<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Raton_%28SS-270%29</id>
	<title>USS Raton (SS-270) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Raton_%28SS-270%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Raton_(SS-270)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-10T17:20:31Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Raton_(SS-270)&amp;diff=7729196&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;AnsterBot: (Bot) AlphamaEditor, thêm thể loại,  Executed time: 00:00:08.3412502, replaced: {{reflist}} → {{tham khảo}}, accessdate → access-date (4)</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Raton_(SS-270)&amp;diff=7729196&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-07-15T04:03:25Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;(Bot) &lt;a href=&quot;/wiki/Th%C3%A0nh_vi%C3%AAn:AnsterBot#AlphamaEditor&quot; title=&quot;Thành viên:AnsterBot&quot;&gt;AlphamaEditor&lt;/a&gt;, thêm thể loại,  Executed time: 00:00:08.3412502, replaced: {{reflist}} → {{tham khảo}}, accessdate → access-date (4)&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image= USS Raton;0827014.jpg&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu ngầm USS &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; (SS-270) đang chạy thử máy tại [[hồ Michigan]], ngày 1 tháng 7 năm 1943&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
|Ship country= Hoa Kỳ &lt;br /&gt;
|Ship flag= {{USN flag|1969}}&lt;br /&gt;
|Ship name= USS &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
|Ship namesake= cá raton, một loài trong [[họ Cá vây tua]]&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship ordered=&lt;br /&gt;
|Ship awarded=&lt;br /&gt;
|Ship builder= [[Manitowoc Shipbuilding Company]], [[Manitowoc, Wisconsin]]&amp;lt;ref name=F285304&amp;gt;{{harvnb|Friedman|1995|pp=285–304}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship original cost=&lt;br /&gt;
|Ship laid down= [[29 tháng 5]], [[1942]] &amp;lt;ref name=F285304/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship launched= [[24 tháng 1]], [[1943]] &amp;lt;ref name=F285304/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship sponsor= bà C. C. West&lt;br /&gt;
|Ship completed=&lt;br /&gt;
|Ship acquired=&lt;br /&gt;
|Ship commissioned= [[13 tháng 7]], [[1943]] &amp;lt;ref name=F285304/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship recommissioned= [[21 tháng 9]], [[1953]]&lt;br /&gt;
|Ship decommissioned= * [[11 tháng 3]], [[1949]] &lt;br /&gt;
* [[28 tháng 6]], [[1969]] &amp;lt;ref name=F285304/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship in service=&lt;br /&gt;
|Ship out of service=&lt;br /&gt;
|Ship renamed=&lt;br /&gt;
|Ship reclassified= * SSR-270, [[18 tháng 7]], [[1952]]&lt;br /&gt;
* AGSS-270, [[1 tháng 7]], [[1960]]&lt;br /&gt;
|Ship struck= [[28 tháng 6]], [[1969]] &amp;lt;ref name=F285304/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship nickname=&lt;br /&gt;
|Ship honors= 6 × [[Ngôi sao Chiến trận]] &lt;br /&gt;
|Ship captured=&lt;br /&gt;
|Ship fate= Bán để tháo dỡ, [[12 tháng 10]], [[1973]] &amp;lt;ref name=F285304/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship status=&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
|Hide header=&lt;br /&gt;
|Header caption=&lt;br /&gt;
|Ship type= [[tàu ngầm]] Diesel-điện&lt;br /&gt;
|Ship displacement=* {{convert|1525|LT|t|abbr=on}} (mặt nước) &amp;lt;ref name=B271&amp;gt;{{Harvnb|Bauer|Roberts|1991|pp=271-273}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
* {{convert|2424|LT|t|abbr=on}} (lặn)&amp;lt;ref name=B271/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship length={{convert|311|ft|9|in|m|abbr=on}} &amp;lt;ref name=B271/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship beam={{convert|27|ft|3|in|m|abbr=on}} &amp;lt;ref name=B271/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship draft={{convert|17|ft|abbr=on}} tối đa &amp;lt;ref name=B271/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship propulsion=* 4 × [[động cơ diesel]] [[Electro-Motive Diesel|General Motors]] Kiểu 16-248 V16 dẫn động [[máy phát điện]]&amp;lt;ref name=B270&amp;gt;{{Harvnb|Bauer|Roberts|1991|pp=270-280}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref name=F261&amp;gt;{{harvnb|Friedman|1995|p=261}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
* 2 × [[ắc quy]] 126-cell [[USS Sargo (SS-188)|&amp;#039;&amp;#039;Sargo&amp;#039;&amp;#039;]]&amp;lt;ref name=F305311/&amp;gt;&lt;br /&gt;
* 4 × [[động cơ điện]] [[General Electric]] với hộp số giảm tốc &amp;lt;ref name=B270/&amp;gt;&lt;br /&gt;
* 2 × trục chân vịt&amp;lt;ref name=B270/&amp;gt;&lt;br /&gt;
* {{convert|5400|shp|abbr=on|lk=in}} (mặt nước)&amp;lt;ref name=B270/&amp;gt;&lt;br /&gt;
* {{convert|2740|shp|abbr=on}} (lặn)&amp;lt;ref name=B270/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship speed=* {{convert|21|kn|km/h|lk=in}} (mặt nước)&amp;lt;ref name=F305311&amp;gt;{{harvnb|Friedman|1995|pp=305–311}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
* {{convert|9|kn|km/h}} (lặn)&amp;lt;ref name=F305311/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship range= {{convert|11000|nmi|km}} trên mặt nước ở tốc độ {{convert|10|kn|km/h}}&amp;lt;ref name=F305311/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship endurance=* 48 giờ lặn ở tốc độ {{convert|2|kn|km/h}}&amp;lt;ref name=F305311/&amp;gt;&lt;br /&gt;
* 75 ngày (tuần tra)&lt;br /&gt;
|Ship test depth={{convert|300|ft|m|-1|abbr=on}}&amp;lt;ref name=F305311/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship complement=6 sĩ quan, 54 thủy thủ&amp;lt;ref name=F305311/&amp;gt;&lt;br /&gt;
|Ship sensors=&lt;br /&gt;
|Ship EW=&lt;br /&gt;
|Ship armament= * 10 × ống phóng [[ngư lôi]] {{convert|21|in|mm|abbr=on}} &lt;br /&gt;
** 6 trước mũi, 4 phía đuôi&lt;br /&gt;
** 24 quả ngư lôi&amp;lt;ref name=F305311/&amp;gt;&lt;br /&gt;
* 1 × [[hải pháo 3 inch/50 caliber]]&amp;lt;ref name=F305311/&amp;gt;&lt;br /&gt;
* 1 × pháo phỏng không [[Bofors 40mm]]&lt;br /&gt;
* 2 × pháo phỏng không [[Oerlikon 20 mm]] (1×2)&lt;br /&gt;
|Ship notes=&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;USS &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; (SS/SSR/AGSS-270)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; là một [[tàu ngầm]] [[Gato (lớp tàu ngầm)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Gato&amp;#039;&amp;#039;]] từng phục vụ cùng [[Hải quân Hoa Kỳ]] trong [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]]. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt cái tên này, theo tên cá raton, một loài trong [[họ Cá vây tua]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt; Nó đã phục vụ trong suốt Thế chiến II, thực hiện tổng cộng tám chuyến tuần tra, đánh chìm 13 tàu Nhật Bản, bao gồm hai [[tàu frigate]], với tổng tải trọng 44.178 tấn.&amp;lt;ref name=JANAC/&amp;gt; Được cho ngừng hoạt động sau khi xung đột chấm dứt vào năm [[1949]], con tàu được huy động trở lại để tiếp tục phục vụ trong giai đoạn [[Chiến tranh Lạnh]] từ năm [[1953]] đến năm [[1969]], lần lượt được xếp lại lớp như một tàu ngầm cột mốc radar &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;SSR-270&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; và như một tàu ngầm phụ trợ &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;AGSS-270&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;, rồi cuối cùng bị bán để tháo dỡ vào năm [[1973]]. &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng sáu [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
{{main|Gato (lớp tàu ngầm)}} &lt;br /&gt;
Lớp tàu ngầm &amp;#039;&amp;#039;Gato&amp;#039;&amp;#039; được thiết kế cho mục đích một tàu ngầm hạm đội nhằm có tốc độ trên mặt nước cao, tầm hoạt động xa và vũ khí mạnh để tháp tùng hạm đội chiến trận.&amp;lt;ref&amp;gt;{{harvnb|Friedman|1995|pp=99–104}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Con tàu dài {{convert|311|ft|9|in|m|abbr=on}} và có [[trọng lượng choán nước]] {{convert|1525|LT|t|abbr=on}} khi nổi và {{convert|2424|LT|t|abbr=on}} khi lặn.&amp;lt;ref name=B271/&amp;gt; Chúng trang bị [[động cơ diesel]] dẫn động [[máy phát điện]] để cung cấp điện năng cho bốn [[động cơ điện]],&amp;lt;ref name=B271/&amp;gt;&amp;lt;ref name=F261/&amp;gt; đạt được công suất {{convert|5400|shp|abbr=on|lk=in}} khi nổi và {{convert|2740|shp|abbr=on}} khi lặn,&amp;lt;ref name=B271/&amp;gt; cho phép đạt tốc độ tối đa {{convert|21|kn|km/h|lk=in}} và {{convert|9|kn|km/h}} tương ứng.&amp;lt;ref name=F305311/&amp;gt; Tầm xa hoạt động là {{convert|11000|nmi|km}} khi đi trên mặt nước ở tốc độ {{convert|10|kn|km/h}} và có thể hoạt động kéo dài đến 75 ngày&amp;lt;ref name=F305311/&amp;gt; và lặn được sâu tối đa {{convert|300|ft|m|-1|abbr=on}}.&amp;lt;ref name=F305311/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lớp tàu ngầm &amp;#039;&amp;#039;Gato&amp;#039;&amp;#039; được trang bị mười ống phóng [[ngư lôi]] {{convert|21|in|mm|abbr=on}}, gồm sáu ống trước mũi và bốn ống phía phía đuôi tàu, chúng mang theo tối đa 24 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu gồm một [[hải pháo 3 inch/50 caliber]], và thường được tăng cường một khẩu pháo phòng không [[Bofors 40 mm]] nòng đơn và một khẩu đội [[Oerlikon 20 mm]] nòng đôi, kèm theo [[súng máy]] [[Browning M2|.50 caliber]] và [[M1919 Browning|.30 caliber]].&amp;lt;ref name=F305311/&amp;gt; Tiện nghi cho thủy thủ đoàn bao gồm [[điều hòa không khí]], thực phẩm trữ lạnh, máy lọc nước, máy giặt và giường ngủ cho hầu hết mọi người, giúp họ chịu đựng cái nóng nhiệt đới tại [[Thái Bình Dương]] cùng những chuyến tuần tra kéo dài đến hai tháng rưỡi.&amp;lt;ref&amp;gt;{{harvnb|Alden|1979|pp=48, 97}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref&amp;gt;{{harvnb|Blair|2001|p=65}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng [[Manitowoc Shipbuilding Company]] ở [[Manitowoc, Wisconsin]] vào ngày [[29 tháng 5]], [[1942]]. Nó được hạ thủy vào ngày [[24 tháng 1]], [[1943]], được đỡ đầu bởi bà C. C. West, và được cho nhập biên chế cùng Hải quân Hoa Kỳ vào ngày [[13 tháng 7]], [[1943]] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, [[Thiếu tá Hải quân]] James White Davis.&amp;lt;ref name=DANFS&amp;gt;{{cite DANFS | title=Raton (SS-270) | author=[[Naval Historical Center]] | url=https://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/r/raton.html | access-date=5 July 2022}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref name=NavSource&amp;gt;{{chú thích web | last=Yarnall | first=Paul R. | title=USS Raton (SS-270) | url=http://www.navsource.org/archives/08/08270.htm | website=NavSource.org | access-date=5 July 2022 | archive-date=2022-07-21 | archive-url=https://web.archive.org/web/20220721000020/http://www.navsource.org/archives/08/08270.htm | url-status=dead }}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref name=Uboat&amp;gt;{{chú thích web | last=Helgason | first=Guðmundur | title=USS Raton (SS-270) | url=https://uboat.net/allies/warships/ship/3016.html | website=uboat.net | access-date=5 July 2022}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
=== 1943 ===&lt;br /&gt;
Sau khi hoàn tất việc chạy thử máy của xưởng tàu tại [[hồ Michigan]], &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; được chất lên một sà lan để được kéo dọc theo [[sông Mississippi]] từ Manitowoc đến [[New Orleans, Louisiana]], nơi nó được tiếp tục trang bị hoàn thiện trước đưa đi vào hoạt động. Sau khi hoàn tất việc chạy thử máy huấn luyện tại vùng [[kênh đào Panama]], chiếc tàu ngầm chuẩn bị để được điều động sang khu vực [[Mặt trận Thái Bình Dương trong Thế chiến thứ hai|Mặt trận Thái Bình Dương]]. Nó lên đường vào ngày [[19 tháng 9]], [[1943]] và đi đến [[Brisbane]], [[Australia]] vào ngày [[16 tháng 10]], nơi nó giá nhập Lực lượng Tàu ngầm [[Đệ Thất hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Thất hạm đội]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ nhất ====&lt;br /&gt;
Khởi hành từ Brisbane, &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; hướng đến [[Tulagi]] thuộc [[quần đảo Solomon]] để thực hiện chuyến tuần tra đầu tiên từ ngày [[20 tháng 11]] đến ngày [[6 tháng 12]] tại các khu vực [[quần đảo Bismarck]], Solomon và [[New Guinea]]. Vào ngày [[24 tháng 11]], tại vị trí về phía Tây [[Massau]], nó phát hiện hai tàu buôn được hai [[tàu khu trục]] cùng một [[thủy phi cơ]] [[Nakajima A6M2-N]] &amp;quot;Rufe&amp;quot; hộ tống bảo vệ. Nó theo dõi đoàn tàu cho đến đêm trước khi phóng [[ngư lôi]] tấn công, đánh chìm được chiếc tàu chở hàng &amp;#039;&amp;#039;Onoe Maru&amp;#039;&amp;#039; (6.667 tấn); nó đã bốn lượt tìm cách tiếp cận để tấn công chiếc tàu buôn còn lại nhưng đều bị các tàu khu trục đối phương ngăn chặn.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bốn ngày sau đó, &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; phát hiện một đoàn tàu vận tải đang trên đường hướng đến [[Rabaul]], bao gồm năm tàu buôn được hai tàu hộ tống bảo vệ. Một lượt tấn công ngầm đã đánh chìm được các tàu chở hàng &amp;#039;&amp;#039;Hokko Maru&amp;#039;&amp;#039; (5.347 tấn) và &amp;#039;&amp;#039;Yuri Maru&amp;#039;&amp;#039; (6.787 tấn), trước khi chịu đựng đợt phản công bằng [[mìn sâu]] của các tàu hộ tống. Nó tiếp tục theo dõi đoàn tàu, và trong một đợt tấn công ban đêm đã gây hư hại cho một tàu chở hàng thứ ba, nhưng đã sử dụng gần hết số ngư lôi mang theo, nên kêu gọi các tàu ngầm bạn đến trợ giúp. Tàu chị em {{USS|Gato|SS-212|3}} đi đến nơi để tham gia vào cuộc săn đuổi, nhưng lại bị hai tàu khu trục đối phương tấn công. &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; trồi lên mặt nước và di chuyển hết tốc độ để thu hút sự chú ý của tàu đối phương; và &amp;#039;&amp;#039;Gato&amp;#039;&amp;#039; nhân cơ hội đó đánh chìm chiếc &amp;#039;&amp;#039;Columbia Maru&amp;#039;&amp;#039;. Nó hoàn tất chuyến tuần tra khi đi đến [[vịnh Milne]], New Guinea để nghỉ ngơi và tái trang bị cặp bên mạn [[tàu tiếp liệu tàu ngầm]] {{USS|Fulton|AS-11}}.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1944 ===&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ hai ====&lt;br /&gt;
Trong chuyến tuần tra thứ hai từ ngày [[11 tháng 12]], [[1943]] đến ngày [[25 tháng 1]], [[1944]] tại khu vực [[Mindanao]]–[[Sulawesi|Celebes]]–[[Halmahera]], &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; đã tấn công một đoàn bốn tàu buôn và hai tàu khu trục trong [[eo biển Morotai]] vào ngày [[24 tháng 12]], [[1943]], đánh chìm được chiếc &amp;#039;&amp;#039;Heiwa Maru&amp;#039;&amp;#039; (5.578 tấn) và gây hư hại cho một [[tàu sân bay phụ trợ]]. Sang ngày [[2 tháng 1]], [[1944]], nó bắt gặp hai [[tàu chở dầu]] được một {{sclass|Fubuki|tàu khu trục|2}} hộ tống tại vị trí về phía Tây Bắc đảo Falang trên tuyến đường hàng hải [[Palau]]. Nó đã phóng ngư lôi đánh trúng một tàu chở dầu, nhưng các tàu hộ tống đã ngăn chặn những lượt tấn công tiếp theo. Nó rời khu vực tuần tra vào ngày [[19 tháng 1]], và về đến căn cứ [[Fremantle]], Australia vào ngày [[25 tháng 1]], nơi nó được tái trang bị cặp bên mạn tàu tiếp liệu tàu ngầm {{USS|Pelias|AS-14}}.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ ba ====&lt;br /&gt;
Trong chuyến tuần tra thứ ba từ ngày [[18 tháng 2]] đến ngày [[14 tháng 4]] trong [[biển Java]], [[eo biển Karimata]] và [[biển Đông]], &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; chỉ phát hiện được hai tàu buôn và được tàu ngầm chị em {{USS|Rasher|SS-269|3}} đánh chìm.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ tư ====&lt;br /&gt;
Khởi hành vào ngày [[19 tháng 5]] cho chuyến tuần tra thứ tư tại các khu vực biển Đông và biển Java, &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; đã ngăn chặn hai tàu vận tải ven biển về phía Bắc [[quần đảo Tambelan]] vào ngày [[23 tháng 5]], và đánh chìm chúng bằng hải pháo. Đến chiều tối hôm đó, nó bắt gặp một đoàn ba tàu vận tải được bốn tàu khu trục hộ tống, và đã phóng ngư lôi đánh chìm một [[tàu frigate]] (800 tấn) cùng gây hư hại cho một tàu vận tải. Vào ngày [[27 tháng 5]], lúc 06 giờ 15 phút, &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; chịu đựng hai cú chấn động mạnh mà nó cho là những vụ nổ dưới nước hoặc bị va chạm; đó lại là hai quả ngư lôi phóng từ {{USS|Lapon|SS-260|3}}, khi chiếc tàu ngầm chị em đang truy tìm một tàu ngầm đối phương trong khu vực, và nhận định nhầm &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; là mục tiêu đang truy tìm. Đây là vụ bắn nhầm duy nhất giữa hai tàu ngầm Hoa Kỳ trong Thế Chiến II; hai quả ngư lôi mà &amp;#039;&amp;#039;Lapon&amp;#039;&amp;#039; phóng ra đã may mắn không kích nổ và chỉ gây những vết lỏm trên thân &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039;.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sang ngày [[28 tháng 5]], &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; phát hiện và theo dõi một [[Tàu ngầm Kiểu L Nhật Bản|tàu ngầm Kiểu L]], nhưng không thể đi vào vị trí tấn công thuận lợi. Đến đêm [[6 tháng 6]], nó trông thấy một đoàn 11 tàu vận tải được bốn tàu khu trục hộ tống bảo vệ; loạt ngư lôi phóng ra đã trúng đích ba quả, đánh chìm được chiếc &amp;#039;&amp;#039;Tàu Phòng vệ Duyên hải số 15&amp;#039;&amp;#039; (khoảng 800 tấn), nhưng đối phương cũng phản ứng quyết liệt với đợt tấn công bằng [[mìn sâu]] kéo dài. Đến ngày [[13 tháng 6]], nó phá hủy một thuyền buồm bằng hải pháo và bắt giữ 11 [[tù binh chiến tranh|tù binh]]. Chiếc tàu ngầm tiếp tục đánh chìm một tàu vận tải nhỏ với một quả ngư lôi vào ngày [[17 tháng 6]], và cứu được chín người sống sót. Nó kết thúc chuyến tuần tra khi quay trở về căn cứ Fremantle vào ngày [[23 tháng 6]], nơi nó được tái trang bị cặp bên mạn tàu tiếp liệu tàu ngầm {{USS|Orion|AS-18|3}}.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ năm ====&lt;br /&gt;
Trong chuyến tuần tra thứ năm từ ngày [[18 tháng 7]] đến ngày [[10 tháng 9]] tại khu vực biển Đông ngoài khơi đảo [[Luzon]], [[Philippines]], &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039;chỉ đánh trúng và làm mắc cạn một tàu chở dầu trong vịnh [[Dasol]] vào ngày [[4 tháng 8]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ sáu ====&lt;br /&gt;
Khởi đầu chuyến tuần tra thứ sáu tại khu vực biển Đông từ ngày [[6 tháng 10]], &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; xâm nhập được vào giữa một đoàn chín tàu vận tải vào đêm [[18 tháng 10]], và phóng đồng loạt tất cả ngư lôi từ phía mũi lẫn phía đuôi tàu, đánh chìm được các tàu chở hàng &amp;#039;&amp;#039;Shiranesan Maru&amp;#039;&amp;#039; (4.739 tấn) và tàu chở hành khách &amp;#039;&amp;#039;Taikai Maru&amp;#039;&amp;#039; (3.812 tấn), cùng gây hư hại cho một chiếc thứ ba. Một lượt tấn công tiếp theo đã gây hư hại cho một tàu chở hàng khác. Do sắp cạn ngư lôi, đồng thời cũng để né tránh một cơn [[bão]] đang đến gần, chiếc tàu ngầm rút lui về [[Mios Woendi]] thuộc [[quần đảo Schouten]] để tiếp liệu trước khi tiếp nối chuyến tuần tra.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rời Mios Woendi vào ngày [[27 tháng 10]], &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; đụng độ một đội đặc nhiệm Nhật Bản bao gồm hai [[tàu tuần dương hạng nặng]] và năm tàu hộ tống vào ngày [[6 tháng 11]]. Đợt tấn công ngầm của nó đã phóng trúng ba quả ngư lôi vào một {{sclass|Mogami|tàu tuần dương|2}}, nhưng chưa đủ để loại [[Kumano (tàu tuần dương Nhật)|&amp;#039;&amp;#039;Kumano&amp;#039;&amp;#039;]] ra khỏi vòng chiến. Năm ngày sau đó, nó cùng tàu ngầm chị em {{USS|Ray|SS-271|3}} tấn công một đoàn bốn tàu buôn được ba tàu hộ tống bảo vệ, đánh chìm được tàu chở dầu &amp;#039;&amp;#039;Unkai Maru số 5&amp;#039;&amp;#039; (2.841 tấn) và tàu phụ trợ &amp;#039;&amp;#039;Kurasaki&amp;#039;&amp;#039; (989 tấn) với bốn quả ngư lôi. Nó kết thúc chuyến tuần tra khi quay trở về căn cứ [[Trân Châu Cảng]], rồi tiếp tục quay về vùng bờ Tây, đi đến [[San Francisco]], [[California]] vào ngày [[1 tháng 12]], nơi nó được đại tu tại [[Xưởng hải quân Mare Island]] tại [[Vallejo, California|Vallejo]], California.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1945 ===&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ bảy ====&lt;br /&gt;
Sau khi hoàn tất việc sửa chữa, &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; lên đường vào ngày [[13 tháng 3]], [[1945]] để hướng sang [[quần đảo Hawaii]], nơi nó được tiếp tục huấn luyện ôn tập. Con tàu rời Trân Châu Cảng vào ngày [[20 tháng 4]] để bắt đầu chuyến tuần tra thứ bảy tại khu vực [[Hoàng Hải]]. Trong đợt tấn công vào đêm [[2 tháng 5]], nó phóng ngư lôi đánh chìm tàu chở dầu &amp;#039;&amp;#039;Toryu Maru&amp;#039;&amp;#039; (1.992 tấn) ngoài khơi [[bán đảo Sơn Đông]] bất chấp hỏa lực hải pháo từ hai tàu hộ tống; rồi cùng ngày hôm đó đã đánh chìm tàu chở hàng &amp;#039;&amp;#039;Rezikan Maru&amp;#039;&amp;#039; (1.311 tấn) trong một đợt tấn công ngầm. Đến ngày [[16 tháng 5]], nó lại tấn công hai tàu chở hàng, và đánh chìm được chiếc &amp;#039;&amp;#039;Eiju Maru&amp;#039;&amp;#039; (2.455 tấn). Nó kết thúc chuyến tuần tra khi quay trở về căn cứ [[Guam]] vào ngày [[25 tháng 5]], nơi nó được bảo trì cặp bên mạn tàu tiếp liệu tàu ngầm {{USS|Proteus|AS-19}}.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Chuyến tuần tra thứ tám ====&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ Guam cho chuyến tuần tra thứ tám, cũng là chuyến cuối cùng, vào ngày [[22 tháng 6]]. Nó làm nhiệm vụ tìm kiếm và giải cứu ngoài khơi [[Hong Kong]] phục vụ cho các chiến dịch không kích những mục tiêu của quân Nhật tại [[Đài Loan]] và [[Trung Quốc]]. Chiếc tàu ngầm không tìm thấy mục tiêu nào phù hợp, cũng như không giải cứu máy bay nào bị rơi, nên quay trở về [[vịnh Subic]], [[Philippines]] vào ngày [[23 tháng 7]] để bảo trì. Nó đang chuẩn bị lên đường cho chuyến tuần tra tiếp theo khi [[Đế quốc Nhật Bản|Nhật Bản]] [[Nhật Bản đầu hàng|chấp nhận đầu hàng]] vào ngày [[15 tháng 8]], giúp chấm dứt vĩnh viễn cuộc xung đột.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1945 – 1949 ===&lt;br /&gt;
Rời vùng biển Philippines vào ngày [[31 tháng 8]] để quay trở về Hoa Kỳ, &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; về đến San Francisco vào giữa [[tháng 9]] và được đại tu tại Xưởng hải quân Mare Island trước khi được điều động sang vùng bờ Đông. Nó băng qua kênh đào Panama và đi đến Căn cứ Tàu ngầm Hải quân New London tại [[New London, Connecticut]] vào ngày [[12 tháng 3]], [[1946]]. Trong thành phần [[Đệ Nhị hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Nhị hạm đội]], nó tham gia hoạt động huấn luyện tại vùng biển [[Bắc Đại Tây Dương]] và vùng [[biển Caribe]] cho đến khi được đưa về thành phần dự bị vào mùa Thu năm [[1948]]. Nó được cho xuất biên chế vào ngày [[11 tháng 3]], [[1949]],&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref name=NavSource/&amp;gt;&amp;lt;ref name=Uboat/&amp;gt; và được đưa về [[Hạm đội Dự bị Đại Tây Dương]], neo đậu tại New London.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref name=NavSource/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1953 – 1959 ===&lt;br /&gt;
[[Tập tin:USS Raton;0827015.jpg|thumb|300px|right|USS &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; (SSR-270) như một &amp;quot;tàu ngầm cột mốc radar&amp;quot;, giai đoạn 1953–1960.]]&lt;br /&gt;
Vào [[tháng 7]], [[1952]], &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; được kéo đến [[Xưởng hải quân Philadelphia]] tại [[Philadelphia]], [[Pennsylvania]] để được cải biến thành một &amp;quot;tàu ngầm cột mốc radar&amp;quot;. Nó được xếp lại lớp và mang ký hiệu lườn mới &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;SSR-270&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; vào ngày [[18 tháng 7]], [[1952]],&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref name=NavSource/&amp;gt; rồi tái biên chế trở lại vào ngày [[21 tháng 9]], [[1953]]&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref name=NavSource/&amp;gt;&amp;lt;ref name=Uboat/&amp;gt; dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, [[Trung tá Hải quân]] J. K. Wills. Nó rời Philadelphia vào ngày [[8 tháng 12]] và hoạt động huấn luyện tại khu vực [[Norfolk, Virginia]] trước khi được điều sang khu vực Thái Bình Dương, băng qua kênh đào Panama và đi đến [[San Diego]], California vào ngày [[7 tháng 3]], [[1954]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi hoạt động tại chỗ từ cảng nhà San Diego, &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; lên đường vào ngày [[11 tháng 5]], [[1955]] cho một lượt biệt phái hoạt động cùng [[Đệ Thất hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Thất hạm đội]] trong sáu tháng tại khu vực TâyThái Bình Dương. Khi quay trở về San Diego vào ngày [[6 tháng 11]], nó hoạt động huấn luyện dọc theo vùng bờ Tây trước khi có lượt biệt phái hoạt động thứ hai sang khu vực Tây Thái Bình Dương từ ngày [[13 tháng 5]] đến ngày [[8 tháng 11]], [[1957]]. Nó tiếp tục huấn luyện trước khi được đại tu tại [[Xưởng hải quân Hunter&amp;#039;s Point]], San Francisco từ ngày [[7 tháng 7]] đến ngày [[24 tháng 11]], [[1958]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau đợt đại tu, &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; tiến hành huấn luyện trước khi được phái sang hoạt động tại khu vực Tây Thái Bình Dương lần thứ ba. Chiếc tàu ngầm phục vụ cùng Đệ Thất hạm đội từ đầu [[tháng 3]] đến giữa [[tháng 11]], [[1959]], tham gia các hoạt động phối hợp cùng các lực lượng [[Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á]] (SEATO) và [[Lực lượng Phòng vệ biển Nhật Bản]]. Sang đầu năm 1960, &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; hoạt động tại chỗ tại khu vực San Diego, bao gồm việc thử nghiệm đánh giá các thiết bị [[sonar]] mới và huấn luyện nhân sự [[Đội phá hoại dưới nước]] (UDT: Underwater Demolition Team) trong hoạt động trinh sát.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1960 – 1968 ===&lt;br /&gt;
Vào ngày [[1 tháng 7]], [[1960]], &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; được xếp lại lớp như một tàu ngầm phụ trợ và mang ký hiệu lườn mới &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;AGSS-270&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref name=NavSource/&amp;gt; Sau khi được đại tu tại [[Xưởng hải quân Mare Island]] từ [[tháng 1]] đến [[tháng 4]], [[1961]], chiếc tàu ngầm lên đường vào ngày [[3 tháng 7]], hướng sang phía Tây cho lượt phục vụ thứ tư cùng Đệ Thất hạm đội, rồi quay trở về San Diego vào ngày [[19 tháng 12]]. Nó trải qua năm [[1962]] hoạt động huấn luyện hạm đội tại vùng bờ Tây.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong lượt hoạt động thứ năm tại khu vực Tây Thái Bình Dương từ [[tháng 1]] đến [[tháng 6]], [[1963]], &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; tham gia hai cuộc tập trận [[chiến tranh chống tàu ngầm|chống tàu ngầm]] cùng các lực lượng Hoa Kỳ và SEATO. Sau một giai đoạn đại tu từ [[tháng 11]], [[1963]] đến đầu [[tháng 3]], [[1964]], nó lại được phái sang khu vực Tây Thái Bình Dương từ ngày [[6 tháng 7]] đến ngày [[23 tháng 12]], [[1964]], nơi nó hoạt động phối hợp cùng các đơn vị [[Hải quân Hoàng gia Thái Lan]], [[Hải quân Philippines|Philippines]] và [[Hải quân Trung Hoa Dân Quốc|Trung Hoa Dân Quốc]] (Đài Loan) trong khuôn khổ [[Luật Hỗ trợ Quân sự Tương hỗ|Chương trình Viện trợ Quân sự]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau đó trong năm [[1965]] và đầu năm [[1966]], &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; hoạt động huấn luyện thường lệ tại chỗ trong khu vực San Diego. Nó khởi hành vào giữa [[tháng 4]], [[1966]] cho một lượt phục vụ khác cùng Đệ Thất hạm đội, bao gồm các cuộc tập trận cùng các đơn vị hải quân trong Khối SEATO. Nó quay trở về San Diego vào ngày [[17 tháng 10]], [[1966]]. Chiếc tàu trải qua năm [[1967]] cho các hoạt động thường lệ tại chỗ tại khu vực San Diego, bao gồm huấn luyện nhân sự cho [[Hải quân Dự bị Hoa Kỳ]]. Trong các ngày [[20 tháng 5|20]] và [[21 tháng 5]], [[1968]], nó tiến hành thử nghiệm xem một [[tàu kéo|tàu kéo hạm đội]] có thể giải cứu nhân sự một tàu ngầm bị đánh chìm nằm dưới đáy biển hay không. Chiếc tàu ngầm thực hiện chuyến đi cuối cùng sang khu vực Tây Thái Bình Dương từ ngày [[15 tháng 7]], [[1968]], đi đến [[Yokohama]], Nhật Bản vào ngày [[7 tháng 8]], và tham gia các hoạt động huấn luyện cùng các đơn vị Đệ Thất hạm đội và Khối SEATO. Con tàu quay trở về San Diego vào ngày [[20 tháng 12]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tại Xưởng hải quân Mare Island vào ngày [[28 tháng 6]], [[1969]], &amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; được cho xuất biên chế đồng thời rút tên khỏi danh sách [[Đăng bạ Hải quân]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref name=NavSource/&amp;gt;&amp;lt;ref name=Uboat/&amp;gt; Lườn tàu sau khi tháo dỡ thiết bị được sử dụng như mục tiêu thực hành tác xạ cho [[Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ|Hạm đội Thái Bình Dương]]. Cuối cùng nó bị bán cho hãng American Ship Dismantlers Corp. tại [[Portland, Oregon]]&amp;lt;ref name=NavSource/&amp;gt; để tháo dỡ vào ngày [[10 tháng 12]], [[1973]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref name=NavSource/&amp;gt;&amp;lt;ref name=Uboat/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Phần thưởng ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Raton&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng sáu [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&amp;lt;ref name=NavSource/&amp;gt; Nó được ghi công đã đánh chìm 13 tàu Nhật Bản, bao gồm hai [[tàu frigate]], với tổng tải trọng 44.178 tấn.&amp;lt;ref name=JANAC&amp;gt;{{chú thích web | author=The Joint Army-Navy Assessment Committee | url=http://www.ibiblio.org/hyperwar/Japan/IJN/JANAC-Losses/JANAC-Losses-6.html | title=Japanese Naval and Merchant Shipping Losses During World War II by All Causes | access-date=21 June 2022}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&amp;lt;center&amp;gt;&lt;br /&gt;
{|&lt;br /&gt;
|colspan=3 align=center|{{ribbon devices|number=0|type=service-star|ribbon=Combat Action Ribbon.svg|width=103}}&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
|{{ribbon devices|number=0|type=service-star|ribbon=American Campaign Medal ribbon.svg|width=103}}&lt;br /&gt;
|{{ribbon devices|number=6|type=service-star|ribbon=Asiatic-Pacific Campaign Medal ribbon.svg|width=103}}&lt;br /&gt;
|{{ribbon devices|number=0|type=service-star|ribbon=World War II Victory Medal ribbon.svg|width=103}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
{|class=&amp;quot;wikitable&amp;quot;&lt;br /&gt;
|-align=center&lt;br /&gt;
|colspan=3 |[[Dãi băng Hoạt động Tác chiến]]&lt;br /&gt;
|-align=center&lt;br /&gt;
|[[Huân chương Chiến dịch Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
|[[Huân chương Chiến dịch Châu Á-Thái Bình Dương]]&amp;lt;br&amp;gt;với 6 [[Ngôi sao Chiến trận]]&lt;br /&gt;
|[[Huân chương Chiến thắng Thế Chiến II (Hoa Kỳ)|Huân chương Chiến thắng Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&amp;lt;/center&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
=== Chú thích ===&lt;br /&gt;
{{tham khảo}}&lt;br /&gt;
=== Thư mục ===&lt;br /&gt;
* {{cite DANFS | author=[[Naval Historical Center]] | title=Raton (SS-270) | url=https://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/r/raton.html | access-date=5 July 2022}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last=Alden | first=John D., Commander (U.S. Navy Ret) | title=The Fleet Submarine in the U.S. Navy: A Design and Construction History | date=1979 | publisher=Naval Institute Press | isbn=0-85368-203-8}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last1=Bauer | first1=K. Jack | last2=Roberts | first2=Stephen S. | title=Register of Ships of the U.S. Navy, 1775–1990: Major Combatants | url=https://archive.org/details/registerofshipso0000baue | publisher=Greenwood Press | year=1991 | location=[[Westport, Connecticut]] | isbn=0-313-26202-0 }}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last=Blair | first= Clay Jr. | title=Silent Victory: The U.S. Submarine War Against Japan | date=2001 | publisher=Naval Institute Press | isbn=1-55750-217-X}}&lt;br /&gt;
* {{chú thích sách | last=Friedman | first=Norman | title=U.S. Submarines Through 1945: An Illustrated Design History | url=https://archive.org/details/ussubmarinesthro0000frie | publisher=[[United States Naval Institute]] | year=1995| location=[[Annapolis, Maryland]] | isbn=1-55750-263-3 }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
{{Commons category|USS Raton (SS-270)}}&lt;br /&gt;
* [http://www.navsource.org/archives/08/08270.htm  NavSource Online: Submarine Photo Archive - SS-270 Raton] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20220721000020/http://www.navsource.org/archives/08/08270.htm |date=2022-07-21 }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;!-- non-breaking space to keep AWB drones from altering the space before the navbox--&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu ngầm Gato}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Mỹ}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Raton (SS-270)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu ngầm Gato]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu ngầm của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu ngầm trong Thế chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu ngầm trong Chiến tranh Lạnh]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu thủy năm 1943]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu ngầm của Hải quân Hoa Kỳ trong Chiến tranh Lạnh]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Sự cố quân ta bắn quân mình trong Thế chiến thứ hai]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;AnsterBot</name></author>
	</entry>
</feed>