<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Tulagi_%28CVE-72%29</id>
	<title>USS Tulagi (CVE-72) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Tulagi_%28CVE-72%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Tulagi_(CVE-72)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-10T14:58:33Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Tulagi_(CVE-72)&amp;diff=6553264&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;InternetArchiveBot: Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Tulagi_(CVE-72)&amp;diff=6553264&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-06-18T10:20:07Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image= [[Tập tin:USS TULAGI (CVE-72).jpg|300px]]&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu sân bay hộ tống USS &amp;#039;&amp;#039;Tulagi&amp;#039;&amp;#039; (CVE-72)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
|Ship country= Hoa Kỳ &lt;br /&gt;
|Ship flag= {{USN flag|1943}}&lt;br /&gt;
|Ship name= USS &amp;#039;&amp;#039;Tulagi&amp;#039;&amp;#039; (CVE-72)&lt;br /&gt;
|Ship namesake= đảo [[Tulagi]], [[quần đảo Solomon]]&lt;br /&gt;
|Ship ordered=&lt;br /&gt;
|Ship awarded=&lt;br /&gt;
|Ship builder= [[Kaiser Shipyards]], [[Vancouver, Washington]]&lt;br /&gt;
|Ship original cost=&lt;br /&gt;
|Ship laid down= [[7 tháng 6]] năm [[1943]]&lt;br /&gt;
|Ship launched= [[15 tháng 11]] năm [[1943]]&lt;br /&gt;
|Ship sponsor=&lt;br /&gt;
|Ship completed=&lt;br /&gt;
|Ship acquired=&lt;br /&gt;
|Ship commissioned= [[21 tháng 12]] năm [[1943]]&lt;br /&gt;
|Ship recommissioned=&lt;br /&gt;
|Ship decommissioned= [[30 tháng 4]] năm [[1946]]&lt;br /&gt;
|Ship in service=&lt;br /&gt;
|Ship out of service=&lt;br /&gt;
|Ship renamed=&lt;br /&gt;
|Ship reclassified=&lt;br /&gt;
|Ship struck= [[8 tháng 5]] năm [[1946]]&lt;br /&gt;
|Ship nickname=&lt;br /&gt;
|Ship honors= 4 × [[Ngôi sao Chiến trận]]&lt;br /&gt;
|Ship captured=&lt;br /&gt;
|Ship fate= Bán để tháo dỡ&lt;br /&gt;
|Ship status=&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
| Ship class = [[Casablanca (lớp tàu sân bay hộ tống)|Lớp tàu sân bay hộ tống &amp;#039;&amp;#039;Casablanca&amp;#039;&amp;#039;]]&lt;br /&gt;
| Ship displacement = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|7800|LT|MT}} (tiêu chuẩn)&lt;br /&gt;
| {{convert|10902|LT|MT}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship length = {{convert|512|ft|4|in|m|abbr=on}} (chung)&lt;br /&gt;
| Ship beam = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| {{convert|65|ft|3|in|m|abbr=on}} (mực nước)&lt;br /&gt;
| {{convert|108|ft|1|in|m|abbr=on}} (chung)&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship draft = {{convert|22|ft|6|in|m|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship propulsion = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 2 × [[động cơ hơi nước]] Skinner Uniflow, năm buồng bành trướng đặt dọc;&lt;br /&gt;
| 4 × nồi hơi, áp lực {{convert|285|psi|abbr=on}};&lt;br /&gt;
| 2 × trục;&lt;br /&gt;
| công suất {{convert|9000|shp|kW|abbr=on|lk=on}}&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship speed = {{convert|20|kn|lk=on}}&lt;br /&gt;
| Ship range = {{convert|10240|nmi|lk=on|-1|abbr=on}} ở tốc độ {{convert|15|kn}}&lt;br /&gt;
| Ship endurance = &lt;br /&gt;
| Ship boats = &lt;br /&gt;
| Ship complement = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 860 sĩ quan và thủy thủ,&lt;br /&gt;
| đội bay 56 sĩ quan và thủy thủ&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship crew = &lt;br /&gt;
| Ship sensors = &lt;br /&gt;
| Ship EW = &lt;br /&gt;
| Ship armament = {{Danh sách không dấu đầu dòng&lt;br /&gt;
| 1 × pháo [[Hải pháo 5 inch/38 caliber|{{convert|5|in|mm|abbr=on}}/38 caliber]];&lt;br /&gt;
| 16 × pháo phòng không [[Bofors 40 mm]] (8×2);&lt;br /&gt;
| 20 × pháo phòng không [[Oerlikon 20 mm]]&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
| Ship armor = &lt;br /&gt;
| Ship aircraft = 28 máy bay&lt;br /&gt;
| Ship aircraft facilities = &lt;br /&gt;
| Ship notes = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;USS &amp;#039;&amp;#039;Tulagi&amp;#039;&amp;#039; (CVE-72)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; là một [[tàu sân bay hộ tống]] [[Casablanca (lớp tàu sân bay hộ tống)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Casablanca&amp;#039;&amp;#039;]] được [[Hải quân Hoa Kỳ]] chế tạo trong [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]]; tên nó được đặt theo đảo [[Tulagi]] thuộc [[quần đảo Solomon]] tại khu vực Tây Nam [[Thái Bình Dương]], nơi diễn ra cuộc đổ bộ mở màn [[Chiến dịch Guadalcanal]] vào năm [[1942]]. &amp;#039;&amp;#039;Tulagi&amp;#039;&amp;#039; đã hoạt động cho đến hết Thế Chiến II, xuất biên chế và rút đăng bạ năm [[1946]]. Nó được tặng thưởng bốn [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
{{main|Casablanca (lớp tàu sân bay hộ tống)}}&lt;br /&gt;
Con tàu được đặt lườn như là chiếc &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Fortazela Bay&amp;#039;&amp;#039; (ACV-72)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; tại Xưởng tàu Vancouver của hãng [[Kaiser Shipyards|Kaiser Company, Inc.]] ở [[Vancouver, Washington]] vào ngày [[7 tháng 6]] năm [[1943]]. Nó được xếp lại lớp thành &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;CVE-72&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; vào ngày [[15 tháng 7]]; tên được sửa lại đúng thành &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Fortaleza Bay&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; vào ngày [[19 tháng 10]]; và con tàu được đổi tên thành &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Tulagi&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; vào ngày [[6 tháng 11]] trước khi được hạ thủy vào ngày [[15 tháng 11]] năm [[1943]]; được đỡ đầu bởi bà James Duke Earner. &amp;#039;&amp;#039;Tulagi&amp;#039;&amp;#039; nhập biên chế vào ngày [[21 tháng 12]] năm [[1943]] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, [[Đại tá Hải quân]] Joseph Campbell Cronin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Tulagi&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ [[Seattle, Washington]] vào ngày [[17 tháng 1]] năm [[1944]] để hướng đến [[San Francisco, California]], nơi nó làm nhiệm vụ vận chuyển tiếp liệu, máy bay và nhân sự quân đội sang [[quần đảo Hawaii]]. Nó rời [[Trân Châu Cảng]] vào ngày [[29 tháng 1]] vận chuyển hành khách cho chuyến quay trở về, về đến [[San Diego]] vào ngày [[4 tháng 2]]. Trong phần lớn [[tháng 2]], nó thực tập huấn luyện ngoài khơi trước khi khởi hành, đi ngang qua [[kênh đào Panama]] để hướng đến [[Hampton Roads]], [[Virginia]]. Sau khi đi đến [[Norfolk, Virginia]] vào ngày [[17 tháng 3]], con tàu được đại tu và huấn luyện chuẩn nhận phi công tàu sân bay.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Tulagi&amp;#039;&amp;#039; chất lên tàu một lô hàng máy bay [[Lục quân Hoa Kỳ]] vào cuối [[tháng 5]], và khởi hành từ [[New York, New York|New York]] vào ngày [[28 tháng 5]] trong một đoàn tàu bao gồm hai tàu sân bay khác và lực lượng hộ tống. Nó đi đến cảng nước ngoài đầu tiên là [[Casablanca]], [[Maroc]] vào ngày [[6 tháng 6]], và sau khi chất dỡ hàng hóa, nó đón lên tàu hành khách, bao gồm một nhóm 35 [[tù binh chiến tranh]] để đưa trở về Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi về đến Norfolk vào ngày [[17 tháng 6]], &amp;#039;&amp;#039;Tulagi&amp;#039;&amp;#039; khởi hành vào cuối [[tháng 6]] để đi [[Quonset Point]], [[Rhode Island]], chất lên tàu máy bay, tiếp liệu và nhân sự, rồi rời [[vịnh Narragansett]] vào ngày [[30 tháng 6]] với Tư lệnh Đội đặc nhiệm 27.7, [[Chuẩn đô đốc]] [[Calvin T. Durgin]] trên tàu. Nó di chuyển về phía Đông để hướng đến [[Oran]], [[Algérie]], thực tập tác xạ và chiến thuật hải đội trên đường đi, viếng thăm [[Malta]] vào ngày [[26 tháng 7]], rồi trải qua những tuần lễ tiếp theo thực hành và tổng dợt tại các cảng [[Bắc Phi]] và [[Ý]] để chuẩn bị cho [[Chiến dịch Dragoon]], cuộc đổ bộ tiếp theo lên miền Nam nước [[Pháp]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào ngày D, &amp;#039;&amp;#039;Tulagi&amp;#039;&amp;#039; di chuyển trong đội hình ở cách {{convert|45|nmi|km|abbr=on}} ngoài khơi bãi đổ bộ, và đến 05 giờ 46 phút, nó tung ra đợt [[máy bay tiêm kích]] [[Grumman F6F Hellcat|F6F Hellcat]] đầu tiên để tấn công. Trong một tuần lễ tiếp theo, máy bay của nó đã thực hiện tổng cộng 276 phi vụ trong 68 nhiệm vụ, gây tổn thất đáng kể cho đối phương. Thời tiết tốt cho phép máy bay của nó trinh sát và tấn công nhiều mục tiêu trên bờ, bao gồm các vị trí pháo và các đầu mối đường sắt. Vào ngày [[21 tháng 8]], ngày cuối cùng của Chiến dịch Dragoon, quân Đức bắt đầu rút lui hàng loạt, và máy bay của nó đã tấn công dọc theo con đường rút lui, phá hủy hàng loạt phương tiện tại khu vực phụ cận [[Remoulins]] cũng như bắn rơi ba [[máy bay ném bom]] [[Junkers Ju 52]] của Đức.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi được tiếp nhiên liệu và tiếp liệu tại Oran, &amp;#039;&amp;#039;Tulagi&amp;#039;&amp;#039; lên đường quay trở về nhà vào ngày [[6 tháng 9]], và sau một đợt đại tu ngắn tại Norfolk, nó khởi hành để đi sang khu vực [[Mặt trận Thái Bình Dương]], băng qua [[kênh đào Panama]], và đi đến San Diego vào ngày [[26 tháng 10]]. Tại đây nó đón lên tàu hai liên đội quân lực để vận chuyển sang quần đảo Hawaii và rời vùng bờ Tây vào ngày [[29 tháng 10]]. Sau khi đi đến Trân Châu Cảng vào ngày [[5 tháng 11]], chiến tàu sân bay tham gia thực tập [[chiến tranh chống tàu ngầm|chống tàu ngầm]] và tác xạ, rồi đến ngày [[24 tháng 11]] đã lên đường cùng một đội đặc nhiệm chống tàu ngầm, đi ngang qua [[quần đảo Marshall]] và [[Ulithi]] để đi đến [[Saipan]], nơi nó càn quét chống tàu ngầm trên các tuyến đường hàng hải. Trong suốt [[tháng 12]], nó hoạt động chống tàu ngầm tại khu vực [[Palau|quần đảo Palau]] và [[quần đảo Mariana]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào ngày [[1 tháng 1]] năm [[1945]], &amp;#039;&amp;#039;Tulagi&amp;#039;&amp;#039; lên đường đi [[vịnh Lingayen]] tham gia cuộc tấn công đổ bộ tiếp theo lên đảo [[Luzon]]. Cùng lúc đó lực lượng Nhật Bản tại [[Philippines]] đã huy động trên 100 máy bay tự sát để tấn công lực lượng đặc nhiệm của &amp;#039;&amp;#039;Tulagi&amp;#039;&amp;#039;. Đoàn tàu băng qua [[eo biển Surigao]] và tiến vào [[biển Mindanao]] vào ngày [[3 tháng 1]]; và trong ba ngày tiếp theo, họ liên tục chịu đựng một loạt các cuộc tấn công [[Kamikaze]]. Từ ngày [[4 tháng 1]], báo cáo về các cuộc không kích đối phương càng thường xuyên, và lúc xế trưa một máy bay tự sát bị bắn rơi lúc đang cố đâm vào tàu sân bay {{USS|Lunga Point|CVE-94|3}}. Một lát sau, quan sát viên trên &amp;#039;&amp;#039;Tulagi&amp;#039;&amp;#039; trông thấy đám cháy đưa đến tổn thất chiếc {{USS|Ommaney Bay|CVE-79|3}}, nạn nhân một máy bay Kamikaze khác. Sáng ngày [[5 tháng 1]], máy bay đối phương tiếp tục tấn công lực lượng khi họ di chuyển qua [[eo biển Mindoro]] để tiến vào [[Biển Đông]]; cho dù máy bay tiêm kích từ tàu sân bay đã bắn rơi hai chiếc [[Mitsubishi A6M]] &amp;quot;Zero&amp;quot;, ba chiếc khác đã xuyên được hàng rào tuần tra chiến đấu trên không, hai chiếc bị hỏa lực phòng không bắn rơi nhưng chiếc thứ ba đâm trúng [[tàu tuần dương hạng nặng]] {{USS|Louisville|CA-28|3}}, trong thành phần hộ tống của đoàn tàu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi cuộc đổ bộ lên vịnh Lingayen bắt đầu vào ngày [[9 tháng 1]], &amp;#039;&amp;#039;Tulagi&amp;#039;&amp;#039; tung máy bay của nó ra cho các cuộc không kích xuống những mục tiêu trên bờ, tuần tra phòng không và bảo vệ các tàu đổ bộ. Đến ngày [[12 tháng 1]], nó hỗ trợ trên không cho bãi đổ bộ tại vịnh Leyte. Sang ngày hôm sau súng phòng không bên mạn trái của nó bắn rơi một máy bay tấn công cảm tử; bị hỏa lực phòng không mạnh mẽ áp chế, chiếc máy bay đối phương còn cắt qua phía đuôi tàu sang mạn phải để tìm một mục tiêu khác trước khi rơi xuống biển. Vào ngày [[17 tháng 1]], Không lực Lục quân nhận đảm trách mọi hoạt động hỗ trợ trên không trực tiếp cho các chiến dịch tại vịnh Lingayen, nên phi công của &amp;#039;&amp;#039;Tulagi&amp;#039;&amp;#039; chuyển các hoạt động sang khu vực bờ biển [[Zambales]], nơi họ hỗ trợ cho lực lượng gần San Narcisco. Đến ngày [[5 tháng 2]], nó quay trở về Ulithi, kết thúc một giai đoạn hoạt động căng thẳng kéo dài 32 ngày liên tiếp, khi máy bay của nó chỉ không cất cánh hai ngày trong số đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Tulagi&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ [[Guam]] vào ngày [[21 tháng 2]] để tiến hành hoạt động tìm-diệt hỗ trợ cho cuộc tấn công chiếm đóng [[Iwo Jima]], trước khi tham gia một đơn vị đặc nhiệm tại một vị trí về phía Tây Iwo Jima vào ngày [[1 tháng 3]]. Chiếc tàu sân bay đã hoạt động hỗ trợ trên không và tuần tra chống tàu ngầm cho đến khi nó rời khu vực vào ngày [[11 tháng 3]] để đi Ulithi. Đến nơi vào ngày [[14 tháng 3]], nó chuẩn bị cho cuộc đổ bộ tiếp theo lên [[quần đảo Ryūkyū]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Luân phiên các nhiệm vụ hỗ trợ trực tiếp trên không và tuần tra chống tàu ngầm, &amp;#039;&amp;#039;Tulagi&amp;#039;&amp;#039; đã hoạt động liên tục ngoài khơi bờ biển [[Okinawa]] từ cuối [[tháng 3]] đến đầu [[tháng 6]]. Vào ngày [[3 tháng 4]], bốn chiếc &amp;quot;Zero&amp;quot; đã tấn công đội hình của nó và đều bị bắn rơi. Sang ngày [[6 tháng 4]], khi &amp;#039;&amp;#039;Tulagi&amp;#039;&amp;#039; đang thả neo tại [[Kerama Retto]] để tái vũ trang, máy bay Nhật lại xuất hiện tấn công khu vực thả neo. Hỏa lực phòng không của nó đã nhắm vào một máy bay ở cách {{convert|4000|yd|m|abbr=on}}, nhưng kẻ tấn công lượn sang một tàu đổ bộ [[LST]] bên cạnh vào phút cuối, khiến chiếc LST nổ tung với lửa bốc cao {{convert|200|ft|m|abbr=on}}. Ít phút sau &amp;#039;&amp;#039;Tulagi&amp;#039;&amp;#039; lại bắn rơi một chiếc máy bay thứ hai và đánh đuổi một kẻ tấn công thứ ba. Sang ngày hôm sau, chiếc tàu sân bay tiếp tục trực chiến ngoài khơi Okinawa, tung ra các phi vụ can thiệp theo yêu cầu, trinh sát hình ảnh và tuần tra. Vào ngày [[13 tháng 4]], sau một nhiệm vụ ném bom đặc biệt xuống sân bay đối phương tại [[Miyako Jima]], nó bắt đầu các hoạt động chống tàu ngầm dọc các tuyến hàng hải tiếp cận Okinawa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Tulagi&amp;#039;&amp;#039; quay trở về [[Guam]] vào ngày [[6 tháng 6]], rồi rời khu vực [[quần đảo Mariana]] vào ngày [[8 tháng 6]] để quay về San Diego. Nó ở lại vùng bờ Tây suốt mùa Hè để đại tu, thử máy và huấn luyện. Tin tức về việc [[Nhật Bản đầu hàng]] kết thúc xung đột đến khi nó còn ở lại San Diego, nhưng nó lại rời vùng bờ Tây vào ngày [[4 tháng 9]], đi ngang quần đảo Hawaii để đi Philippines. Tại [[Samar (đảo)|Samar]], nó chất lên tàu máy bay để vận chuyển trở về Hoa Kỳ, và đi đến Trân Châu Cảng vào [[tháng 10]]. Sau khi quay trở về San Diego vào [[tháng 1]] năm [[1946]], nó trình diện cùng Hạm đội 19 tại [[Port Angeles, Washington]] vào ngày [[2 tháng 2]] để chuẩn bị ngừng hoạt động. &amp;#039;&amp;#039;Tulagi&amp;#039;&amp;#039; được cho xuất biên chế vào ngày [[30 tháng 4]] năm [[1946]]; và tên nó được cho rút khỏi danh sách [[Đăng bạ Hải quân]] vào ngày [[8 tháng 5]] năm [[1946]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Phần thưởng ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Tulagi&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng bốn [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
{{tham khảo}}&lt;br /&gt;
{{Refbegin}}&lt;br /&gt;
* Bài này có các trích dẫn từ nguồn [[Dictionary of American Naval Fighting Ships]] thuộc [[phạm vi công cộng]]&lt;br /&gt;
{{Refend}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
* [http://www.navsource.org/archives/03/072.htm Photo gallery] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20150310131414/http://www.navsource.org/archives/03/072.htm |date=2015-03-10 }} at navsource.org&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu sân bay hộ tống Casablanca}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Mỹ}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Tulagi (CVE-72)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp sân bay hộ tống Casablanca]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu sân bay hộ tống của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu sân bay hộ tống trong Thế Chiến II]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu thủy năm 1943]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;InternetArchiveBot</name></author>
	</entry>
</feed>