<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Rodman_%28DD-456%29</id>
	<title>USS Rodman (DD-456) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Rodman_%28DD-456%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Rodman_(DD-456)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-11T02:51:56Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Rodman_(DD-456)&amp;diff=6348708&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;InternetArchiveBot: Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Rodman_(DD-456)&amp;diff=6348708&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-06-18T08:24:30Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image= [[Tập tin:USS Rodman (DD-456).jpg|300px|USS Rodman (DD-456)]]&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu khu trục USS &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; (DD-456)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
| Ship country = Hoa Kỳ&lt;br /&gt;
| Ship flag = {{USN flag|1955}}&lt;br /&gt;
| Ship name = USS &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; (DD-456)&lt;br /&gt;
| Ship namesake = [[Hugh Rodman]]&lt;br /&gt;
| Ship ordered = &lt;br /&gt;
| Ship awarded = &lt;br /&gt;
| Ship builder = [[Federal Shipbuilding and Drydock Company]]&lt;br /&gt;
| Ship original cost = &lt;br /&gt;
| Ship laid down = [[16 tháng 12]] năm [[1940]]&lt;br /&gt;
| Ship launched = [[26 tháng 9]] năm [[1941]]&lt;br /&gt;
| Ship sponsor = bà Albert K. Stebbins, Jr.&lt;br /&gt;
| Ship completed = &lt;br /&gt;
| Ship acquired = &lt;br /&gt;
| Ship commissioned = [[29 tháng 4]] năm [[1942]]&lt;br /&gt;
| Ship recommissioned = &lt;br /&gt;
| Ship decommissioned = [[28 tháng 7]] năm [[1955]]&lt;br /&gt;
| Ship in service = &lt;br /&gt;
| Ship out of service = &lt;br /&gt;
| Ship renamed = &lt;br /&gt;
| Ship reclassified = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DMS-21&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;, [[16 tháng 12]] năm [[1944]]&lt;br /&gt;
| &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DD-456&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; [[15 tháng 1]] năm [[1955]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship struck = [[1 tháng 11]] năm [[1972]]&lt;br /&gt;
| Ship nickname = &lt;br /&gt;
| Ship honors = 5 × [[Ngôi sao Chiến trận]]&lt;br /&gt;
| Ship captured = &lt;br /&gt;
| Ship fate = Chuyển cho [[Đài Loan]], [[28 tháng 7]] năm [[1955]]&lt;br /&gt;
| Ship status = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
| Ship country = Trung Hoa dân quốc&lt;br /&gt;
| Ship flag = {{shipboxflag|Republic of China|naval}}&lt;br /&gt;
| Ship name = ROCS &amp;#039;&amp;#039;Hsien Yang&amp;#039;&amp;#039; (DD-16)&lt;br /&gt;
| Ship acquired = [[28 tháng 7]] năm [[1955]]&lt;br /&gt;
| Ship struck = &lt;br /&gt;
| Ship fate = Bị mắc cạn [[1969]], loại bỏ sau đó&amp;lt;ref name=Janes-73&amp;gt;Blackman, Raymond V. B., ed. Jane&amp;#039;s Fighting Ships 1972–1973. New York: McGraw-Hill, 1973. p. 310&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
| Ship status = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
| Ship class = [[Gleaves (lớp tàu khu trục)|Lớp tàu khu trục &amp;#039;&amp;#039;Gleaves&amp;#039;&amp;#039;]]&lt;br /&gt;
| Ship displacement = {{convert|1630 |LT|MT}} (tiêu chuẩn)&lt;br /&gt;
| Ship length = {{convert|348|ft|3|in|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship beam = {{convert|36|ft|1|in|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship draft = {{convert|13|ft|2|in|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship propulsion = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 2 × turbine hơi nước hộp số&lt;br /&gt;
| 4 × nồi hơi ống nước&lt;br /&gt;
| 2 × trục&lt;br /&gt;
| công suất {{convert|50000|shp|kW|abbr=on|lk=on}}&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship speed = {{convert|37,4|kn|km/h|0}}&lt;br /&gt;
| Ship range = {{convert|6500|nmi|lk=on|-1|abbr=on}} ở tốc độ {{convert|12|kn}}&lt;br /&gt;
| Ship endurance = &lt;br /&gt;
| Ship boats = &lt;br /&gt;
| Ship complement = 16 sĩ quan, 260 thủy thủ&lt;br /&gt;
| Ship crew = &lt;br /&gt;
| Ship sensors = &lt;br /&gt;
| Ship EW = &lt;br /&gt;
| Ship armament = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 4 × pháo [[Hải pháo 5 inch/38 caliber|{{convert|5|in|mm|abbr=on}}]];&lt;br /&gt;
| 4 × pháo phòng không {{convert|1,1|in|mm|abbr=on}} (1×4);&lt;br /&gt;
| 6 × [[súng máy]] {{convert|0,5|in|mm|-1}};&lt;br /&gt;
| 6 × pháo phòng không [[Oerlikon 20 mm]];&lt;br /&gt;
| 10 × ống phóng [[ngư lôi]] [[Ngư lôi Mark 15|{{convert|21|in|mm|abbr=on}}]];&lt;br /&gt;
| 2 × đường ray thả [[mìn sâu]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship armor = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft facilities = &lt;br /&gt;
| Ship notes = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;USS &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; (DD-456/DMS-21)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;, là một [[tàu khu trục]] [[Gleaves (lớp tàu khu trục)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Gleaves&amp;#039;&amp;#039;]] được [[Hải quân Hoa Kỳ]] chế tạo trong [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]]. Nó đã tham gia suốt Thế Chiến II, cải biến thành một [[tàu quét mìn cao tốc]] với ký hiệu lườn &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DMS-21&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;, sống sót qua cuộc xung đột, chuyển giao cho [[Đài Loan]] năm [[1954]] như là chiếc &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;ROCS &amp;#039;&amp;#039;Hsien Yang&amp;#039;&amp;#039; (DD-16)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; và tiếp tục phục vụ cho đến khi bị mắc cạn năm [[1969]]. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên [[Đô đốc]] [[Hugh Rodman]] (1859-1940), người tham gia cuộc [[Chiến tranh Tây Ban Nha-Hoa Kỳ]] và [[Chiến tranh Thế giới thứ nhất]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
{{chính|Gleaves (lớp tàu khu trục)}}&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; được chế tạo tại xưởng tàu của hãng [[Federal Shipbuilding and Drydock Company]] ở [[Kearny, New Jersey]]. Nó được đặt lườn vào ngày [[16 tháng 12]] năm [[1940]]; được hạ thủy vào ngày [[26 tháng 9]] năm [[1941]], và được đỡ đầu bởi bà Albert K. Stebbins, Jr., cháu gái đô đốc Rodman. Con tàu được cho nhập biên chế cùng Hải quân Hoa Kỳ vào ngày [[27 tháng 1]] năm [[1942]] dưới quyền chỉ huy của [[Trung tá Hải quân]] William Giers Michelet.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
=== 1942 ===&lt;br /&gt;
Sau khi hoàn tất chạy thử máy, &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; được phân về Lực lượng Đặc nhiệm 22, và luân phiên các hoạt động huấn luyện và tuần tra tại [[Căn cứ Hải quân Argentia|Argentia]], [[Newfoundland]]. Nó hoạt động hộ tống và canh phòng máy bay cho {{USS|Ranger|CV-4|3}} khi chiếc [[tàu sân bay]] tiến hành huấn luyện phi công hải quân dọc theo bờ biển Đông Bắc Hoa Kỳ; cũng như trong hoạt động vận chuyển máy bay cho Liên đội Tiêm kích 33 [[Không lực Lục quân Hoa Kỳ|Không lực Hoa Kỳ]] đến [[Accra]] ở khu vực [[Gold Coast (khu vực)|Bờ biển Vàng thuộc Anh]], [[châu Phi]] từ ngày [[22 tháng 4]] đến ngày [[28 tháng 5]] năm [[1942]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Được cho tách ra vào [[tháng 6]], &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ [[Newport, Rhode Island]] vào ngày [[1 tháng 7]], hộ tống một đoàn bảy tàu chở quân đi [[Firth of Clyde]], rồi tiếp tục đi đến [[Orkney]], nơi nó hoạt động như một đơn vị thuộc Lực lượng Đặc nhiệm 99 trong thành phần [[Hạm đội Nhà Anh Quốc]]. Đặt căn cứ tại [[Scapa Flow]] vào [[tháng 8]], nó luân phiên các hoạt động tuần tra từ [[Scotland]] và [[Iceland]], bảo vệ cho chặng phía Nam của các đoàn tàu vận tải PQ/QP, vốn là những [[Vận tải Bắc Cực trong Thế Chiến II|Đoàn tàu vận tải Bắc Cực]] vận chuyển hàng tiếp liệu đến các cảng phía Bắc nước [[Nga]] [[Murmansk]] và [[Arkhangelsk]]. Lợi dụng những ngày dài của mùa Hè, [[tàu ngầm]] [[U-boat]] [[Đức Quốc xã|Đức]] cùng máy bay đặt căn cứ tại [[Na Uy]] đã gây tổn thất nghiêm trọng cho những tàu buôn thuộc các đoàn tàu này. Sau tổn thất của [[Đoàn tàu PQ-17]] vào đầu [[tháng 7]], các chuyến đi tiếp theo bị trì hoãn cho đến khi có được sự che chở của bóng đêm mùa Đông Bắc Cực.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cho đến cuối [[tháng 7]], &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; được giao nhiệm vụ trợ giúp đáp ứng yêu cầu tiếp liệu ngay trước mắt cho phía Nga, cũng như của nhân sự Anh và Mỹ tại phía Bắc nước Nga, đồng thời chuẩn bị căn cứ, nhân sự và thiết bị để bảo vệ từ trên không cho các đoàn tàu khi chúng được tái tục. Vào ngày [[17 tháng 8]], nó cùng [[tàu tuần dương hạng nặng]] {{USS|Tuscaloosa|CA-37|3}} và hai tàu khu trục Hoa Kỳ khác rời [[Scapa Flow]], đưa nhân viên y tế và hậu cần cùng trang bị của các liên đội 144 và 145 Hampden [[Không quân Hoàng gia Anh]], bao gồm đạn dược, thuốc nổ, thiết bị [[radar]] và đồ phụ tùng. Đi theo con đường của các tàu khu trục Anh ba tuần trước đó, họ đi đến [[bán đảo Kola]] vào chiều tối ngày [[23 tháng 8]]; máy bay [[Không quân Đức]] đã nằm lại mặt đất suốt thời gian này. Sau khi chất dỡ hàng hóa, các con tàu tiếp nhận những người sống sót là thủy thủ các tàu buôn của các đoàn tàu bất hạnh còn kẹt lại tại Nga, và khởi hành rời vịnh [[Vayenga|Vaenga]] vào ngày [[24 tháng 8]]. Trên đường quay trở về [[Scotland]], các tàu Hoa Kỳ được các tàu khu trục Anh tháp tùng. Đến ngày [[25 tháng 8]], các tàu Anh phát hiện [[tàu rải mìn]] Đức &amp;#039;&amp;#039;Ulm&amp;#039;&amp;#039;, một trong số nhiều tàu tham gia vào chiến dịch rải [[thủy lôi|mìn]] ở các lối đi ra [[Bạch Hải]] và tại vùng biển nông ngoài khơi [[Novaya Zemlya]]. &amp;#039;&amp;#039;Ulm&amp;#039;&amp;#039; bị đánh chìm về phía Đông Nam [[đảo Bear (Na Uy)|đảo Bear]], Na Uy.&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; về đến Firth of Clyde vào ngày [[30 tháng 8]], và đến ngày [[1 tháng 9]] lại lên đường để quay trở về [[New York, New York|New York]]. Sau một đợt đại tu ngắn tại [[Xưởng hải quân Boston]], đến cuối tháng, nó hoạt động huấn luyện và tuần tra dọc theo bờ biển Đông Bắc Hoa Kỳ. Vào ngày [[25 tháng 10]], nó khởi hành cùng Đội đặc nhiệm 34.2 để hỗ trợ cho nhóm đổ bộ của Lực lượng Đặc nhiệm 34 tham gia [[Chiến dịch Torch]], cuộc đổ bộ của lực lượng Đồng Minh lên [[Bắc Phi]]. Vào ngày [[7 tháng 11]], Đơn vị Đặc nhiệm 34.2.3, bao gồm [[tàu sân bay hộ tống]] {{USS|Santee|CVE-29|3}} và các tàu khu trục {{USS|Emmons|DD-457|3}} và &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039;, đã tách khỏi Đội đặc nhiệm 34.2 bảo vệ cho Lực lượng Tấn công phía Nam đi đến mục tiêu. Từ đó cho đến ngày [[11 tháng 11]], &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; bảo vệ cho &amp;#039;&amp;#039;Santee&amp;#039;&amp;#039;, và đi đến [[Safi, Morocco]] để được tiếp liệu. Sang ngày [[13 tháng 11]], nó lên đường quay trở về Hoa Kỳ, về đến [[Norfolk, Virginia]] vào ngày [[24 tháng 11]]. Nó tiếp tục đi đến Xưởng hải quân Boston để được tái trang bị, nơi những khẩu pháo phòng không {{convert|1,1|in|mm|abbr=on}} được thay thế bằng pháo [[Bofors 40 mm]] và [[Oerlikon 20 mm]] hiện đại hơn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1943 ===&lt;br /&gt;
Vào [[tháng 12]] năm [[1942]], &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; đi đến [[kênh đào Panama]] nơi nó hộ tống một đoàn tàu vận tải quay trở lại vùng bờ Đông Hoa Kỳ, đi đến [[Norfolk, Virginia]] vào ngày [[7 tháng 1]] năm [[1943]]. Nó khởi hành ngay ngày hôm sau, gia nhập cùng &amp;#039;&amp;#039;Ranger&amp;#039;&amp;#039; cho hai chuyến vận chuyển máy bay khác sang châu Phi, lần này là đến [[Maroc]]. Trong [[tháng 3]] và [[tháng 4]], nó ở lại khu vực Tây Đại Tây Dương, hoạt động hộ tống và tuần tra trải rộng lên phía Bắc đến tận [[Argentia]], [[Newfoundland]]. Đến [[tháng 5]], nó đi sang Anh Quốc, đi đến Scapa Flow vào ngày [[18 tháng 5]] và gia nhập trở lại Hạm đội Nhà. Trong mùa Hè, nó cùng các tàu chị em tuần tra ngoài khơi [[Scotland]] và [[Iceland]] hộ tống các tàu chiến chủ lực của hạm đội hỗn hợp, bao gồm các thiết giáp hạm {{HMS|Duke of York|17|6}}, {{USS|South Dakota|BB-57|6}} và {{USS|Alabama|BB-60|6}}, khi chúng tìm cách lôi kéo lực lượng [[Hải quân Đức]], đặc biệt là thiết giáp hạm [[Tirpitz (thiết giáp hạm Đức)|&amp;#039;&amp;#039;Tirpitz&amp;#039;&amp;#039;]], ra khỏi các vũng biển ẩn náu tại [[Na Uy]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sang [[tháng 8]], &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; quay trở về Hoa Kỳ, và đến ngày [[1 tháng 9]] lại tiếp nối các hoạt động tuần tra tại Argentia. Được cho tách ra vào [[tháng 10]], nó rời Norfolk vào ngày [[3 tháng 11]] để đi [[Bermuda]], nơi nó khởi hành trong thành phần hộ tống cho thiết giáp hạm {{USS|Iowa|BB-61|3}} đưa [[Tổng thống Hoa Kỳ|Tổng thống]] [[Franklin D. Roosevelt]] trong chặng đầu tiên của hành trình sang tham dự [[Hội nghị Teheran]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1944 ===&lt;br /&gt;
Quay trở về vào giữa [[tháng 12]], &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; bảo vệ cho các tàu sân bay trong các hoạt động thực tập huấn luyện ngoài khơi Newport và [[Portland, Maine]] cho đến [[tháng 4]] năm [[1944]]. Rồi vào ngày [[20 tháng 4]], nó hướng sang phía Đông cùng những chiếc còn lại của Hải đội Khu trục 10, và vào ngày [[1 tháng 5]] đã đi đến ngoài khơi [[Mers-el-Kebir]], nơi nó hoạt động như một đơn vị thuộc Đội đặc nhiệm 80.6, một đội tìm-diệt tàu ngầm được hình thành để hoạt động cùng các Liên đội Không lực ven biển Bắc Phi, có vai trò chống tàu ngầm U-boat bảo vệ tàu bè trong khu vực rộng {{convert|325|nmi|km|abbr=on}} giữa [[eo biển Gibraltar]] và [[Oran]]. Những nỗ lực phối hợp không-biển của lực lượng hỗn hợp Anh-Mỹ nhằm ép buộc những chiếc U-boat phải lặn đến mức kiệt sức trước khi áp đảo chúng khi chúng nổi lên, đòi hỏi thời gian và sự nhẫn nại cũng như phối hợp hành động. Hoạt động này đã khiến cắt giảm số tàu ngầm U-boat hoạt động tại Địa Trung Hải chỉ còn một phần ba từ [[tháng 3]] đến [[tháng 6]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào ngày [[14 tháng 5]], &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; cùng với phần còn lại của hải đội rời Mers-el-Kebir săn đuổi một tàu ngầm đối phương vốn đã đánh chìm bốn tàu buôn trong vòng hai ngày. Một cuộc săn đuổi không biển kéo dài 72 giờ diễn ra sau đó, cho đến sáng ngày [[17 tháng 5]], khi chiếc tàu ngầm [[U-616 (tàu ngầm Đức)|&amp;#039;&amp;#039;U-616&amp;#039;&amp;#039;]] bị hư hại buộc phải nổi lên mặt nước, bị bỏ lại và bị đánh chìm. Lực lượng đã cứu vớt những người sống sót và rút lui về Mers-el-Kebir, để rồi lại lên đường quay trở về Anh vào ngày hôm sau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào ngày [[22 tháng 5]], &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; đi đến [[Plymouth]], và sang ngày [[23 tháng 5]] đã làm nhiệm vụ cùng Đơn vị Đặc nhiệm 126.2.1 trong [[Chiến dịch Neptune]], giai đoạn hải quân của [[Chiến dịch Overlord]], cuộc đổ bộ chủ yếu của lực lượng Đồng Minh lên miền Bắc nước [[Pháp]]. Vào ngày [[24 tháng 5]], nó thực tập bắn phá bờ biển; rồi đến ngày [[4 tháng 6]] Đoàn tàu &amp;quot;B-1&amp;quot; được hình thành bắt đầu băng qua [[eo biển Manche]], nhưng lại bị gọi quay trở lại do kế hoạch bị trì hoãn thêm một ngày. Sang ngày [[5 tháng 6]] đoàn tàu lại được tập trung để hướng sang phía Đông, tiếp tục đi đến bờ biển nước Pháp để đổ bộ lực lượng tăng viện lên [[bãi Omaha]] vào xế trưa ngày [[6 tháng 6]]. Được tách ra sau khi đi đến khu vực tấn công, chiếc tàu khu trục gia nhập Đội đặc nhiệm 122.4, và cho đến ngày [[16 tháng 6]] đã bắn hỏa lực hỗ trợ và tuần tra tại [[Baie de la Seine]]. Nó có được một lượt nghỉ ngơi ngắn tại Plymouth, nhưng đến ngày [[18 tháng 6]] lại đi đến bờ biển [[Normandy]]. Quay trở lại vùng biển Anh từ ngày [[21 tháng 6|21]] đến ngày [[24 tháng 6]], nó tham gia cùng Lực lượng Đặc nhiệm 129 trong cuộc [[Bắn phá Cherbourg]] vào ngày [[25 tháng 6]] khi họ tham gia cùng [[Không lực IX Hoa Kỳ]] hỗ trợ cho các đơn vị thuộc [[Quân đoàn 7 (Hoa Kỳ)|Quân đoàn 7 Hoa Kỳ]]: các [[Sư đoàn 9 Bộ binh (Hoa Kỳ)|sư đoàn bộ binh 9]], [[Sư đoàn 79 Bộ binh (Hoa Kỳ)|79]] và [[Sư đoàn 4 Bộ binh (Hoa Kỳ)|4]] trong việc [[Trận Cherbourg|chiếm đóng]] [[Cherbourg]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; quay trở lại Anh cùng ngày hôm đó, và lại ra khơi vào ngày [[30 tháng 6]]; và sau một chặng dừng ba ngày tại Belfast đã lên đường hướng sang [[Địa Trung Hải]] để tham gia [[Chiến dịch Dragoon]], cuộc đổ bộ của lực lượng Đồng Minh lên miền Nam nước Pháp. Đi đến Mers-el-Kebir vào ngày [[11 tháng 7]], nó lên đường đi Sicily vào ngày [[16 tháng 7]], và cho đến [[tháng 8]] đã hoạt động giữa đảo này, bờ biển Ý và [[Malta]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Được phân về Đơn vị Đặc nhiệm 85.12.4 vào ngày [[11 tháng 8]], &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ [[Taranto]]; các tàu chiến Pháp cùng tham gia hai ngày sau đó. Đến ngày [[15 tháng 8]], lực lượng đi đến ngoài khơi khu vực tấn công Delta trong [[vịnh Bougnon]]. Từ 04 giờ 30 phút đến 06 giờ 41 phút, chiếc tàu khu trục bảo vệ cho các tàu quét mìn quét các luồng vào bãi đổ bộ, rồi tiếp nối bắn phá bờ biển trong hai giờ. Sau đó nó chuyển sang nhiệm vụ bắn pháo theo yêu cầu, vốn kéo dài cùng với nhiệm vụ phòng không cho đến khi rút lui về [[Palermo]] vào ngày [[17 tháng 8]]. Quay trở lại miền Nam nước Pháp vào ngày [[22 tháng 8]], nó khai hỏa nhắm vào các khẩu đội pháo bờ biển tại [[Toulon]] vào ngày [[23 tháng 8]], bảo vệ các hoạt động quét mìn tại [[vịnh Fos]] vào ngày [[25 tháng 8]], và trong [[vịnh Marseilles]] vào ngày [[26 tháng 8]]. Tham gia các hoạt động bảo vệ và tuần tra cho đến cuối tháng, chiếc tàu khu trục khởi hành đi Oran vào ngày [[2 tháng 9]], và trong một tháng rưỡi tiếp theo sau đã hộ tống vận chuyển nhân sự và tiếp liệu đến khu vực tấn công.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến cuối [[tháng 10]], Hải đội Khu trục 10 hộ tống một đoàn tàu vận tải quay trở về Hoa Kỳ. Từ New York, &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; tiếp tục đi đến [[Xưởng hải quân Boston]] để được cải biến thành một tàu khu trục quét mìn. Ra khỏi xưởng tàu với ký hiệu lườn mới &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DMS-21&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; vào ngày [[16 tháng 12]], nó lên đường đi Norfolk một tuần sau đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
===1945===&lt;br /&gt;
Vào ngày [[1 tháng 1]] năm [[1945]], &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; lên đường đi sang khu vực [[Thái Bình Dương]]. Trong thời gian còn lại của tháng và sang [[tháng 2]], nó tiến hành thực tập quét mìn và tác xạ ngoài khơi bờ biển [[California]] và vùng biển [[Hawaii]] trước khi lên đường đi sang phía Tây. Vào ngày [[12 tháng 3]], con tàu thả neo tại [[Ulithi]] để rồi lại lên đường bảy ngày sau đó đi [[quần đảo Ryukyu]], tham gia chiến dịch đổ bộ cuối cùng của nó, [[Chiến dịch Iceberg]]. Trong các ngày [[24 tháng 3|24]] và [[25 tháng 3]], nó tham gia các hoạt động quét mìn ngoài khơi [[Kerama Retto]], chuẩn bị cho cuộc [[Trận Okinawa|cuộc đổ bộ]] lên [[Okinawa]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi cuộc đổ bộ lên bãi biển [[Hagushi]] bắt đầu vào ngày [[1 tháng 4]], &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; tiếp tục ở lại khu vực này và bị lôi kéo vào các cuộc đối đầu không lực đối phương từ vào ngày [[6 tháng 4]]. Được phân nhiệm vụ cột mốc canh phòng vào sáng sớm ngày này, nó sau đó chuyển sang nhiệm vụ bảo vệ, cùng với chiếc tàu quét mìn {{USS|Emmons|DMS-22|3}} bảo vệ các tàu quét mìn nhỏ càn quét eo biển giữa [[Iheya Retto]] và Okinawa. Đến buổi chiều, một tốp đông máy bay tấn công cảm tử [[Kamikaze]] xuất hiện, và đến 15 giờ 32 phút, chiếc dẫn đầu ló ra khỏi mây đâm bổ vào mũi tàu &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; bên mạn trái, quả bom phát nổ bên dưới con tàu. Mười sáu người đã thiệt mạng hay mất tích, và thêm 20 người khác bị thương, nhưng động cơ con tàu vẫn tiếp tục hoạt động. &amp;#039;&amp;#039;Emmons&amp;#039;&amp;#039; lượn vòng chung quanh &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; để trợ giúp phòng không khi những máy bay tự sát khác tiếp tục bay đến; sáu chiếc đã bị bắn rơi. Những [[máy bay tiêm kích]] [[F4U Corsair]] của [[Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ|Thủy quân Lục chiến]] xuất hiện trợ giúp vào việc đánh đuổi, bắn rơi được 20 máy bay đối phương, nhưng không ngăn được những chiếc khác lao vào mục tiêu. &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; bị đánh trúng thêm hai lần nữa trong trận chiến kéo dài ba giờ rưỡi; &amp;#039;&amp;#039;Emmons&amp;#039;&amp;#039; bắn rơi thêm sáu chiếc nữa nhưng bản thân nó bị đâm trúng năm lần và hư hại bởi bốn cú tấn công suýt trúng. Xác tàu của nó phải bị đánh chìm vào ngày hôm sau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ ngày [[7 tháng 4]] đến ngày [[5 tháng 5]], &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; được sửa chữa tạm thời tại Kerama Retto, trước khi bắt đầu hành trình quay trở về Hoa Kỳ. Về đến [[Xưởng hải quân Charleston]] vào ngày [[19 tháng 6]]. Việc sửa chữa nó hoàn tất vào giữa [[tháng 10]], khi chiến tranh đã kết thúc, và vào ngày [[22 tháng 10]], nó lên đường đi [[Casco Bay]], [[Maine]] để huấn luyện ôn tập.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Sau chiến tranh ===&lt;br /&gt;
[[Tập tin:USS Rodman (DMS-21) in heavy seas 1954.jpg|thumb|USS &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; (DMS-21) trên đường đi, năm 1954.]]&lt;br /&gt;
Trong ba năm tiếp theo, &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; hoạt động dọc theo vùng bờ Đông Hoa Kỳ, trải dài từ [[Newfoundland]] đến vùng [[biển Caribe]]; rồi đến [[tháng 9]] năm [[1949]], nó được bố trí sang [[Địa Trung Hải]] nhưng chỉ hoạt động trong vòng hai tuần. Nó quay trở lại hoạt động tại khu vực bờ biển [[Đại Tây Dương]], trong sáu năm tiếp theo còn được bố trí sang Địa Trung Hải thêm hai lần nữa; cả hai lượt đều phục vụ trong năm tháng cùng [[Đệ Lục hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Lục hạm đội]], từ ngày [[2 tháng 6]] đến ngày [[1 tháng 10]] năm [[1952]] và từ ngày [[19 tháng 1]] đến ngày [[17 tháng 5]] năm [[1954]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Được xếp lại lớp với ký hiệu lườn mới &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;DD-456&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; vào ngày [[15 tháng 1]] năm [[1955]], &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; được cho xuất biên chế vào ngày [[28 tháng 7]] năm [[1955]], và được chuyển cho [[Trung Hoa dân quốc]] cùng ngày hôm đó để phục vụ như là chiếc &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;RCS &amp;#039;&amp;#039;Hsien Yang&amp;#039;&amp;#039; (DD-16)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;. Sau khi bị mắc cạn vào năm [[1969]], tên và số hiệu lườn của nó được chuyển cho chiếc nguyên là tàu khu trục {{USS|Macomb|DD-458}}, vốn sở hữu từ năm [[1970]].&amp;lt;ref name=Janes-73/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Phần thưởng ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng năm [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
{{tham khảo|30em}}&lt;br /&gt;
* Bài này có các trích dẫn từ nguồn [[:en:Dictionary of American Naval Fighting Ships]] thuộc [[phạm vi công cộng]]: http://www.history.navy.mil/danfs/r8/rodman.htm{{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20120916075613/http://www.history.navy.mil/danfs/r8/rodman.htm |date=2012-09-16 }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
* [http://destroyerhistory.org/benson-gleavesclass/ussrodman/ USS &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039; page] at [http://destroyerhistory.org/ Destroyer History Foundation]&lt;br /&gt;
* [http://www.history.navy.mil/danfs/r8/rodman.htm history.navy.mil: USS &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039;]{{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20120916075613/http://www.history.navy.mil/danfs/r8/rodman.htm |date=2012-09-16 }}&lt;br /&gt;
* [http://www.navsource.org/archives/05/456.htm navsource.org: USS &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039;] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20120514092947/http://www.navsource.org/archives/05/456.htm |date=2012-05-14 }}&lt;br /&gt;
* [http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd456txt.htm hazegray.org: USS &amp;#039;&amp;#039;Rodman&amp;#039;&amp;#039;] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20120510094342/http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd456txt.htm |date=2012-05-10 }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;!-- non-breaking space to keep AWB drones from altering the space before the navbox--&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu khu trục Gleaves}}&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Mỹ}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Rodman (DD-456)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu khu trục Gleaves]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu quét mìn của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu quét mìn trong Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Hải quân Trung Hoa dân quốc]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Chiến tranh Lạnh]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu thủy năm 1941]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Sự cố hàng hải năm 1969]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;InternetArchiveBot</name></author>
	</entry>
</feed>