<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Stoddard_%28DD-566%29</id>
	<title>USS Stoddard (DD-566) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Stoddard_%28DD-566%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Stoddard_(DD-566)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-11T14:29:01Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Stoddard_(DD-566)&amp;diff=6546621&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;InternetArchiveBot: Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Stoddard_(DD-566)&amp;diff=6546621&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-06-18T09:33:00Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image= [[Tập tin:USS Stoddard (DD-566) underway in April 1944.jpg|300px|USS Stoddard (DD-566) underway in April 1944]]&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu khu trục USS &amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039; (DD-566) trên đường đi, [[tháng 4]] năm [[1944]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
| Ship country = Hoa Kỳ&lt;br /&gt;
| Ship flag = {{USN flag|1969}}&lt;br /&gt;
| Ship name = USS &amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039; (DD-566)&lt;br /&gt;
| Ship namesake = [[James Stoddard (thủy thủ)|James Stoddard]]&lt;br /&gt;
| Ship ordered = &lt;br /&gt;
| Ship awarded = &lt;br /&gt;
| Ship builder = [[Seattle-Tacoma Shipbuilding Corporation]], [[Seattle, Washington]]&lt;br /&gt;
| Ship original cost = &lt;br /&gt;
| Ship laid down = [[10 tháng 3]] năm [[1943]]&lt;br /&gt;
| Ship launched = [[19 tháng 11]] năm [[1943]]&lt;br /&gt;
| Ship sponsor = bà Mildred Gould Holcomb&lt;br /&gt;
| Ship completed = &lt;br /&gt;
| Ship acquired = &lt;br /&gt;
| Ship commissioned = [[15 tháng 4]] năm [[1944]]&lt;br /&gt;
| Ship recommissioned = [[9 tháng 3]] năm [[1951]]&lt;br /&gt;
| Ship decommissioned = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| [[tháng 1]] năm [[1947]]&lt;br /&gt;
| [[26 tháng 9]] năm [[1969]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship in service = &lt;br /&gt;
| Ship out of service = &lt;br /&gt;
| Ship renamed = &lt;br /&gt;
| Ship reclassified = &lt;br /&gt;
| Ship struck = [[1 tháng 6]] năm [[1975]]&lt;br /&gt;
| Ship nickname = &lt;br /&gt;
| Ship honors = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 3 × [[Ngôi sao Chiến trận]] (Thế Chiến II);&lt;br /&gt;
| 3 × Ngôi sao Chiến trận (Chiến tranh Việt Nam)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship captured = &lt;br /&gt;
| Ship fate = B đánh chìm như mục tiêu, [[22 tháng 7]] năm [[1997]]&lt;br /&gt;
| Ship status = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
| Ship class = [[Fletcher (lớp tàu khu trục)|Lớp tàu khu trục &amp;#039;&amp;#039;Fletcher&amp;#039;&amp;#039;]]&lt;br /&gt;
| Ship type = [[Tàu khu trục]]&lt;br /&gt;
| Ship displacement = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|2100|LT|t|abbr=on}} (tiêu chuẩn)&lt;br /&gt;
| {{convert|2924|LT|t|abbr=on}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship length = {{convert|376|ft|5|in|m|abbr=on}} (chung)&lt;br /&gt;
| Ship beam = {{convert|39|ft|08|in|m|abbr=on}} (chung)&lt;br /&gt;
| Ship draft = {{convert|13|ft|9|in|m|abbr=on}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
| Ship propulsion = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 2 × turbine hơi nước hộp số&lt;br /&gt;
| 2 × trục&lt;br /&gt;
| công suất {{convert| 60000|shp|kW|abbr=on|lk=on}}&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship speed = {{convert|36|kn|mph km/h|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship range = {{convert|6500|nmi|km|-3|abbr=on}} ở tốc độ {{convert|15|kn|mph km/h|0|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship endurance = &lt;br /&gt;
| Ship boats = &lt;br /&gt;
| Ship complement = 319 sĩ quan và thủy thủ&lt;br /&gt;
| Ship crew = &lt;br /&gt;
| Ship sensors = &lt;br /&gt;
| Ship EW = &lt;br /&gt;
| Ship armament = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 5 × pháo [[Hải pháo 5 inch/38 caliber|{{convert|5|in|mm|abbr=on}}/38 caliber]] (5×1);&lt;br /&gt;
| 4 × pháo phòng không [[Bofors 40 mm]];&lt;br /&gt;
| 4 × pháo phòng không [[Oerlikon 20 mm]];&lt;br /&gt;
| 10 × ống phóng [[ngư lôi]] [[Ngư lôi Mark 15|Mark 15]] {{convert|21|in|mm|abbr=on}} (2×5);&lt;br /&gt;
| 6 × máy phóng [[K-gun]] và 2 × đường ray thả [[mìn sâu]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship armor = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft facilities = &lt;br /&gt;
| Ship notes = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;USS &amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039; (DD-566)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; là một [[tàu khu trục]] [[Fletcher (lớp tàu khu trục)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Fletcher&amp;#039;&amp;#039;]] được [[Hải quân Hoa Kỳ]] chế tạo trong [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]]. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Mỹ được đặt theo tên [[James Stoddard (thủy thủ)|James Stoddard]] (1838-?), một hạ sĩ quan được trao tặng [[Huân chương Danh dự]] trong cuộc [[Nội chiến Hoa Kỳ]]. Nó hoạt động cho đến hết Thế Chiến II, được cho xuất biên chế năm [[1947]], rồi nhập biên chế trở lại năm [[1951]] và đã tiếp tục phục vụ trong [[Chiến tranh Việt Nam]]. Nó ngừng hoạt động năm [[1969]], rút đăng bạ năm [[1975]], nhưng tiếp tục phục vụ như là mục tiêu thử nghiệm các hệ thống phòng thủ tầm gần hiện đại, bao gồm [[Phalanx CIWS]], cho đến khi bị đánh chìm năm [[1997]]. Nó được tặng thưởng ba [[Ngôi sao Chiến trận]] trong Thế Chiến II, và thêm ba Ngôi sao Chiến trận khác tại Việt Nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
{{main|Fletcher (lớp tàu khu trục)}}&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039; được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng [[Seattle-Tacoma Shipbuilding Corporation]] ở [[Seattle, Washington|Seattle]], [[Washington]] vào ngày [[10 tháng 3]] năm [[1943]]. Nó được hạ thủy vào ngày [[19 tháng 11]] năm [[1943]]; được đỡ đầu bởi bà Mildred Gould Holcomb; và nhập biên chế vào ngày [[15 tháng 4]] năm [[1944]] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, [[Trung tá Hải quân]] Horace Meyers.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
=== Thế Chiến II ===&lt;br /&gt;
==== Chiến dịch Bắc Thái Bình Dương ====&lt;br /&gt;
Sau khi hoàn tất chạy thử máy huấn luyện ngoài khơi [[San Diego, California]] và đại tu sau thử máy tại Seattle, &amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039; rời vùng bờ Tây vào ngày [[16 tháng 7]] năm [[1944]] hộ tống một đoàn tàu vận tải đi sang khu vực [[quần đảo Hawaii]], đi đến [[Trân Châu Cảng]] vào ngày [[29 tháng 7]]. Nó trải qua một đợt sửa chữa ngắn khác tại đây trước khi hướng lên phía Bắc. Nó đi đến [[Adak, Alaska]] vào ngày [[8 tháng 8]], gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 94, bao gồm các [[tàu tuần dương hạng nhẹ]] {{USS|Trenton|CL-11|3}}, {{USS|Concord|CL-10|3}}, {{USS|Richmond|CL-9|3}} và các tàu khu trục của Đội khu trục 57.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhiệm vụ của Lực lượng Đặc nhiệm 94 là quấy phá các tiền đồn của [[Đế quốc Nhật Bản]] trên [[quần đảo Kuril]] ở phía Đông Bắc của chính quốc [[Nhật Bản]], về phía Tây của [[quần đảo Aleut]]. Đến ngày [[14 tháng 8]], &amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039; lên đường cùng lực lượng đặc nhiệm cho đợt tấn công càn quét đầu tiên xuống các căn cứ tiền phương của đối phương. Tuy nhiên, hoàn cảnh thời tiết xấu buộc các con tàu phải hủy bỏ nhiệm vụ. Lực lượng Đặc nhiệm 94 được đổi tên thành Lực lượng Đặc nhiệm 92 giữa hai lượt nhiệm vụ, và đợt thứ hai lại bắt đầu vào ngày [[26 tháng 8]]. Thời tiết xấu một lần nữa làm hỏng cuộc tấn công, và lực lượng đặc nhiệm rút lui về [[đảo Attu]]. Các cơn bão nặng nề thường xuyên diễn ra khiến Lực lượng Đặc nhiệm 92 chỉ có thể tung ra cuộc đột kích vào cuối [[tháng 11]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lúc chiều tối ngày [[21 tháng 11]], lực lượng tuần dương-khu trục đã bắn phá các căn cứ của [[Đế quốc Nhật Bản|Nhật Bản]] tại [[Matsuwa]], gây hư hại nặng cho sân bay và các cơ sở quân sự tại đây. Thời tiết bất lợi do gió mạnh và biển động khiến Lực lượng Đặc nhiệm 92 chỉ rút lui ở vận tốc {{convert|9|kn|km/h|abbr=on}}, nhưng cũng ngăn trở sự truy đuổi của máy bay đối phương. Các con tàu quay trở về Attu an toàn vào ngày [[25 tháng 11]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ Adak, Đội khu trục 113 bao gồm &amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039; đã đi đến căn cứ [[tàu ngầm]] tại [[Dutch Harbor]], và sau khi trải qua hai tuần lễ của [[tháng 12]] tại đây, nó ra khơi vào ngày [[13 tháng 12]], gia nhập trở lại Lực lượng Đặc nhiệm 92. Vào ngày [[3 tháng 1]] năm [[1945]], lực lượng lên đường cho một đợt càn quét khác đến quần đảo Kuril. Hai ngày sau, trong hoàn cảnh có mưa tuyết nhưng biển lặng, lực lượng bắn phá khu vực [[Surabachi Wan]] thuộc [[Paramushiro]], phá hủy các cơ sở và sân bay tại đây. Lực lượng Đặc nhiệm 92 rút lui về phía Attu với tốc độ cao, về đến Dutch Harbor vào ngày [[13 tháng 1]], và được nghỉ ngơi mười ngày.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào ngày [[16 tháng 1]], &amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039; và {{USS|Rowe|DD-564|3}} đi về phía Nam để thực tập huấn luyện tại khu vực quần đảo Hawaii. Họ đi đến Trân Châu Cảng vào ngày [[22 tháng 1]], và lại khởi hành vào ngày [[7 tháng 2]] để quay trở lại Attu. Họ đi đến [[vịnh Massacre]] vào ngày [[13 tháng 2]], kịp thời để gia nhập lực lượng được tập trung cho đợt bắn phá [[Kuabu Zaki]]. Các con tàu ra khơi vào ngày [[16 tháng 2]], đi đến ngoài khơi Paramushiro lúc bình minh ngày [[18 tháng 2]], bắn phá hòn đảo này cho đến nữa đêm trước khi rút lui về Attu, đến nơi vào ngày [[20 tháng 2]]. Ba ngày sau, họ chuyển sang Adak để tiếp liệu và sửa chữa. Lực lượng quay trở lại Attu vào ngày [[8 tháng 3]], và đến ngày [[15 tháng 3]], họ lại tấn công Matsuwa một lần nữa. Từ ngày [[1 tháng 4|1]] đến ngày [[17 tháng 4]], chiếc tàu khu trục tham gia cùng lực lượng đặc nhiệm để thực tập tại khu vực phụ cận Adak, và đến ngày [[18 tháng 4]], nó cùng phần còn lại của Đội khu trục 113 rời khu vực Aleut.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Trận Okinawa ====&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039; đi vào Trân Châu Cảng lần thứ ba vào ngày [[24 tháng 4]], và trong gần một tháng, thủy thủ đoàn được nghỉ ngơi và huấn luyện chiến thuật nhằm chuẩn bị để được phái đến [[Okinawa]] cùng lực lượng đặc nhiệm tàu sân bay nhanh. Nó khởi hành từ Trân Châu Cảng vào ngày [[11 tháng 5]] trong thành phần hộ tống cho tàu sân bay {{USS|Ticonderoga|CV-14|3}} để hướng sang [[Ulithi]]. Trên đường đi, các đội bay của &amp;#039;&amp;#039;Ticonderoga&amp;#039;&amp;#039; có dịp thực tập bắn đạn thật vào ngày [[17 tháng 5]], khi họ ném bom bắn phá lực lượng Nhật Bản bị cô lập trên đảo [[Taroa]] và các đảo nhỏ khác thuộc [[đảo san hô Maloelap]]. Đội đặc nhiệm đi đến vũng biển Ulithi vào ngày [[22 tháng 5]], và một tuần sau đó, chiếc tàu khu trục khởi hành để đi Okinawa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039; đi đến ngoài khơi Okinawa vào ngày [[2 tháng 6]], bắt đầu làm nhiệm vụ cột mốc [[radar]] canh phòng. Cho dù [[Trận Okinawa]] sắp đi vào giai đoạn kết thúc, các sân bay lân cận của đối phương tại chính quốc Nhật Bản và [[Đài Loan]] cho phép không quân đối phương quấy phá liên tục các con tàu chung quanh hòn đảo. Những cơn hồng thủy [[Kamikaze]] lớn nhất đã trôi qua, nhưng bầu trời vẫn còn một số lượng lớn máy bay tấn công tự sát. Chiếc tàu khu trục đã bảo vệ cho nhiều tàu chở hàng rút lui vào ngày [[4 tháng 6]] để né tránh một cơn [[bão]], rồi quay trở lại vị trí canh phòng. Lúc hoàng hôn ngày [[7 tháng 6]], hai máy bay đối phương tấn công nhưng đều bị bắn rơi xuống biển trước khi đến được con tàu. Trong lượt phục vụ canh phòng, bản thân con tàu đã bắn rơi hai máy bay đối phương, trợ giúp tiêu diệt hai chiếc khác, và có thể đã bắn rơi một chiếc nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039; rời Okinawa vào ngày [[17 tháng 6]] trong thành phần hộ tống cho [[thiết giáp hạm]] {{USS|Mississippi|BB-41|3}}. Ba ngày sau, nó băng qua [[eo biển Surigao]] để tiến vào [[vịnh Leyte]], và trong thời gian còn lại của [[tháng 6]] nó được sửa chữa và tiếp liệu tại [[vịnh San Pedro (Philippines)|vịnh San Pedro]]. Con tàu lại ra khơi vào ngày [[1 tháng 7]] trong thành phần hộ tống cho Lực lượng Đặc nhiệm 38, lực lượng đặc nhiệm tàu sân bay nhanh. Trong 45 ngày tiếp theo, nó bảo vệ cho các tàu sân bay khi máy bay của chúng liên tiếp tấn công xuống các đảo chính quốc Nhật Bản. Nó được cho tách ra vào ngày [[23 tháng 7]] để gia nhập Đội khu trục 113 trong nhiệm vụ bắn phá [[Chichi-jima]] thuộc quần đảo [[quần đảo Ogasawara|Bonin]]. Sau khi xung đột kết thúc vào ngày [[15 tháng 8]], nó tiếp tục hoạt động cùng Lực lượng Đặc nhiệm 38 tại vùng biển gần Nhật Bản để hỗ trợ cho lực lượng chiếm đóng. Nó rời vùng biển Nhật Bản từ ngày [[21 tháng 9]] đến ngày [[7 tháng 10]] để được bảo trì tại [[Eniwetok]], rồi quay trở lại cho các hoạt động huấn luyện cho đến [[tháng 11]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào ngày [[18 tháng 11]], &amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039; rời vùng biển Nhật Bản để quay trở về Hoa Kỳ. Nó băng qua [[kênh đào Panama]] một tháng sau đó và đi đến [[Xưởng hải quân Philadelphia]] hai ngày trước lễ [[Giáng Sinh]]. Công việc đại tu trong xưởng tàu kéo dài cho đến cuối [[tháng 3]] năm [[1946]], và sau đó nó đưa hành khách đi đến [[Charleston, South Carolina|Charleston]], [[South Carolina]] vào [[tháng 4]]. Con tàu được đại tu để chuẩn bị ngừng hoạt động tại [[Xưởng hải quân Charleston]] vào ngày [[8 tháng 7]], và được rút biên chế vào [[tháng 1]] năm [[1947]], neo đậu cùng Hạm đội Dự bị Đại Tây Dương tại Charleston.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1950 - 1965 ===&lt;br /&gt;
[[Tập tin:USS Mullany (DD-528) and USS Stoddard (DD-566) at Pearl Harbor c1960.jpg|thumb|{{USS|Mullany|DD-528|3}} và &amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039; tại Trân Châu Cảng, 1960.]]&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039; được huy động trở lại vào [[tháng 11]] năm [[1950]], và nhập biên chế vào ngày [[9 tháng 3]] năm [[1951]] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân Eli T. Reich. Nó được trang bị tại Xưởng hải quân Charleston và tại [[Newport, Rhode Island]], rồi tiến hành chạy thử máy ngoài khơi Newport và [[vịnh Guantánamo, Cuba|vịnh Guantánamo]], [[Cuba]]. Chiếc tàu khu trục được bố trí hoạt động cùng [[Đệ Lục hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Lục hạm đội]] tại [[Địa Trung Hải]], xen kẻ với được bảo trì tại Philadelphia và hoạt động dọc theo bờ biển Đại Tây Dương của Hoa Kỳ, cho đến [[tháng 12]] năm [[1954]], khi nó băng qua kênh đào Panama để gia nhập [[Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ|Hạm đội Thái Bình Dương]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào [[tháng 1]] năm [[1955]], &amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039; lên đường cho lượt bố trí đầu tiên sang khu vực Tây Thái Bình Dương kể từ sau Thế Chiến II, và không lâu sau khi đến nơi nó tham gia cuộc triệt thoái lực lượng [[Trung Hoa dân quốc]] khỏi quần đảo [[Đại Trần]] thuộc [[Chiết Giang]], [[Trung Quốc]]. Sau đó, nó phục vụ tuần tra tại [[eo biển Đài Loan]]. Từ đó, nó xen kẻ các lượt được bố trí hoạt động tại Viễn Đông với các hoạt động thường lệ dọc theo vùng bờ Tây; trong mười năm tiếp theo, nó tập trung các hoạt động tại khu vực [[Biển Đông]] và eo biển Đài Loan, vốn là khu vực tiềm ẩn khả năng xung đột và bất ổn. Đến năm [[1961]], cuộc khủng hoảng chính trị đưa đến nội chiến tại [[Lào]] đã khiến nó chuyển trọng tâm hoạt động sang khu vực [[Đông Nam Á]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Chiến tranh Việt Nam 1965 - 1968 ===&lt;br /&gt;
Vào ngày [[4 tháng 6]] năm [[1965]], &amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ San Diego cho phục vụ thường lệ sang khu vực Viễn Đông. Đến giữa [[tháng 6]], nó hoạt động dọc theo bờ biển [[Việt Nam]] chủ yếu tại các khu vực chiến sự nguy hiểm, bắn pháo hỗ trợ cho lực lượng Hoa Kỳ và [[Quân đội Việt Nam Cộng Hòa|Nam Việt Nam]] trên bờ trong các hoạt động chống lực lượng [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]]. Sau khi được bảo trì tại [[Nhật Bản]] và nghỉ ngơi tại [[Hong Kong]], nó tham gia cùng tàu sân bay {{USS|Independence|CVA-61|3}} tại [[trạm Yankee]], phục vụ như tàu canh phòng máy bay và bảo vệ cho chính chiếc tàu sân bay. Đến đầu [[tháng 11]], nó quay trở lại Nhật Bản để chuẩn bị quay trở về Hoa Kỳ, rời [[Sasebo]] vào ngày [[5 tháng 11]] và về đến San Diego vào ngày [[24 tháng 11]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039; trải qua một năm tiếp theo hoạt động cùng [[Đệ Nhất hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Nhất hạm đội]] tại vùng biển ngoài khơi bờ Tây Hoa Kỳ, duy trì tình trạng sẵn sàng chiến đấu qua các đợt huấn luyện, thực hành tác xạ và thực tập [[chiến tranh chống tàu ngầm|chống tàu ngầm]]. Đến ngày [[5 tháng 11]] năm [[1966]], nó rời San Diego để đi Trân Châu Cảng, trải qua các ngày [[10 tháng 11|10]] và [[11 tháng 11]] tại đây trước khi tiếp tụ hành trình đi sang Nhật Bản. Đi đến [[Yokosuka]] vào ngày [[20 tháng 11]], con tàu ở lại đây cho đến ngày [[26 tháng 11]], khi nó lên đường đi [[vịnh Subic]] thuộc [[Philippines]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giống như lượt bố trí trước đó, nhiệm vụ của &amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039; là hỗ trợ cho các chiến dịch của lực lượng Hoa Kỳ và quân đội Việt Nam Cộng Hòa chống lại lực lượng [[Cộng sản]]. Chiếc tàu khu trục đã có ba đợt hoạt động trong lượt bố trí ngoài khơi Việt Nam này. Từ ngày [[2 tháng 12]] năm [[1966]] đến ngày [[4 tháng 1]] năm [[1967]], nó làm nhiệm vụ canh phòng máy bay cho tàu sân bay {{USS|Kitty Hawk|CVA-63|3}} trong [[vịnh Bắc Bộ]]. Sau khi được bảo trì và tiếp liệu tại vịnh Subic, nó quay trở lại trạm Yankee vào ngày [[17 tháng 1]], và trong một tháng tiếp theo đã tuần tra nhân dịp [[Tết Nguyên đán]], và tham gia [[Chiến dịch Sea Dragon (Chiến tranh Việt Nam)|Chiến dịch Sea Dragon]], hoạt động can thiệp chống tàu bè tiếp tế của đối phương. Trong một tháng nó đã đánh chìm 26 xuồng tiếp liệu nhỏ và nhiều lần đấu pháo cùng các khẩu đội pháo bờ biển của đối phương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039; quay trở về vịnh Subic vào ngày [[16 tháng 2]] năm [[1967]] để bảo trì, rồi lên đường đi Hong Kong bốn ngày sau đó để nghỉ ngơi. Nó quay trở lại Trạm Yankee vào ngày [[3 tháng 3]] cho đợt hoạt động cuối cùng của lượt phục vụ này. Sau năm ngày làm nhiệm vụ canh phòng máy bay cho tàu sân bay &amp;#039;&amp;#039;Kitty Hawk&amp;#039;&amp;#039;, nó chuyển sang nhiệm vụ Sea Dragon, tăng cường bắn phá bờ biển và [[phản pháo]] đối phương. Nó đã phá hủy các cơ sở radar, kho đạn, khu vực tập trung quân và những khẩu đội pháo bờ biển; và đã chịu đựng những hư hại nhẹ do pháo đối phương khi giải cứu một phi công bị bắn rơi vào ngày [[17 tháng 3]], bị bắn trúng trực tiếp một quả đạn pháo. Nó trải qua năm ngày sau cùng của lượt phục vụ để canh phòng máy bay cho tàu sân bay {{USS|Hancock|CVA-19|3}}.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau các chặng dừng tại Sasebo và Yokosuka, &amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039; lên đường vào ngày [[20 tháng 4]] để quay trở về Hoa Kỳ, đi ngang qua [[đảo san hô Midway]] và Trân Châu Cảng, và về đến San Diego vào ngày [[5 tháng 5]]. Con tàu tham gia huấn luyện học viên sĩ quan thuộc [[Học viện Hải quân Hoa Kỳ]] trong [[tháng 5]] và đầu [[tháng 6]], rồi hoạt động tại chỗ cho đến ngày [[22 tháng 9]], khi nó đi vào [[Xưởng hải quân Long Beach]] để đại tu. Công việc trong xưởng tàu hoàn tất vào ngày [[19 tháng 12]], và con tàu tiếp nối các hoạt động tại chỗ ngoài khơi San Diego vào ngày hôm sau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào ngày [[10 tháng 6]] năm [[1968]], &amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039; lên đường cùng các tàu khu trục {{USS|Richmond K. Turner|DLG-20|3}} và {{USS|Ingersoll|DD-652|3}} cho lượt bố trí cuối cùng sang Tây Thái Bình Dương. Nó đi đến Trân Châu Cảng vào ngày [[16 tháng 6]], và sau các chặng dừng tiếp nhiên liệu tại Midway và Guam, đã đi đến vịnh Subic, Philippines vào ngày [[3 tháng 7]]. Con tàu đã phục vụ canh phòng máy bay cho tàu sân bay {{USS|America|CVA-66|3}} trong vịnh Bắc Bộ, và bắn pháo hỗ trợ cho binh lính trên bờ tại khu vực phụ cận [[Huế]]. Sau các chặng dừng tại [[Cao Hùng]], Đài Loan, Hong Kong, và Sasebo, Nhật Bản, nó quay trở về nhà vào ngày [[7 tháng 12]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039; hoạt động tại chỗ dọc theo vùng bờ Tây cho đến [[tháng 9]] năm [[1969]], khi nó được cho xuất biên chế và đưa về Hạm đội Dự bị Thái Bình Dương tại Mare Island, California. Tên nó được cho rút khỏi danh sách [[Đăng bạ Hải quân]] vào ngày [[1 tháng 6]] năm [[1975]]; trở thành chiếc cuối cùng trong lớp &amp;#039;&amp;#039;Fletcher&amp;#039;&amp;#039; được rút đăng bạ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Mục tiêu thử nghiệm vũ khí ===&lt;br /&gt;
Đến ngày [[30 tháng 6]] năm [[1976]], con tàu được chuyển đến Trung tâm Thử nghiệm Tên lửa Thái Bình Dương tại Point Mugu, được tháo dỡ thiết bị, và trong những năm tiếp theo đã phục vụ như mục tiêu để thử nghiệm nhiều chương trình vũ khí khác nhau, bao gồm Dự án Tomahawk.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ [[tháng 11]] năm [[1983]], hệ thống vũ khí phòng thủ tầm cực gần [[Phalanx CIWS]] phiên bản block 0 được trang bị để thử nghiệm phòng thủ tên lửa giai đoạn cuối. Việc thử nghiệm các block khác nhau của kiểu vũ khí này kéo dài cho đến năm [[1990]]. Cuối cùng nó được chiếc [[tàu cứu hộ]] {{USS|Salvor|T-ARS-52|3}} kéo đến một vị trí gần đảo [[Kauai]], [[Hawaii]] vào ngày [[22 tháng 7]] năm [[1997]], và bị đánh chìm như một dãi san hô nhân tạo, tại vị trí {{coord|22|47|39|N|160|36|41|W|display=inline, title}}, ở độ sâu {{convert|2550|fathom|m}}.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Phần thưởng ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng ba [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II, và thêm ba Ngôi sao Chiến trận khác trong [[Chiến tranh Việt Nam]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
{{tham khảo}}&lt;br /&gt;
{{Refbegin}}&lt;br /&gt;
* Bài này có các trích dẫn từ nguồn [[:en:Dictionary of American Naval Fighting Ships]] thuộc [[phạm vi công cộng]]: http://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/s/stoddard.html&lt;br /&gt;
{{Refend}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
* [http://www.navsource.org/archives/05/566.htm navsource.org: USS &amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039;] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20160808114023/http://www.navsource.org/archives/05/566.htm |date=2016-08-08 }}&lt;br /&gt;
* [http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd566txt.htm hazegray.org: USS &amp;#039;&amp;#039;Stoddard&amp;#039;&amp;#039;] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20060927094202/http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd566txt.htm |date=2006-09-27 }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu khu trục Fletcher}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Mỹ}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Stoddard (DD-566)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu khu trục Fletcher]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Chiến tranh Lạnh]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Chiến tranh Việt Nam]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu bị đánh chìm như dãi san hô nhân tạo]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Sự kiện hàng hải 1997]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu thủy năm 1943]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Sự cố hàng hải năm 1997]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;InternetArchiveBot</name></author>
	</entry>
</feed>