<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Vesole_%28DD-878%29</id>
	<title>USS Vesole (DD-878) - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=USS_Vesole_%28DD-878%29"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Vesole_(DD-878)&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-11T14:57:18Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Vesole_(DD-878)&amp;diff=7569198&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;Lephuoc10012007 vào lúc 19:47, ngày 2 tháng 11 năm 2025</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=USS_Vesole_(DD-878)&amp;diff=7569198&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2025-11-02T19:47:32Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{|{{Infobox ship begin}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship image&lt;br /&gt;
|Ship image=USS Vesole (DD-878) underway in the Mediterranean Sea, in 1952.jpg&lt;br /&gt;
|Ship caption= Tàu khu trục USS &amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; (DD-878) trên đường đi trong biển Địa Trung Hải, năm 1952&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship career&lt;br /&gt;
|Ship country= Hoa Kỳ &lt;br /&gt;
|Ship flag= {{USN flag|1976}} &lt;br /&gt;
|Ship name= USS &amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; (DD-878)&lt;br /&gt;
|Ship namesake= Kay K. Vesole&lt;br /&gt;
|Ship ordered=&lt;br /&gt;
|Ship awarded=&lt;br /&gt;
|Ship builder= [[Consolidated Steel Corporation]], [[Orange, Texas]]&lt;br /&gt;
|Ship original cost=&lt;br /&gt;
|Ship laid down= [[3 tháng 7]] năm [[1944]]&lt;br /&gt;
|Ship launched= [[29 tháng 12]] năm [[1944]]&lt;br /&gt;
|Ship sponsor= bà Kay K. Vesole&lt;br /&gt;
|Ship completed=&lt;br /&gt;
|Ship acquired=&lt;br /&gt;
|Ship commissioned= [[23 tháng 4]] năm [[1945]]&lt;br /&gt;
|Ship recommissioned=&lt;br /&gt;
|Ship decommissioned= [[1 tháng 12]] năm [[1976]]&lt;br /&gt;
|Ship in service=&lt;br /&gt;
|Ship out of service=&lt;br /&gt;
|Ship renamed=&lt;br /&gt;
|Ship reclassified=&lt;br /&gt;
|Ship struck= [[1 tháng 12]] năm [[1976]]&lt;br /&gt;
|Ship nickname=&lt;br /&gt;
|Ship honors= 2 × [[Ngôi sao Chiến trận]]&lt;br /&gt;
|Ship captured=&lt;br /&gt;
|Ship fate= Bị đánh chìm như một mục tiêu, [[14 tháng 4]] năm [[1983]]&lt;br /&gt;
|Ship status=&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
{{Infobox ship characteristics&lt;br /&gt;
| Hide header = &lt;br /&gt;
| Header caption = &lt;br /&gt;
| Ship class = [[Gearing (lớp tàu khu trục)|Lớp tàu khu trục &amp;#039;&amp;#039;Gearing&amp;#039;&amp;#039;]]&lt;br /&gt;
| Ship displacement = * {{convert|2616|LT|MT|abbr=on}} (tiêu chuẩn);&lt;br /&gt;
* {{convert|3460|LT|MT|abbr=on}} (đầy tải)&lt;br /&gt;
| Ship length = {{convert|390,5|ft|m|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship beam = {{convert|40,9|ft|m|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship draft = {{convert|14,3|ft|m|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship propulsion = * 2 × turbine hơi nước hộp số General Electric;&lt;br /&gt;
* 4 × nồi hơi;&lt;br /&gt;
* 2 × trục;&lt;br /&gt;
* công suất {{convert|60000|shp|kW|abbr=on|lk=on}}&lt;br /&gt;
| Ship speed = {{convert|36,8|kn|lk=in}}&lt;br /&gt;
| Ship range = {{convert|4500|nmi|km|abbr=on}} ở tốc độ {{convert|20|kn|km/h|abbr=on}}&lt;br /&gt;
| Ship complement = 350&lt;br /&gt;
| Ship sensors = &lt;br /&gt;
| Ship EW = &lt;br /&gt;
| Ship armament = * 6 × [[pháo 5 inch/38 caliber|pháo {{convert|5|in|mm|abbr=on|0}}/38 caliber]] trên bệ Mk 38 lưỡng dụng nòng đôi (3×2)&lt;br /&gt;
* 12 × pháo phòng không [[Bofors 40 mm]] (2×4 &amp;amp; 2×2) &lt;br /&gt;
* 11 × pháo phòng không [[Oerlikon 20 mm]]&lt;br /&gt;
* 2 × đường ray thả [[mìn sâu]]&lt;br /&gt;
* 6 × máy phóng mìn sâu [[K-gun]]&lt;br /&gt;
* 10 × ống phóng [[ngư lôi]] [[ngư lôi Mark 15|{{convert|21|in|mm|abbr=on|0}}]] &lt;br /&gt;
| Ship notes = &lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;USS &amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; (DD-878)&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; là một [[tàu khu trục]] [[Gearing (lớp tàu khu trục)|lớp &amp;#039;&amp;#039;Gearing&amp;#039;&amp;#039;]] được [[Hải quân Hoa Kỳ]] chế tạo vào giai đoạn cuối [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]]. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Mỹ được đặt theo tên [[Thiếu úy Hải quân]] [[Kay K. Vesole]] (1913-1943), người đã tử trận trong một vụ không kích tại [[Bari]], [[Ý]] vào ngày [[2 tháng 12]] năm [[1943]], và được truy tặng [[Huân chương Chữ thập Hải quân (Hoa Kỳ)|Huân chương Chữ thập Hải quân]].&amp;lt;ref name=DANFS&amp;gt;{{chú thích web | title=Vesole (DD-878) | work=Dictionary of American Naval Fighting Ships | publisher=Naval History and Heritage Command | url=https://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/v/vesole.html | access-date =ngày 22 tháng 1 năm 2021}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Hoàn tất khi chiến tranh đã sắp kết thúc, con tàu tiếp tục phục vụ trong giai đoạn [[Chiến tranh Lạnh]] và [[Chiến tranh Việt Nam]] cho đến khi xuất biên chế và xóa đăng bạ năm [[1976]]. Con tàu bị đánh chìm như một mục tiêu vào năm [[1983]]. &amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng hai [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong [[Chiến tranh Việt Nam]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Thiết kế và chế tạo ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng [[Consolidated Steel Corporation]] ở [[Orange, Texas]] vào ngày [[3 tháng 7]] năm [[1944]]. Nó được hạ thủy vào ngày [[29 tháng 12]] năm [[1944]]; được đỡ đầu bởi bà Kay K. Vesole, vợ góa Thiếu úy Vesole, và nhập biên chế vào ngày [[23 tháng 4]] năm [[1945]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Lịch sử hoạt động ==&lt;br /&gt;
=== 1945 - 1950 ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; lên đường vào ngày [[11 tháng 5]] để đi đến khu vực [[vịnh Guantánamo, Cuba]], và chạy thử máy huấn luyện cho đến ngày [[10 tháng 6]]. Nó quay trở lại [[Norfolk, Virginia]] hai ngày sau đó để được cải biến thành một tàu khu trục cột mốc [[radar]], và sau khi hoàn tất vào ngày [[29 tháng 7]] nó tiếp tục huấn luyện dọc theo vùng bờ Đông và khu vực [[quần đảo Tây Ấn]]. Con tàu khởi hành vào ngày [[13 tháng 8]], hướng đến [[kênh đào Panama]] trong hành trình đi sang khu vực [[Thái Bình Dương]]. Trên đường đi, nó được tin tức về việc [[Đế quốc Nhật Bản]] [[Nhật Bản đầu hàng|chấp nhận đầu hàng]], nhưng được lệnh tiếp tục chuyến đi và đến [[San Diego]] vào ngày [[24 tháng 8]]. Nó tiếp tục chuyến đi bốn ngày sau đó, hướng đến [[Trân Châu Cảng]], nơi nó gia nhập cùng [[tàu sân bay]] {{USS|Boxer|CV-21|3}} cho chuyến đi sang [[Nhật Bản]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong hơn một năm hoạt động tại Viễn Đông, &amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; thực hiện nhiều hoạt động huấn luyện, thường là phối hợp cùng các đội đặc nhiệm tàu sân bay, nhất là với &amp;#039;&amp;#039;Boxer&amp;#039;&amp;#039;, {{USS|Lexington|CV-16|3}} và {{USS|Intrepid|CV-11|3}}. Nó tuần tra dọc bờ biển [[Trung Quốc]], viếng thăm [[Thanh Đảo]] và [[Thượng Hải]] cùng các cảng Nhật Bản [[Tokyo]], [[Kure]] và [[Yokosuka]], và đã hai lần có các chuyến khứ hồi đến [[quần đảo Mariana]] vào các mùa Đông năm [[1945]] và [[1946]]. Sang năm [[1946]], ngoài các cảng Nhật Bản, Trung Quốc và [[Philippines]], con tàu còn ghé đến [[Okinawa]] và [[Hong Kong]]. Nó rời Thanh Đảo vào [[tháng 11]], [[1946]] để quay trở về nhà, ghé qua [[Guam]] vào ngày [[29 tháng 11]] và có chặng dừng ngắn tại Trân Châu Cảng trước khi về đến San Diego vào ngày [[16 tháng 12]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; cùng Đội khu trục 141 khởi hành từ San Diego vào ngày [[6 tháng 1]], [[1947]] để đi sang vùng bờ Đông ngang qua kênh đào Panama. Nó ở lại Norfolk từ ngày [[23 tháng 1|23]] đến ngày [[29 tháng 1]] trước khi đi vào [[Xưởng hải quân New York]], nơi con tàu được đại tu trong ba tháng. Hoàn tất việc sửa chữa vào ngày [[30 tháng 4]], nó tiến hành chạy thử máy, rồi sang [[tháng 6]] bắt đầu huấn luyện ôn tập. Nhiều đợt thực hành và tập trận từ căn cứ [[Newport, Rhode Island]] được nó tiếp nối cho đến ngày [[2 tháng 9]], khi con tàu lên đường đi sang vùng biển [[Châu Âu]]. Đi đến [[Plymouth]], [[Anh]] vào ngày [[11 tháng 9]], trong năm tháng tiếp theo chiếc tàu khu trục viếng thăm các cảng [[Antwerp]], [[Bỉ]] và [[Lisbon]], [[Bồ Đào Nha]] cùng nhiều cảng Anh khác. Nó rời Plymouth vào ngày [[4 tháng 2]], [[1948]] để quay trở về Hoa Kỳ, và về đến Newport đúng ngày [[lễ Valentine]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau bốn tháng hoạt động thường lệ dọc theo vùng bờ Đông, &amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; lại lên đường vào ngày [[5 tháng 6]] để đi sang vùng biển Tây Âu, lần này là với mục đích thực tập cho những học viên sĩ quan thuộc [[Học viện Hải quân Hoa Kỳ]] trong thành phần một đội đặc nhiệm tàu sân bay, hình thành chung quanh chiếc {{USS|Coral Sea|CV-43|3}}. Hoạt động thực hành trên đường đi, đội đặc nhiệm viếng thăm Lisbon, Bồ Đào Nha, rồi tiến vào [[Địa Trung Hải]] và hoạt động cho đến ngày [[12 tháng 7]] khi nó quay về khu vực vịnh Guantánamo, Cuba. Sau một tháng tiếp tục thực hành huấn luyện tại vùng biển Tây Ấn, chiếc tàu khu trục tiễn các học viên rời tàu tại [[Annapolis, Maryland]] vào ngày [[24 tháng 8]], rồi đi đến [[Xưởng hải quân Boston]] cho một đợt đại tu kéo dài hai tháng. Đến [[tháng 11]], nó bắt đầu huấn luyện ôn tập sau đại tu, thoạt tiên tại vùng [[vịnh Narragansett]] và sau đó là tại khu vực Tây Ấn.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; có những hoạt động thường lệ cùng [[Đệ Nhị hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Nhị hạm đội]] tại vùng bờ Đông trong năm tháng tiếp theo, rồi khởi hành từ Newport vào ngày [[18 tháng 4]], [[1949]] cho một lượt hoạt động khác tại Địa Trung Hải. Phần lớn thời gian của nó được dành cho việc huấn luyện, cho đến ngày [[17 tháng 9]] khi nó lên đường quay trở về nhà. Về đến Newport vào ngày [[25 tháng 9]], nó lại hoạt động tại vùng bờ Đông, bao gồm những lượt thực hành tại vùng biển lạnh giá lẫn vùng [[biển Caribe]] ấm áp, kéo dài cho đến ngày [[3 tháng 5]], [[1950]], khi nó cùng Đội đặc nhiệm 88.1 rời Norfolk để đi sang khu vực Địa Trung Hải. Trong năm tháng tiếp theo, nó viếng thăm nhiều cảng dọc bờ biển Địa Trung Hải và thực hiện nhiều đợt thực tập đổ bộ cũng như tập trận phối hợp với các tàu sân bay nhanh. Nó hoàn tất đợt hoạt động vào [[tháng 9]] và quay trở về Norfolk vào ngày [[4 tháng 10]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1951 - 1964 ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; hầu như ngay lập tức được đại tu, công việc kéo dài cho đến ngày [[15 tháng 2]], [[1951]], khi nó bắt đầu một đợt huấn luyện ôn tập kéo dài trong sáu tuần tại vùng biển Tây Ấn. Quay trở về Norfolk vào ngày [[3 tháng 4]], con tàu lại tiếp tục chuẩn bị cho một chuyến đi khác sang Địa Trung Hải. Nó khởi hành từ Norfolk vào ngày [[15 tháng 5]] để gia nhập Đệ Lục hạm đội, và tham gia một loạt các cuộc thực hành huấn luyện khác nhau, bao gồm Chiến dịch Beehive, một cuộc tập trận đa quốc gia phối hợp cùng hải quân các nước [[Anh]], [[Pháp]] và [[Ý]]. Nó cũng viếng thăm các cảng suốt khu vực Địa Trung Hải trước khi rời [[Gibraltar]] vào ngày [[23 tháng 9]] và về đến Norfolk vào ngày [[6 tháng 10]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tại vùng bờ Đông, &amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; tiếp nối các hoạt động thường lệ cùng Đệ Nhị hạm đội, bao gồm một cuộc tập trận Hạm đội Đại Tây Dương quy mô lớn và các đợt thực hành đổ bộ và hộ tống vận tải. Sau khi ghé đến [[Xưởng hải quân New York]] để được bổ sung những thiết bị điện tử mới, nó quay trở về Norfolk để chuẩn bị cho một chuyến đi khác sang Địa Trung Hải. Rời Norfolk vào ngày [[21 tháng 4]], [[1952]], trong sáu tháng tiếp theo nó tham gia các hoạt động thực hành huấn luyện của Đệ Lục hạm đội và viếng thăm các cảng. Nó rời [[Lisbon]], [[Bồ Đào Nha]] vào ngày [[11 tháng 10]] để quay trở về nhà, về đến Norfolk vào ngày [[20 tháng 10]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong năm tháng tiếp theo sau, &amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; được cải biến tại [[Xưởng hải quân Norfolk]]. Nó thay thế các khẩu đội phòng không [[Bofors 40 mm]] bằng [[pháo 3 inch/50 caliber|pháo {{convert|3|in|mm|abbr=on}}/50 cal]] trên các bệ nòng đôi; cột ăn-ten phía sau được tháo dỡ và trang bị một cột ăn-ten trước cao hơn. Ngoài ra con tàu cũng được bổ sung những thiết bị radar, điện tử và thông tin liên lạc hiện đại hơn. Hoàn tất công việc trong xưởng tàu vào cuối [[tháng 3]], và từ cuối [[tháng 4]] bắt đầu hoạt động huấn luyện ôn tập tại khu vực vịnh Guantánamo, Cuba. Sau khi quay trở về Norfolk vào ngày [[14 tháng 6]], nó tiếp tục các hoạt động thường lệ từ cảng này, cho đến khi lên đường đi sang khu vực Địa Trung Hải vào ngày [[16 tháng 9]], [[1953]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong một thập niên tiếp theo sau, &amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; tiếp tục luân phiên các lượt biệt phái phục vụ cùng Đệ Lục hạm đội tại Địa Trung Hải với những giai đoạn được nghỉ ngơi, bảo trì, sửa chữa và huấn luyện hay tập trận dọc theo vùng bờ Đông và vùng biển Tây Ấn. Trong lượt phục vụ tại Địa Trung Hải vào năm [[1958]], chiếc tàu khu trục được tặng thưởng [[Huân chương Viễn chinh Lực lượng Vũ trang]] do đã tham gia lực lượng hải quân hỗ trợ cho việc đổ bộ binh lính [[Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ|Thủy quân Lục chiến]] lên [[Beirut]], và sau đó hoạt động tuần tra ngoài khơi [[Liban]] vào lúc xảy ra cuộc [[Khủng hoảng Liban 1958|khủng hoảng chính trị]] tại đất nước này.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; lại được tặng thưởng huân chương này lần thứ hai vào năm [[1962]], khi vào cuối [[tháng 10]], việc phát hiện ra [[Liên Xô]] bố trí những [[tên lửa đạn đạo]] tầm trung mang đầu đạn [[hạt nhân]] tại [[Cuba]] đã đưa đến vụ [[Khủng hoảng tên lửa Cuba]]. Chiếc tàu khu trục lại được huy động vào lực lượng hải quân &amp;quot;cô lập&amp;quot; hòn đảo [[Trung Mỹ]] này, hoạt động tuần tra tại vùng biển giữa [[Key West, Florida]] và [[Havana, Cuba]], và đã trực tiếp khám xét hai tàu chở hàng Liên Xô, tìm thấy những tên lửa được tháo dỡ và đang trên đường quay trở về [[Nga]]. Con tàu chỉ quay về cảng sau khi khi vụ khủng hoảng được giải quyết bằng con đường thương lượng hòa bình.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào [[tháng 1]], [[1964]], &amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; trải qua một đợt sửa chữa và nâng cấp tại [[Xưởng hải quân Philadelphia]], trong khuôn khổ Chương trình [[Hồi sinh và Hiện đại hóa Hạm đội]] I (FRAM: Fleet Rehabilitation and Modernization), nhằm kéo dài vòng đời hoạt động thêm 10 đến 20 năm, đồng thời nâng cao năng lực tác chiến. Nó được cải tiến những thiết bị điện tử, [[radar]] và [[sonar]] hiện đại. Tháp pháo 5-inch phía trước thứ hai được tháo dỡ thay thế, bằng hai bệ [[ống phóng ngư lôi Mark 32 cho hạm tàu nổi|ống phóng ngư lôi Mark 32]] ba nòng, trang bị thêm bệ phóng tên lửa chống ngầm [[RUR-5 ASROC]] giữa các ống khói, cùng hầm chứa và sàn đáp để vận hành [[máy bay trực thăng]] không người lái chống tàu ngầm [[Gyrodyne QH-50 DASH]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1965 - 1970 ===&lt;br /&gt;
Hoàn thành việc nâng cấp vào [[tháng 9]], [[1964]], &amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; rời Philadelphia vào ngày [[7 tháng 10]] để chuyển đến cảng nhà mới [[Newport, Rhode Island]], và bắt đầu phục vụ trong thành phần một đội đặc nhiệm tìm-diệt tàu ngầm trực thuộc Hạm đội Đại Tây Dương. Nhiệm vụ này kéo dài cho đến cuối năm [[1965]], khi chiếc tàu khu trục lên đường cho lượt phục vụ duy nhất trong khuôn khổ cuộc [[Chiến tranh Việt Nam]]. Trong giai đoạn từ cuối năm [[1965]] đến đầu năm [[1966]], nó tham gia các [[Chiến dịch Sea Dragon]] và [[Chiến dịch Market Time|Market Time]] dọc theo bờ biển [[Việt Nam]] nhằm ngăn chặn việc vận chuyển vũ khí và tiếp liệu ven biển của đối phương, đồng thời đã bắn hải pháo hỗ trợ cho hoạt động tác chiến của lực lượng trên bộ. Đôi khi nó cũng hoạt động trong vai trò hộ tống chống tàu ngầm cho những [[tàu sân bay]] hoạt động tại [[vịnh Bắc Bộ]]. Sau khi quay trở về căn cứ tại [[vịnh Subic]], [[Philippines]] để bảo trì, nó cùng Hải đội Khu trục 24 lên đường để quay trở về Hoa Kỳ. Sau hành trình đi ngang qua [[Ấn Độ Dương]], [[kênh đào Suez]], Địa Trung Hải và [[Đại Tây Dương]], nó về đến Newport vào ngày [[8 tháng 4]], [[1966]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong sáu năm tiếp theo, &amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; đã bốn lần được phái sang hoạt động tại vùng biển nước ngoài, bao gồm ba lượt phục vụ cùng [[Lực lượng Trung Đông]] tại khu vực Ấn Độ Dương và một lượt cùng Lực lượng Hải quân NATO tại khu vực Đông Đại Tây Dương và vùng biển Châu Âu. Vào [[tháng 11]], [[1966]], nó khởi hành từ Newport và đi ngang qua Địa Trung Hải để phục vụ cùng Lực lượng Trung Đông; nó băng qua kênh đào Suez vào ngày [[29 tháng 12]] và thay phiên cho tàu khu trục {{USS|Johnston|DD-821|3}} tại [[Port Sudan]]. Lượt phục vụ này thuần túy chỉ bao gồm các hoạt động huấn luyện và viếng thăm các cảng Đông Phi cùng [[Aden]] tại [[Yemen]]. Khi kết thúc lượt hoạt động vào ngày [[28 tháng 2]], [[1967]], con tàu quay trở lại kênh đào Suez để đi ngang Địa Trung Hải, và về đến Newport vào ngày [[21 tháng 3]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; tiếp nối các hoạt động thường lệ, hoạt động xa về phía Nam đến tận [[Jacksonville, Florida]], cho đến hết năm [[1967]]. Trong hai tháng đầu năm [[1968]], nó thực hành huấn luyện tại khu vực Tây Ấn trước khi đi vào [[Xưởng hải quân Boston]] vào ngày [[12 tháng 4]] cho một đợt đại tu, kéo dài cho đến ngày [[19 tháng 8]]. Hoạt động huấn luyện tại vùng biển Tây Ấn được nó thực hiện trong [[tháng 9]] và [[tháng 10]], trước khi nó quay trở về Newport vào ngày [[7 tháng 11]], và chuẩn bị cho lượt biệt phái hoạt động tiếp theo.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khởi hành từ Newport vào ngày [[6 tháng 1]], [[1969]], &amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; hướng sang [[Hà Lan]], nơi nó phục vụ trong năm tháng tiếp theo cùng [[Lực lượng Hải quân Thường trực NATO]] tại Đại Tây Dương, một hải đội đa quốc gia do một [[Thiếu tướng Hải quân]] Hà Lan và một [[tham mưu trưởng]] [[Canada]] chỉ huy. Đi đến [[Den Helder]], Hà Lan vào ngày [[18 tháng 1]], hoạt động của nó bao gồm một loạt các cuộc tập trận đa quốc gia và viếng thăm thiện chí các cảng Bắc Âu, bao gồm [[đảo Portland|Portland]], [[Plymouth]], [[Portsmouth]] và [[London]], Anh; [[Trondheim]], [[Na Uy]]; và [[Lisbon]], [[Bồ Đào Nha]]. Sau một cuộc [[Duyệt binh Hạm đội]] nhân kỷ niệm 20 năm thành lập [[Khối NATO]] do Nữ hoàng [[Elizabeth II của Anh]] chủ trì, nó lên đường vào ngày [[17 tháng 5]] để quay trở về nhà, và về đến Norfolk vào ngày [[2 tháng 6]]; tuy nhiên nó chỉ về đến cảng nhà Newport một tháng sau đó, vào ngày [[1 tháng 7]]. Nó ở lại cảng trong sáu tuần trước khi lên đường vào ngày [[19 tháng 8]] để chuyển đến cảng nhà mới [[Charleston, South Carolina]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; hoạt động thường lệ từ cảng nhà mới đến hết năm [[1969]] và sang đầu năm [[1970]]; nó khởi hành vào ngày [[3 tháng 3]] khi được phái sang hoạt động cùng Lực lượng Trung Đông. Hành trình kéo dài vòng qua [[mũi Hảo Vọng]], và có các chặng dừng để tiếp nhiên liệu tại [[Bridgetown]], [[Barbados]]; [[Monrovia]], [[Liberia]]; [[Luanda]], [[Angola]]; và [[Lourenco Marques]], [[Mozambique]]. Nó trình diện để phục vụ cùng Tư lệnh Lực lượng Trung Đông tại cảng [[Antsiranana|Diego Suarez]], [[Madagascar]] vào đầu [[tháng 4]]; thành phần hải đội này bao gồm [[soái hạm]] {{USS|Valcour|AGF-1|3}}, một [[tàu tiếp liệu thủy phi cơ]] được cải biến thành tàu chỉ huy, cùng hai tàu khu trục được luân phiên phục vụ mỗi sáu tháng, nhưng hoạt động độc lập với nhau.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong giai đoạn hoạt động tại Ấn Độ Dương từ [[tháng 4]] đến [[tháng 9]], [[1970]], &amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; lần lượt viếng thăm [[Mombasa]], [[Kenya]]; Diego-Suarez, Madagascar; [[Djibouti]] (lúc này còn thuộc [[Somaliland thuộc Pháp]]); [[Asmara]], [[Eritrea]] (lúc đó là [[Ethiopia]]; [[Bahrain]]; [[Bandar Abbas]], [[Iran]]; [[Dhahran]], [[Ả Rập Xê Út]]; [[Karachi]], [[Pakistan]]; [[Cochin]], [[Ấn Độ]]; [[Colombo]], Ceylon; [[Malé]], Maldives; và [[Victoria, Seychelles|Victoria]], [[Seychelles]]. Tại Malé, nó đã đón lên tàu Robert Strausz-Hupé, Đại sứ Hoa Kỳ tại [[Sri Lanka|Ceylon]] để chiêu đãi nhân dịp kỷ niệm năm năm [[Cộng hòa Maldives]] được độc lập; và vị đại sứ đã trao tặng cho tổng thống Maldives một viên đá [[mặt trăng]] lấy được trong [[Chương trình Apollo]]. Con tàu quay trở về Charleston vào [[tháng 10]] sau hành trình đi ngang qua Lourenco Marques, Luanda, [[Dakar]] thuộc [[Senegal]] và [[St. John’s, Antigua và Barbuda]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== 1971 - 1976 ===&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; tiếp tục hoạt động dọc theo vùng bờ Đông Hoa Kỳ trong gần một năm tiếp theo. Nó đã tham gia các cuộc thử nghiệm [[tên lửa chống hạm]] [[AGM-84 Harpoon]] và [[tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm]] [[UGM-73 Poseidon]], phục vụ canh phòng máy bay cho các tàu sân bay trong hoạt động huấn luyện chuẩn nhận phi công tàu sân bay, cũng như tham gia nhiều cuộc tập trận. Nó khởi hành từ Charleston vào ngày [[23 tháng 9]], [[1971]] để đi sang phục vụ cùng Lực lượng Trung Đông; và sau hành trình đi ngang qua Recife, Brazil cùng nhiều cảng châu Phi khác, nó đi đến [[Majunga]], [[Madagascar|Malagasy]] vào ngày [[29 tháng 10]]. Như thường lệ, con tàu đã viếng thăm thiện chí nhiều cảng trong khu vực trong suốt bốn tháng hoạt động, cho đến khi được tàu khu trục {{USS|Charles P. Cecil|DD-835|3}} thay phiên tại Mombasa vào [[tháng 2]], [[1972]]. Nó lên đường quay trở về nhà ngang qua mũi Hảo Vọng và vượt Đại Tây Dương, về đến Charleston vào ngày [[11 tháng 3]], rồi hoạt động tại chỗ từ cảng Charleston cho đến ngày [[5 tháng 7]], khi nó đi vào [[Xưởng hải quân Charleston]] để được đại tu trong bốn tháng.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi rời xưởng tàu vào [[tháng 11]], [[1972]], &amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; tiến hành chạy thử máy và huấn luyện ôn tập cho đến [[tháng 3]], [[1973]], rồi quay trở lại Charleston vào ngày [[19 tháng 3]] để cải biến hệ thống động cơ sang sử dụng nhiên liệu chưng cất hải quân. Khi công việc hoàn tất vào ngày [[24 tháng 5]], nó trở ra biển để chạy thử máy và hoạt động thường lệ cùng Đệ Nhị hạm đội. Con tàu khởi hành từ Charleston vào ngày [[27 tháng 7]] để tham gia cuộc Tập trận UNITAS XIV, một loạt các lượt thực tập song phương phối hợp với hải quân các nước [[Nam Mỹ]]. Trong đợt tập trận này, nó đã băng qua [[kênh đào Panama]] để hoạt động bên phía bờ biển Thái Bình Dương cùng [[Hải quân Peru]] và [[Hải quân Chile]], và sau đó huấn luyện phối hợp với tàu chiến của [[Colombia]], [[Brazil]], [[Uruguay]] và [[Argentina]]. Nó hoàn tất đợt Tập trận UNITAS khi về đến Charleston vào ngày [[15 tháng 12]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong gần một năm tiếp theo, &amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; tiếp nối những hoạt động thường lệ cùng Đệ Nhị hạm đội từ cảng Charleston, bao gồm các cuộc thực tập tác xạ, bắn ngư lôi và phóng tên lửa ASROC, cũng như huấn luyện phối hợp cùng tàu sân bay. Nó khởi hành từ Charleston vào ngày [[15 tháng 11]], [[1974]] cho một lượt biệt phái phục vụ cùng Đệ Lục hạm đội tại Địa Trung Hải, sau bốn năm ngắt quãng; đợt hoạt động này kéo dài cho đến ngày [[5 tháng 5]], [[1975]], khi nó rời [[Rota, Cádiz|Rota]] để quay trở về Hoa Kỳ, về đến Charleston vào ngày [[15 tháng 5]]. Sau một giai đoạn được bảo trì cặp bên mạn [[tàu tiếp liệu khu trục]] {{USS|Sierra|AD-18|3}}, nó tiếp nối những hoạt động từ cảng Charleston.&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào ngày [[6 tháng 1]], [[1976]], &amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; khởi hành từ Charleston cho lượt biệt phái phục vụ ra nước ngoài sau cùng, tại Địa Trung Hải cùng với Đệ Lục hạm đội. Nó đi đến Rota vào ngày [[17 tháng 1]] rồi ra khơi hai ngày sau đó, tham gia cuộc Tập trận Silver Fox được tổ chức tại [[Hắc Hải]], rồi được cử đi trong thành phần một lực lượng hải quân dự phòng được phái đến khu vực Đông Địa Trung Hải từ ngày [[3 tháng 4]] đến ngày [[15 tháng 5]], do những bất ổn và xung đột giữa các phe phái trong cuộc [[Nội chiến Liban]]. Chiếc tàu khu trục hoàn tất lượt phục vụ khi về đến Charleston vào ngày [[28 tháng 7]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; được cho xuất biên chế tại [[Charleston, Nam Carolina]], đồng thời rút tê khỏi danh sách [[Đăng bạ Hải quân]] vào ngày [[1 tháng 12]], [[1976]]. Một dự định nhằm chuyển giao con tàu cho một hải quân đồng minh đã không được xúc tiến, và con tàu bị đánh chìm như một mục tiêu trong một cuộc tập trận bắn đạn thật ngoài khơi [[Puerto Rico]] vào ngày [[14 tháng 4]], [[1983]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Phần thưởng ==&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;Vesole&amp;#039;&amp;#039; được tặng thưởng hai [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong [[Chiến tranh Việt Nam]].&amp;lt;ref name=DANFS/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tham khảo ==&lt;br /&gt;
=== Chú thích ===&lt;br /&gt;
{{tham khảo}}&lt;br /&gt;
=== Thư mục ===&lt;br /&gt;
* {{cite DANFS | author=[[Naval Historical Center]] | title=Vesole (DD-878) | url=https://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/v/vesole.html | access-date = ngày 9 tháng 10 năm 2019}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Liên kết ngoài ==&lt;br /&gt;
* {{navsource|05/878|USS Vesole}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;lt;!-- non-breaking space to keep AWB drones from altering the space before the navbox--&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{Lớp tàu khu trục Gearing}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Mỹ}}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{{DEFAULTSORT:Vesole (DD-878)}}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Lớp tàu khu trục Gearing]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục của Hải quân Hoa Kỳ]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Chiến tranh Lạnh]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu khu trục trong Chiến tranh Việt Nam]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu bị đánh chìm như mục tiêu]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Sự kiện hàng hải 1983]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Xác tàu đắm tại bờ biển Puerto Rico]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tàu thủy năm 1944]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;Lephuoc10012007</name></author>
	</entry>
</feed>