsey, Jr.]] đã bị thu hút lên phía Bắc bởi sự xuất hiện của Lực lượng phía Bắc Nhật Bản do Phó đô đốc [[Jisaburō Ozawa]] chỉ huy, mà thực ra chỉ là một mồi nhữ nghi binh bao gồm những tàu sân bay còn lại rất ít máy bay; những tàu chiến của Oldendorf đang được tiếp liệu và bổ sung đạn dược sau Trận chiến eo biển Surigao. Chỉ nhờ sự tấn công quên mình của một nhóm nhỏ các tàu khu trục và tàu khu trục hộ tống bảo vệ, cùng sự tấn công bắn phá và ném bom, ngư lôi từ máy bay cất cánh từ &amp;quot;Taffy 2&amp;quot; và &amp;quot;Taffy 3&amp;quot;, họ mới đẩy lui được lực lượng hùng mạnh của đối phương trong [[Trận chiến ngoài khơi Samar]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy lúc 07 giờ 08 phút, &amp;quot;Taffy 2&amp;quot;, đang ở cách &amp;quot;Taffy 3&amp;quot; {{convert|20|nmi|km|abbr=on}} về phía Nam, đã tung ra mọi máy bay sẵn có để trợ giúp đồng đội; mọi phi vụ đang thực hiện đều bị hủy bỏ. Chỉ thị tác chiến đưa ra là không tập trung vào một mục tiêu cụ thể nào, nhưng phải gây hư hại cho thật nhiều tàu đối phương. Máy bay của &amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; đã tung ra hai đợt tấn công trong vòng một giờ rưỡi; rồi đến 09 giờ 26 phút, đợt không kích thứ ba với máy bay mang bom 500-pound và ngư lôi. Đến 11 giờ 18 phút, đợt tấn công thứ tư nhắm vào hạm đội đối phương đang rút lui, nhưng do đã hết bom xuyên thép và ngư lôi, những máy bay cất cánh chỉ mang theo bom thông thường và [[mìn sâu]]. Lúc 12 giờ 56 phút rồi lúc 15 giờ 08 phút, các đợt không kích thứ năm và thứ sáu được tiến hành, tiếp tục truy kích đối phương khi chúng rút lui qua [[eo biển San Bernardino]]. Máy bay tiêm kích mang bom thông thường {{convert|250|lb|kg|abbr=on}} nằm trong số những chiếc được phái đi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Máy bay của &amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; đã đóng góp cho việc đánh chìm một tàu tuần dương hạng nặng đối phương, bắn rơi một máy bay ném bom-ngư lôi, đồng thời đánh trúng một thiết giáp hạm, ba tàu tuần dương hạng nặng, hai tàu tuần dương hạng nhẹ và một tàu khu trục. Sang sáng hôm sau, [[26 tháng 10]], máy bay của nó tiếp tục tấn công đối phương, trợ giúp đánh chìm một tàu tuần dương hạng nhẹ chiếc tàu khu trục tháp tùng nó trong [[biển Visayan]] trước khi quay lại tiếp tục hỗ trợ cho lực lượng trên bộ tại Leyte. Vào ngày [[27 tháng 10]], máy bay của nó đánh phá tàu bè trong [[vịnh Ormoc]], rồi tuần tra ngoài khơi Samar, nơi họ bắn rơi một máy bay tiêm kích lục quân [[Kawasaki Ki-61]] &amp;quot;Tony&amp;quot;. Một máy bay ném bom [[Mitsubishi G3M]] &amp;quot;Nell&amp;quot; bị bắn rơi vào ngày [[28 tháng 10]], trước khi chiếc tàu sân bay khởi hành vào ngày [[30 tháng 10]] để đi cảng Seeadler, Manus, đến nơi vào ngày [[4 tháng 11]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; khởi hành đi [[Kossol Roads]] vào ngày [[27 tháng 11]], rồi lại lên đường từ đây vào ngày [[10 tháng 12]] để hỗ trợ trên không cho đoàn tàu đổ bộ lên [[Mindoro]], khi chúng băng qua các [[biển Mindanao]] và [[biển Sulu]]. Vào ngày [[13 tháng 12]], máy bay tấn công cảm tử [[Kamikaze]] xuất phát từ đảo Negros đã tấn công đội hình; mười một máy bay đối phương đã bị bắn rơi, nhưng ba chiếc đã lọt qua được hàng rào tuần tra chiến đấu. Hai chiếc bị hỏa lực phòng không bắn rơi, nhưng chiếc thứ ba đã đâm trúng tàu khu trục {{USS|Haraden|DD-585|3}}. Các cuộc tấn công của máy bay Nhật Bản lại tiếp tục trong ngày [[14 tháng 12]], và máy tiêm kích của đã bắn hạ thêm bảy chiếc [[Mitsubishi A6M Zero]]. Trong cuộc đổ bộ lên Mindoro vào ngày [[15 tháng 12]] và sau đó, chiếc tàu sân bay đã tung máy bay của nó ra trong các phi vụ hỗ trợ mặt đất và bảo vệ trên không, bảo vệ lực lượng khỏi những cuộc tấn công Kamikaze tự sát, và bắn phá các vị trí quân Nhật. Sau khi thu hồi máy bay vào ngày [[16 tháng 12]], con tàu rút lui về Kossol Roads, rồi đến Manus trước khi quay trở lại [[Palaus]] vào cuối tháng đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1945 ===&lt;br /&gt;
Được điều sang Đội tàu sân bay 25, &amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; lên đường vào ngày [[1 tháng 1]] năm [[1945]] cùng các tàu thuộc lực lượng tấn công, lần này là lên [[Luzon]]. Sau khi đánh trả những cuộc không kích lẽ tẽ và tấn công tự sát trên đường đi, nó cùng năm tàu sân bay hộ tống khác đã bảo vệ cho Đội Bắn phá và Hỗ trợ hỏa lực trước cuộc đổ bộ. Sau đó nó trực tiếp hỗ trợ cho binh lính đổ bộ cho cuộc tấn công lên khu vực [[San Fabian]] từ ngày [[10 tháng 1|10]] đến ngày [[17 tháng 1]]. Sau khi được tiếp tế tại Mindoro, chiếc tàu sân bay di chuyển về phía Tây Mindoro cho đến ngày [[29 tháng 1]], trước khi đi đến để hỗ trợ cho cuộc đổ bộ lên bờ biển phía Tây của [[Zambales]] và tại [[vịnh Subic]], tiếp tục ở lại đây cho đến [[1 tháng 2]]. Đội đặc nhiệm 77.4 của nó rút lui về đến [[Ulithi]] vào ngày [[5 tháng 2]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; lên đường cùng Đơn vị Đặc nhiệm 52.2.1 vào ngày [[10 tháng 2]] để hỗ trợ trên không cho chuyến đi, và trực tiếp hỗ trợ cuộc đổ bộ lên [[Iwo Jima]]. Từ ngày [[16 tháng 2|16]] đến ngày [[19 tháng 2]], máy bay của nó đã thực hiện 123 phi vụ nhằm dọn đường cho cuộc tấn công của binh lính [[Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ|Thủy quân Lục chiến]]. Vào ngày để bộ [[19 tháng 2]], 36 phi vụ đã được tung ra để trực tiếp hỗ trợ cùng 16 phi vụ khác tuần tra chiến đấu trên không. Sau ngày [[19 tháng 2]], nó mở rộng sang nhiệm vụ tuần tra chống tàu ngầm và phối hợp tác chiến trên không, rồi sang [[tháng 3]] càn quét chống tàu bè.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; rời khu vực [[quần đảo Kazan|Volcano]]-[[quần đảo Ogasawara|Bonin]] vào ngày [[8 tháng 3]], và đi đến vũng biển Ulithi vào ngày [[11 tháng 3]]. Liên đội Hỗn hợp VC-9 thay phiên cho Liên đội Hỗn hợp VC-81 tại đây, và đến ngày [[21 tháng 3]], chiếc tàu sân bay lại sẵn sàng cho chiến dịch đổ bộ tiếp theo lên [[Okinawa]]. Nó cùng Đơn vị Đặc nhiệm 52.1.1 hỗ trợ trên không cho việc bắn phá chuẩn bị, rồi trong việc đổ bộ lên [[Kerama Retto]] từ ngày [[24 tháng 3]] đến ngày [[1 tháng 4]], trước khi chuyển trọng tâm hoạt động sang chính Okinawa. Trong ba tháng tiếp theo, ngoại trừ những đợt sửa chữa ngắn, máy bay của nó đã liên tục ném bom và bắn phá các mục tiêu chiến lược và chiến thuật, thực hiện các phi vụ trinh sát và chỉ điểm mục tiêu, trinh sát hình ảnh và tuyên truyền, thả hàng tiếp liệu xuống các khu vực tiền tuyến, cũng như tuần tra phòng không và chống tàu ngầm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi cơ động băng qua thời tiết bất lợi bởi một cơn [[bão]] lúc 06 giờ 35 phút ngày [[7 tháng 6]], một chiếc A6M Zero đã tiếp cận &amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; từ phía đuôi bên mạn trái và bay thấp bên trên mặt nước. Sau khi đổi hướng, máy bay đối phương bay bên trên đuôi tàu, bắn đạn cháy nhắm vào cầu tàu rồi ngóc mũi lên và đâm xuống sàn đáp. Cú đâm đã tạo một lổ thủng {{convert|12|x|20|ft|m|abbr=on}} trên sàn đáp, trong khi quả bom mang theo kích nổ gây hư hại sàn trước con tàu, làm hỏng trục thả neo và khiến một máy bay gần đó bốc cháy. Ba thành viên chiếc tàu sân bay và một sĩ quan Liên đội VC–9 bị thương, một sĩ quan của con tàu tử trận. Một chiếc Zero thứ hai tiếp tục nhắm vào con tàu bị hỏa lực phòng không bắn rơi; đám cháy nhanh chóng được các đội kiểm soát hư hỏng dập tắt, cũng như tiến hành sửa chữa khẩn cấp. Đợt không kích tiếp theo bị hủy bỏ, nhưng kế hoạch ném bom tiếp theo xuống [[Miayako Shima]] được thực hiện như dự định lúc 10 giờ 30 phút.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Sau chiến tranh ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; lên đường đi [[Guam]] vào ngày [[20 tháng 6]] để sửa chữa tạm thời, rồi tiếp tục hành trình quay trở về Hoa Kỳ. Nó chỉ về đến San Diego vào ngày [[19 tháng 8]], sau khi [[Nhật Bản đầu hàng]] kết thúc cuộc xung đột. Nó được sửa chữa, đại tu và cải biến trong [[tháng 9]] và [[tháng 10]], rồi tham gia nhiệm vụ vận chuyển trong khuôn khổ [[Chiến dịch Magic Carpet (Thế Chiến II)|Chiến dịch Magic Carpet]]. Trong [[tháng 11]] và đầu [[tháng 12]], nó vận chuyển các cựu chiến binh từ Philippines quay trở về California, rồi đến ngày [[29 tháng 12]] được điều động sang Hạm đội Dự bị Đại Tây Dương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đi đến [[Norfolk, Virginia]] vào ngày [[20 tháng 2]] năm [[1946]], &amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; được cho xuất biên chế vào ngày [[20 tháng 5]] năm [[1946]] và neo đậu tại Norfolk. Nó được chuyển sang Đội dự bị Boston vào [[tháng 10]] năm [[1949]], rồi được xếp lại lớp như một tàu sân bay đa dụng với ký hiệu lườn &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;CVU–62&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; vào ngày [[12 tháng 6]] năm [[1955]]. Tên nó được cho rút khỏi danh sách [[Đăng bạ Hải quân]] vào ngày [[1 tháng 9]] năm [[1958]], và con tàu bị bán vào ngày [[30 tháng 7]] năm [[1959]] để tháo dỡ tại Nhật Bản.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Phần thưởng ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng bảy [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
{{tham khảo}}&lt;br /&gt;
{{Refbegin}}&lt;br /&gt;
* Bài này có các trích dẫn từ nguồn [[Dictionary of American Naval Fighting Ships]] thuộc [[phạm vi công cộng]]: http://www.history.navy.mil/danfs/n2/natoma_bay.htm&lt;br /&gt;
{{Refend}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
{{Thể loại Commons|USS Natoma Bay (CVE-62)}}&lt;br /&gt;
* [http://www.navsource.org/archives/03/062.html Bộ sưu tập hình ảnh]{{Liên kết hỏng|date = ngày 27 tháng 5 năm 2021 |bot=InternetArchiveBot }} của &amp;#039;&amp;#039;USS Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; tại NavSource Naval History&lt;br /&gt;
* [http://natomabaycve62.org/logbook/LBindex.html &amp;#039;&amp;#039;Natoma Bay&amp;#039;&amp;#039; Logbook Project]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu sân bay hộ tống Casablanca}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Mỹ}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Natoma Bay (CVE-62)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp sân bay hộ tống Casablanca]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu sân bay hộ tống của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu sân bay hộ tống trong Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu thủy năm 1943]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;SongVĩ.Bot</name></author>
	</entry>
</feed>