<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Tingey_%28DD-539%29</id>
	<title>USS Tingey (DD-539) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Tingey_%28DD-539%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Tingey_(DD-539)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-11T14:55:09Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Tingey_(DD-539)&amp;diff=6531487&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;InternetArchiveBot: Đã cứu 0 nguồn và đánh dấu 1 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Tingey_(DD-539)&amp;diff=6531487&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-06-18T10:05:58Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Đã cứu 0 nguồn và đánh dấu 1 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{{Dablink|Về những tàu chiến Hoa Kỳ khác mang cùng tên, xin xem [[USS Tingey]].}}&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image= [[Tập tin:USS Tingey (DD-539) in the 1950s.jpg|300px|USS Tingey (DD-539) in the 1950s]]&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu khu trục USS &amp;#039;&amp;#039;Tingey&amp;#039;&amp;#039; (DD-539), những năm [[thập niên 1950|1950]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
| Ship country = Hoa Kỳ&lt;br /&gt;
| Ship flag = {{USN flag|1963}}&lt;br /&gt;
| Ship name = USS &amp;#039;&amp;#039;Tingey&amp;#039;&amp;#039; (DD-539)&lt;br /&gt;
| Ship namesake = Thiếu tướng Hải quân [[Thomas Tingey]]&lt;br /&gt;
| Ship ordered = &lt;br /&gt;
| Ship awarded = &lt;br /&gt;
| Ship builder = [[Bethlehem Shipbuilding Corporation]], [[San Francisco, California]]&lt;br /&gt;
| Ship original cost = &lt;br /&gt;
| Ship laid down = [[22 tháng 10]] năm [[1942]]&lt;br /&gt;
| Ship launched = [[28 tháng 5]] năm [[1943]]&lt;br /&gt;
| Ship sponsor = &lt;br /&gt;
| Ship completed = &lt;br /&gt;
| Ship acquired = &lt;br /&gt;
| Ship commissioned = [[25 tháng 11]] năm [[1943]]&lt;br /&gt;
| Ship recommissioned = [[27 tháng 1]] năm [[1951]]&lt;br /&gt;
| Ship decommissioned = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| [[tháng 3]] năm [[1946]]&lt;br /&gt;
| [[30 tháng 11]] năm [[1963]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship in service = &lt;br /&gt;
| Ship out of service = &lt;br /&gt;
| Ship renamed = &lt;br /&gt;
| Ship reclassified = &lt;br /&gt;
| Ship struck = [[1 tháng 11]] năm [[1965]]&lt;br /&gt;
| Ship nickname = &lt;br /&gt;
| Ship honors = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 8 × [[Ngôi sao Chiến trận]] (Thế Chiến II);&lt;br /&gt;
| 5 × Ngôi sao Chiến trận (Chiến tranh Triều Tiên)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship captured = &lt;br /&gt;
| Ship fate = Đánh chìm như mục tiêu, [[tháng 5]] năm [[1966]]&lt;br /&gt;
| Ship status = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
| Ship class = [[Fletcher (lớp tàu khu trục)|Lớp tàu khu trục &amp;#039;&amp;#039;Fletcher&amp;#039;&amp;#039;]]&lt;br /&gt;
| Ship type = [[Tàu khu trục]]&lt;br /&gt;
| Ship displacement = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|2100|LT|t|abbr=on}} (tiêu chuẩn)&lt;br /&gt;
| {{convert|2924|LT|t|abbr=on}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship length = {{convert|376|ft|5|in|m|abbr=on}} (chung)&lt;br /&gt;
| Ship beam = {{convert|39|ft|08|in|m|abbr=on}} (chung)&lt;br /&gt;
| Ship draft = {{convert|13|ft|9|in|m|abbr=on}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
| Ship propulsion = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 2 × turbine hơi nước hộp số&lt;br /&gt;
| 2 × trục&lt;br /&gt;
| công suất {{convert| 60000|shp|kW|abbr=on|lk=on}}&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship speed = {{convert|36|kn|mph km/h|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship range = {{convert|6500|nmi|km|-3|abbr=on}} ở tốc độ {{convert|15|kn|mph km/h|0|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship endurance = &lt;br /&gt;
| Ship boats = &lt;br /&gt;
| Ship complement = 336 sĩ quan và thủy thủ&lt;br /&gt;
| Ship crew = &lt;br /&gt;
| Ship sensors = &lt;br /&gt;
| Ship EW = &lt;br /&gt;
| Ship armament = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 5 × pháo [[Hải pháo 5 inch/38 caliber|{{convert|5|in|mm|abbr=on}}/38 caliber]] (5×1);&lt;br /&gt;
| 2 × pháo phòng không [[Bofors 40 mm]];&lt;br /&gt;
| 6 × pháo phòng không [[Oerlikon 20 mm]];&lt;br /&gt;
| 10 × ống phóng [[ngư lôi]] [[Ngư lôi Mark 15|Mark 15]] {{convert|21|in|mm|abbr=on}} (2×5);&lt;br /&gt;
| 6 × máy phóng [[K-gun]] và 2 × đường ray thả [[mìn sâu]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship armor = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft facilities = &lt;br /&gt;
| Ship notes = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
 &lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;USS &amp;#039;&amp;#039;Tingey&amp;#039;&amp;#039; (DD-539)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; là một [[tàu khu trục]] [[Fletcher (lớp tàu khu trục)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Fletcher&amp;#039;&amp;#039;]] được [[Hải quân Hoa Kỳ]] chế tạo trong [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]]. Nó là chiếc tàu chiến thứ ba của Hải quân Mỹ được đặt theo tên [[Thiếu tướng Hải quân]] [[Thomas Tingey]] (1750-1829), người được cho là đã phục vụ trong cuộc [[Chiến tranh Cách mạng Hoa Kỳ]]. Nó được cho xuất biên chế không lâu sau khi Thế Chiến II kết thúc, tái biên chế trở lại năm [[1951]] và tiếp tục hoạt động trong [[Chiến tranh Triều Tiên]] và [[Chiến tranh Lạnh]], cho đến khi ngừng hoạt động năm [[1963]], và bị đánh chìm như một mục tiêu năm [[1966]]. Nó được tặng thưởng tám [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II, và thêm năm Ngôi sao Chiến trận nữa trong Chiến tranh Triều Tiên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
{{main|Fletcher (lớp tàu khu trục)}}&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Tingey&amp;#039;&amp;#039; được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng [[Bethlehem Shipbuilding Corporation]], ở [[San Francisco, California]] vào ngày [[22 tháng 10]] năm [[1942]]. Nó được hạ thủy vào ngày [[28 tháng 5]] năm [[1943]]; được đỡ đầu bởi bà Garry Owen; và nhập biên chế vào ngày [[25 tháng 11]] năm [[1943]] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, [[Trung tá Hải quân]] [[John O. Miner]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
=== Chiến tranh Thế giới thứ hai ===&lt;br /&gt;
==== 1944 ====&lt;br /&gt;
Sau khi chạy thử máy ngoài khơi vùng bờ Tây Hoa Kỳ, &amp;#039;&amp;#039;Tingey&amp;#039;&amp;#039; rời San Francisco vào ngày [[2 tháng 2]] năm [[1944]] để tham gia [[Mặt trận Thái Bình Dương]]. Nó thực hành huấn luyện ngoài khơi [[Trân Châu Cảng]] trong [[tháng 2]] và [[tháng 3]], trước khi hộ tống một đoàn tàu vận tải trên đường đi sang [[quần đảo Marshall]] vào đầu [[tháng 4]]. Vào ngày [[13 tháng 4]], nó khởi hành từ [[Majuro]] để gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 58, lực lượng [[tàu sân bay]] nhanh dưới quyền [[Chuẩn đô đốc]] [[Marc A. Mitscher]]. Cuối tháng đó, trong khi hỗ trợ các cuộc không kích của tàu sân bay xuống [[Eton (đảo)|Eton]] và [[Dublon]] thuộc quần đảo [[vũng biển Chuuk|Truk]], nó chịu đựng thương vong do đối đầu với máy bay [[Đế quốc Nhật Bản|Nhật Bản]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Tingey&amp;#039;&amp;#039; tiếp tục làm nhiệm vụ trong thành phần tàu khu trục bảo vệ cho Đội Thiết giáp hạm 7. Vào ngày [[1 tháng 4]], nó tham gia cuộc bắn phá [[Tumu Point]] nhằm vô hiệu hóa sân bay và căn cứ [[tàu ngầm]] Nhật Bản tại đây. Đến ngày [[29 tháng 4]], nó tiếp tục làm nhiệm vụ hộ tống cho lực lượng đặc nhiệm trong một trong các đơn vị [[tàu tuần dương]] của nó bắn phá đảo [[Satawan]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào ngày [[15 tháng 5]], &amp;#039;&amp;#039;Tingey&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ Majuro cùng đội đặc nhiệm tàu sân bay dưới quyền Chuẩn đô đốc [[Alfred E. Montgomery]] để hướng đến [[đảo Marcus|Marcus]] và [[đảo Wake]]. Đến đầu [[tháng 6]], nó khởi hành trong thành phần Lực lượng Đặc nhiệm 58 hướng đến [[biển Philippine]], và trong tuần lễ tiếp theo sau, nó hoạt động tại khu vực phụ cận [[Saipan]] và [[Tinian]], tham gia [[Trận chiến biển Philippine]]. Các tàu sân bay của đội đặc nhiệm liên tiếp tung ra các cuộc không kích xuống [[Guam]] và [[Rota (đảo)|Rota]], cũng như đánh bại mọi nỗ lực tấn công của [[Hạm đội Liên hợp Nhật Bản]] dưới quyền Đô đốc [[Jisaburo Ozawa]] trong cuộc đụng độ vào ngày [[19 tháng 6]], được mệnh danh là &amp;quot;Cuộc săn vịt trời Mariana vĩ đại&amp;quot;. Cũng trong [[tháng 6]], chiếc tàu khu trục tháp tùng đội của nó trong các cuộc không kích xuống [[đảo Pagan]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào ngày [[30 tháng 6]], &amp;#039;&amp;#039;Tingey&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ [[Eniwetok]] cùng đội đặc nhiệm tàu sân bay dưới quyền Chuẩn đô đốc [[Ralph E. Davison]] trong các cuộc không kích xuống [[quần đảo Bonin]]. Nó sau đó gia nhập [[Đệ Ngũ hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Ngũ hạm đội]] ngoài khơi Saipan để hỗ trợ cho lực lượng chiếm đóng [[quần đảo Mariana]]. Vào ngày [[21 tháng 7]], các tàu sân bay đã tung ra mười đợt không kích hỗ trợ cho cuộc tấn công lên Guam. Sau khi được tiếp liệu tại Saipan, nó lên đường đi đến khu vực phía Bắc [[quần đảo Palau]], hỗ trợ các hoạt động càn quét và không kích của tàu sân bay. Sau đó nó tiếp nối nhiệm vụ hộ tống cho đội đặc nhiệm tàu sân bay dưới quyền Chuẩn đô đốc [[Gerald F. Bogan]], khi chúng tiến hành không kích các căn cứ của đối phương tại Guam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi neo đậu tại Eniwetok để bảo trì và tiếp liệu, &amp;#039;&amp;#039;Tingey&amp;#039;&amp;#039; tiếp nối nhiệm vụ của nó vào cuối [[tháng 8]]. Trong hai tuần đầu của [[tháng 9]], nó hỗ trợ các cuộc không kích của tàu sân bay xuống [[Leyte (đảo)|Leyte]], [[Bulan, Sorsogon|Bulan]] và [[Samar (đảo)|Samar]], trước khi tiếp tục đi đến [[Luzon]]. Tại đây nó phải đối phó với các cuộc không kích ban đêm của đối phương trong khi bảo vệ các hoạt động của tàu sân bay tại [[Philippines]]. Sau khi được tiếp liệu tại [[cảng Tanapag]], nó lên đường đi Ulithi nơi nó hoạt động tuần tra chống tàu ngầm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào [[tháng 10]], &amp;#039;&amp;#039;Tingey&amp;#039;&amp;#039; tiếp tục hoạt động cùng lực lượng tàu sân bay nhanh của đô đốc Mitscher. Trong các ngày [[17 tháng 10|17]] và [[18 tháng 10]], nó hỗ trợ các cuộc không kích xuống đảo [[Visayas]], và vào ngày [[24 tháng 10]], các cuộc không kích trong khuôn khổ [[Trận chiến biển Sibuyan]]. Di chuyển ngoài khơi [[eo biển San Bernardino]] trong đêm [[25 tháng 10|25]]-[[26 tháng 10]], nó cùng các [[thiết giáp hạm]] và tàu tuần dương của đội đặc nhiệm đánh chìm tàu khu trục [[Nowaki (tàu khu trục Nhật)|&amp;#039;&amp;#039;Nowaki&amp;#039;&amp;#039;]], chiếc bị sót lại từ Lực lượng Trung tâm hùng mạnh của [[Phó đô đốc]] [[Takeo Kurita]] rút lui sau [[Trận chiến ngoài khơi Samar]]. Sau cuộc đụng độ này, chiếc tàu khu trục đi lên phía Bắc cho các cuộc tấn công vào [[vịnh Manila]], rồi quay trở lại vào tuần đầu của [[tháng 11]] cho các cuộc không kích khác lên Luzon và [[Bicol]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Tingey&amp;#039;&amp;#039; rời Ulithi vào ngày [[14 tháng 11]] để hướng đến Philippines. Trên đường đi, lực lượng chịu đựng một cơn [[bão]] vốn đã làm đắm ba tàu khu trục vào ngày [[18 tháng 12]]. Sau khi tìm kiếm những người sống sót, đội tàu sân bay hủy bỏ chiến dịch do thời tiết xấu và biển động và quay về Ulithi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== 1945 ====&lt;br /&gt;
Vào ngày [[30 tháng 12]] năm [[1944]], lực lượng đặc nhiệm tiến hành không kích [[Đài Loan]] và Luzon. Sang [[tháng 1]] năm [[1945]], &amp;#039;&amp;#039;Tingey&amp;#039;&amp;#039; đi vào [[Biển Đông]] cho các cuộc không kích xuống [[Đông Dương thuộc Pháp]] và [[Hong Kong]] trước khi rút lui về Ulithi. Vào [[tháng 2]], nó tham gia [[Chiến dịch Jamboree]], một đợt không kích xuống khu vực phụ cận [[vịnh Tokyo]]; nó chịu đựng nhiều cuộc không kích của đối phương đang khi làm nhiệm vụ hộ tống để hỗ trợ cho [[Trận Iwo Jima|cuộc đổ bộ]] lên [[Iwo Jima]]. Sau đó, nó tháp tùng các tàu sân bay cho các cuộc không kích xuống [[Kyūshū]] và [[Okinawa]] trong [[tháng 3]]. Khi máy bay đối phương ném bom trúng {{USS|Franklin|CV-13|3}} vào ngày [[19 tháng 3]], khiến chiếc tàu sân bay bốc cháy và hư hại đáng kể, chiếc tàu khu trục đã giúp cứu vớt những người sống sót và hộ tống nó rút lui về Ulithi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong [[tháng 4]] và [[tháng 5]], máy bay đối phương thường xuyên tấn công khi &amp;#039;&amp;#039;Tingey&amp;#039;&amp;#039; hộ tống các tàu sân bay hỗ trợ trên không cho lực lượng chiến đấu trên bộ tại Okiawa. Chiếc tàu khu trục đã trợ giúp khi bắn rơi một máy bay đối phương và giải cứu hai phi công bị bắn rơi từ các tàu sân bay {{USS|Essex|CV-9|3}} và {{USS|Bunker Hill|CV-17|3}}; tiếp tục làm nhiệm vụ ngoài khơi Okinawa trong [[tháng 5]], và thực hiện một đợt tấn công nhanh lên phía Bắc đến Kyūshū vào ngày [[13 tháng 5]]. Nó trải qua phần lớn [[tháng 6]] được bảo trì tại Philippines, trước khi lên đường quay trở về San Francisco. Vào ngày [[9 tháng 7]], con tàu đi vào [[Xưởng hải quân Mare Island]], và vẫn đang ở lại đây khi chiến tranh kết thúc. &amp;#039;&amp;#039;Tingey&amp;#039;&amp;#039; được cho xuất biên chế vào [[tháng 3]] năm [[1946]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Chiến tranh Triều Tiên ===&lt;br /&gt;
[[Tập tin:F9F Panthers of VF-721 over USS Tingey (DD-539) off Korea 1951.jpg|thumb|Máy bay tiêm kích [[Grumman F9F Panther]] bay bên trên &amp;#039;&amp;#039;Tingey&amp;#039;&amp;#039; ngoài khơi Triều Tiên, 1951.]]&lt;br /&gt;
Sự kiện [[Chiến tranh Triều Tiên]] nổ ra đã khiến &amp;#039;&amp;#039;Tingey&amp;#039;&amp;#039; được cho nhập biên chế trở lại vào ngày [[27 tháng 1]] năm [[1951]], và sau hai tháng hoạt động ngoài khơi [[San Diego]], nó bắt đầu tham gia các nỗ lực của Hoa Kỳ trong cuộc chiến này. Sau một chặng dừng ngắn tại Trân Châu Cảng vào [[tháng 5]], chiếc tàu khu trục đi ngang qua [[Sasebo]] và [[Yokosuka]] để đi sang [[Triều Tiên]], và từ [[tháng 8]] đến [[tháng 12]] năm [[1951]] đã hoạt động tuần tra ngoài khơi [[Wonsan]] trên bờ biển phía Đông bán đảo Triều Tiên, hỗ trợ hỏa lực cho lực lượng [[Liên Hợp Quốc]] trên bờ, hoạt động phá [[thủy lôi|mìn]], bắn phá bờ biển ngoài khơi [[Hungnam]], tiêu diệt nhiều mục tiêu đối phương. Nó cũng hỗ trợ cho cuộc tấn công của binh lính biệt kích [[Cộng hòa Hàn Quốc|Nam Triều Tiên]] vào [[tháng 12]], trước khi lên đường đi Yokosuka vào ngày [[4 tháng 12]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Tingey&amp;#039;&amp;#039; trải qua sáu tháng đầu năm [[1952]] tại San Diego, rồi lên đường vào ngày [[11 tháng 7]], đi ngang qua Trân Châu Cảng và [[Midway]] để quay lại Triều Tiên. Nó lại có mặt ngoài khơi bờ Đông bán đảo vào ngày [[13 tháng 8]], hỗ trợ hoạt động của binh lính Nam Triều Tiên trên bờ, tuần tra chống tàu ngầm và tuần tra ban đêm tại khu vực giữa đảo [[Nan Do]] và bán đảo Triều Tiên. Trong lượt phục vụ kéo dài sáu tháng này, nó đã bắn phá các vị trí tập trung quân đối phương, cơ sở đường sắt cùng các vị trí pháo và [[súng cối]]. Nó rời khu vực Triều Tiên vào ngày [[26 tháng 1]] năm [[1953]] và về đến San Diego vào ngày [[16 tháng 2]]. Đến giữa [[tháng 8]], chiếc tàu khu trục lại được bố trí sang khu vực Tây Thái Bình Dương, đi đến ngoài khơi Triều Tiên vào ngày [[10 tháng 11]]. Trong lượt phục vụ này, nó hoạt động từ Sasebo, Nhật Bản, thực hiện các nhiệm vụ ngoài khơi bờ Đông và bờ Tây bán đảo Triều Tiên, viếng thăm [[Đài Loan]] và Philippines trước khi quay trở về San Diego vào [[tháng 4]] năm [[1954]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1954 - 1963 ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Tingey&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ San Diego vào ngày [[16 tháng 11]] năm [[1954]] để hoạt động tại khu vực [[biển Hoa Đông]] và [[biển Nhật Bản]]. Trong lượt phục vụ này, nó hiện diện tại vùng [[eo biển Đài Loan]] để bảo vệ hòn đảo này chống trả sự xâm chiếm, cũng như điều tra tàu bè, huấn luyện nhân sự [[Hải quân Trung Hoa dân quốc]], viếng thăm [[Bangkok]] và [[Manila]] trước khi đi đến [[Hong Kong]] vào ngày [[27 tháng 1]] năm [[1955]]. Từ [[tháng 1]] đến [[tháng 4]] năm [[1955]], nó hoạt động ngoài khơi Đài Loan, Triều Tiên và Okinawa, rồi lên đường quay về San Diego vào [[tháng 5]]; rồi trong ba năm tiếp theo, chiếc tàu khu trục còn phục vụ các lượt bố trí khác tại Viễn Đông. Sau khi quay trở về từ Tây Thái Bình Dương vào năm [[1957]], nó hoạt động ngoài khơi San Diego trong vai trò tàu huấn luyện Hải quân Dự bị cho đến năm [[1962]], khi nó được gửi đi Viễn Đông một lần nữa để tham gia các cuộc tập trận của khối [[Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á]] (SEATO). Sau khi hoàn tất, nó quay trở về San Diego tiếp nối hoạt động huấn luyện nhân sự hải quân dự bị.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào ngày [[1 tháng 8]] năm [[1963]], &amp;#039;&amp;#039;Tingey&amp;#039;&amp;#039; mắc tai nạn va chạm với [[tàu hộ tống khu trục]] {{USS|Vammen|DE-644|3}} ngoài khơi bờ biển Nam California. Nó không chịu thương vong và quay trở về San Diego bằng chính động lực của mình, cho dù bị hư hại lườn tàu và ngập nước. Con tàu được cho xuất biên chế vào ngày [[30 tháng 11]] năm [[1963]]; tên nó được cho rút khỏi danh sách [[Đăng bạ Hải quân]] vào ngày [[1 tháng 11]] năm [[1965]], và lườn tàu bị đánh chìm như một mục tiêu ngoài khơi San Francisco vào [[tháng 5]] năm [[1966]]. Trước khi bị đánh chìm, phần mũi con tàu được tháo ra để thay thế cho tàu khu trục {{USS|Brinkley Bass|DD-887|3}} thuộc [[Gearing (lớp tàu khu trục)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Gearing&amp;#039;&amp;#039;]], vốn bị mất mũi tàu do tai nạn va chạm với chiếc {{USS|Waddell|DDG-24|3}}. Cho dù &amp;#039;&amp;#039;Brinkley Bass&amp;#039;&amp;#039; và &amp;#039;&amp;#039;Tingey&amp;#039;&amp;#039; thuộc hai lớp tàu khác nhau, cuộc ghép này vẫn thành công.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Phần thưởng ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Tingey&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng tám [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II, và thêm năm Ngôi sao Chiến trận nữa trong Chiến tranh Triều Tiên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
{{tham khảo}}&lt;br /&gt;
{{Refbegin}}&lt;br /&gt;
* Bài này có các trích dẫn từ nguồn [[:en:Dictionary of American Naval Fighting Ships]] thuộc [[phạm vi công cộng]]: http://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/t/tingey-dd-539-iii.html&lt;br /&gt;
{{Refend}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
* [http://www.navsource.org/archives/05/539.htm navsource.org: USS &amp;#039;&amp;#039;Tingey&amp;#039;&amp;#039;]{{Liên kết hỏng|date=2026-06-18 |bot=InternetArchiveBot }}&lt;br /&gt;
* [http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd539txt.htm hazegray.org: USS &amp;#039;&amp;#039;Tingey&amp;#039;&amp;#039;] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20060927084453/http://www.hazegray.org/danfs/destroy/dd539txt.htm |date=2006-09-27 }}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu khu trục Fletcher}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Mỹ}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Tingey (DD-539)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu khu trục Fletcher]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Chiến tranh Lạnh]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Chiến tranh Triều Tiên]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu bị đánh chìm như mục tiêu]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Sự kiện hàng hải 1966]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu thủy năm 1943]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Sự cố hàng hải năm 1966]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Xác tàu đắm ngoài khơi bờ biển California]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;InternetArchiveBot</name></author>
	</entry>
</feed>