<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=Viktor_Starukhin</id>
	<title>Viktor Starukhin - Lịch sử thay đổi</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://wikibeta.org/index.php?action=history&amp;feed=atom&amp;title=Viktor_Starukhin"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=Viktor_Starukhin&amp;action=history"/>
	<updated>2026-08-10T06:42:43Z</updated>
	<subtitle>Lịch sử thay đổi trang này trên wiki</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.46.0</generator>
	<entry>
		<id>https://wikibeta.org/index.php?title=Viktor_Starukhin&amp;diff=7872813&amp;oldid=prev</id>
		<title>imported&gt;KKhuc92 vào lúc 12:47, ngày 3 tháng 6 năm 2026</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://wikibeta.org/index.php?title=Viktor_Starukhin&amp;diff=7872813&amp;oldid=prev"/>
		<updated>2026-06-03T12:47:28Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Trang mới&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div&gt;{{Đang viết|date=tháng 2/2025}}&lt;br /&gt;
{{Infobox baseball biography&lt;br /&gt;
| name          = Viktor Starukhin&lt;br /&gt;
| image         = Victor Starffin00.jpeg&lt;br /&gt;
| image_size    = 180&lt;br /&gt;
| caption       = &lt;br /&gt;
| position      = [[Pitcher|Tay ném]]&lt;br /&gt;
| birth_date    = {{birth date|1916|5|1|df=y}}&lt;br /&gt;
| birth_place   = [[Nizhny Tagil]], [[Perm]], [[Đế quốc Nga]]&lt;br /&gt;
| death_date    = {{death date and age|1957|1|12|1916|5|1|df=y}}&lt;br /&gt;
| death_place   = [[Setagaya, Tokyo]], [[Nhật Bản]]&lt;br /&gt;
| bats          = Phải&lt;br /&gt;
| throws        = Phải&lt;br /&gt;
| debutleague   = [[Giải bóng chày quốc gia Nhật Bản|JBL]]&lt;br /&gt;
| debutdate     =&lt;br /&gt;
| debutyear     = 1936&lt;br /&gt;
| debutteam     = [[Yomiuri Giants|Tokyo Kyojingun]]&lt;br /&gt;
| finaldate     = July 12&lt;br /&gt;
| finalyear     = 1955&lt;br /&gt;
| finalteam     = [[Takahashi Unions]]&lt;br /&gt;
| finalleague = [[Nippon Professional Baseball|NPB]]&lt;br /&gt;
| statleague    = JBL/NPB&lt;br /&gt;
| stat1label   = Số trận thắng bại&lt;br /&gt;
| stat1value   = 303–176&lt;br /&gt;
| stat2label   = Tỉ lệ mất điểm&lt;br /&gt;
| stat2value   = 2.09&lt;br /&gt;
| stat3label   = Số trận ném không mất điểm&lt;br /&gt;
| stat3value   = 83&lt;br /&gt;
| stat4label   = Số hiệp ra sân&lt;br /&gt;
| stat4value   = 4175,1 (4751 hiệp và 1 out)&lt;br /&gt;
| stat5label   = Số [[Strikeout]]&lt;br /&gt;
| stat5value   = 1,960&lt;br /&gt;
| teams         = &lt;br /&gt;
*[[Yomiuri Giants|Tokyo Kyojingun]] ({{Baseball year|1934}}–{{Baseball year|1944}})&lt;br /&gt;
*Pacific/[[Shochiku Robins|Taiyo Robins]] ({{Baseball year|1946}}–{{Baseball year|1947}})&lt;br /&gt;
*Kinsei Stars/[[Daiei Stars]] ({{Baseball year|1948}}–{{Baseball year|1953}})&lt;br /&gt;
*[[Takahashi Unions]]/Tombow Unions ({{Baseball year|1954}}–{{Baseball year|1955}})&lt;br /&gt;
| highlights    = &lt;br /&gt;
* [[Tam vương miện (bóng chày)|Tam vương miện]] [[NPB]] (The 1938)&lt;br /&gt;
* 2× [[Cầu thủ xuất sắc nhất Nippon Professional Baseball|MVP Giải bóng chày Nhật Bản]] (1939, 1940)&lt;br /&gt;
* [[Đội hình xuất sắc nhất mùa giải (Nippon Professional Baseball)|Đội hình xuất sắc nhất mùa giải]] (1940)&lt;br /&gt;
* Hoàn thành một trận [[no-hit no-run]] ngày 7 tháng 3 năm 1937&lt;br /&gt;
* 6 mùa giải đạt 20 trận thắng (1937, 1938, 1939, 1940, 1942, 1949)&lt;br /&gt;
* 3 mùa giải đạt 30 trận thắng (1938, 1939, 1940)&lt;br /&gt;
* Đạt 40 trận thắng mùa 1939&lt;br /&gt;
* [[Trận đấu All-Star Nippon Professional Baseball|dự trận All-Star]] (1952)&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Kỉ lục Nhật Bản&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;&lt;br /&gt;
* 83 trận ném không mất điểm trong sự nghiệp&lt;br /&gt;
| hoflink       = Japanese Baseball Hall of Fame&lt;br /&gt;
| hofcolor = #BC002D&lt;br /&gt;
| hoftype       = Nhật Bản&lt;br /&gt;
| hofdate       = 1960&lt;br /&gt;
}}&lt;br /&gt;
&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Viktor Konstantinovich Starukhin&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; ([[tiếng Nga]] - &amp;#039;&amp;#039;Виктор Констатинович Старухин&amp;#039;&amp;#039;; phiên âm [[tiếng Nhật]] - &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;ヴィクトル・コンスタンチーノヴィチ・スタルヒン;&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; [[tiếng Anh]] - &amp;#039;&amp;#039;Victor Starffin&amp;#039;&amp;#039;)  (sinh ngày 1 tháng 5 năm 1916 – mất ngày 12 tháng 1 năm 1957 &amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích web|url=https://column.sp.baseball.findfriends.jp/?pid=column_detail&amp;amp;id=097-20180112-14|tiêu đề=大投手スタルヒン、交通事故死【1957年1月12日】|ngày=2018-01-12|website=週刊ベースボールONLINE|nhà xuất bản=NetDreamers [[ベースボール・マガジン社]]|ngày truy cập=2024-01-12|和書}}&amp;lt;/ref&amp;gt; ) là một [[Cầu thủ giao bóng (bóng chày)|tay ném bóng chày]] [[Thể thao chuyên nghiệp|chuyên nghiệp]] [[Người Nga tại Nhật Bản|người gốc Nga tại Nhật Bản]] từng thi đấu tại [[Giải bóng chày quốc gia Nhật Bản]] (JBL) và sau này là [[Nippon Professional Baseball]] (NPB). Sinh ra ở [[Đế quốc Nga]] và lớn lên [[Hokkaidō|ở Hokkaido]], ông là tay ném đầu tiên trong lịch sử bóng chày [[Nhật Bản]] đạt cột mốc 300 trận thắng trong suốt sự nghiệp,&amp;lt;ref&amp;gt;{{cite web|url=http://english.baseball-museum.or.jp/baseball_hallo/detail/detail_010.html|publisher=Japan Baseball Hall of Fame and Museum|title=Victor Starffin|access-date=2007-05-25|ngày lưu trữ=2012-04-15|archive-url=https://web.archive.org/web/20120415035330/http://english.baseball-museum.or.jp/baseball_hallo/detail/detail_010.html|url-status=dead}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&amp;lt;ref name=&amp;quot;Reaves&amp;quot;&amp;gt;{{cite book|title=Taking in a Game: A History of Baseball in Asia|pages=[https://archive.org/details/takingingamehist0000reav/page/70 70–71]|last=Reaves|first=Joseph A.|publisher=University of Nebraska Press|year=2002|isbn=0-8032-3943-2|url=https://archive.org/details/takingingamehist0000reav/page/70}}&amp;lt;/ref&amp;gt; cũng như nắm giữ kỉ lục số trận ném không mất điểm &amp;#039;&amp;#039;(shutout)&amp;#039;&amp;#039; với 83 lần.&amp;lt;ref name=shutout&amp;gt;Wilbert, Warren N. &amp;#039;&amp;#039;The Shutout in Major League Baseball: A History&amp;#039;&amp;#039; (McFarland, 2013), p. 108.&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong [[Chiến tranh thế giới thứ hai|chiến tranh]], ông đổi tên thành &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Suda Hiroshi&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; dưới áp lực từ chính sách [[bài ngoại]] của chính quyền [[Đế quốc Nhật Bản|quân phiệt Nhật]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1960, ông được đề cử gia nhập [[Đại sảnh Danh vọng Bóng chày Nhật Bản|Đại sảnh danh vọng Bóng chày Nhật Bản]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Tiểu sử ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Lưu vong, thời học sinh và thi đấu cho tuyển Nhật Bản ===&lt;br /&gt;
Viktor sinh năm [[1916]] tại [[Nizhny Tagil]], [[Đế quốc Nga]]. Ông là con trai duy nhất trong gia đình gồm có cha, Konstantin, một sĩ quan quân đội [[Sa hoàng]], và mẹ ông, Evdokia.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong [[Cách mạng Nga (1917)|cuộc Cách mạng Nga]] năm [[1917]], gia đình Starukhin đã bị chính quyền chính quyền [[Bolshevik]] nhắm tới vì có mầm mống tư tưởng bảo hoàng. Để thoát khỏi sự truy đuổi của lực lượng Bolshevik, gia đình đã chạy trốn qua [[Dãy núi Ural|dãy Ural]], qua vùng [[Siberia]] và [[Cáp Nhĩ Tân]], bấy giờ thuộc [[Mãn Châu]] dưới sự kiểm soát [[Nhật Bản|của Nhật Bản]], để sau đó sang Nhật Bản định cư ở [[Asahikawa]], [[Hokkaidō|Hokkaido]] vào [[1925|năm 1925]].&amp;lt;ref name=&amp;quot;:0&amp;quot;&amp;gt;{{Chú thích sách|title=報知グラフ 別冊 巨人軍栄光の40年|publisher=Hochi Shimbun}}&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi còn theo học tiểu học, Starukhin thường bị bạn bè xung quanh chế giễu vì vẻ ngoài khác biệt của mình. Tuy nhiên, cậu cũng nổi bật thành tích học tập xuất sắc và năng khiếu thể thao vượt trội. Khi Starukhin được tiếp xúc với [[bóng chày]] và chơi cho đội của trường mình, với chiều cao hơn 1m80, cậu phải xếp vào chơi bóng với đội lớp trên. Lúc theo học cấp 2 tại trường trung học Asahikawa (sau này là [[Trường trung học Hokkaido - Asahikawa Higashi]]),&amp;lt;ref&amp;gt;{{cite web |url=http://search.japantimes.co.jp/cgi-bin/sb20080720wg.html |title=Writer takes memorable trip to Victor Starfin Stadium in Asahikawa {{!}} The Japan Times Online |website=search.japantimes.co.jp |url-status=dead |archive-url=https://web.archive.org/web/20100504142726/http://search.japantimes.co.jp/cgi-bin/sb20080720wg.html |archive-date=2010-05-04}}&amp;lt;/ref&amp;gt; một lần nữa Starukhin không thể chơi bóng với các bạn đồng lứa mà được đôn lên CLB bóng chày cấp 3; khi gia nhập CLB, phản ứng đầu tiên của cậu là, &amp;quot;Tôi có thể chơi bóng chày với mọi người thật sao?&amp;quot;.&amp;lt;ref name=&amp;quot;:0&amp;quot; /&amp;gt;  Dù mới là học sinh cấp 2, ông đã được biết đến với uy lực ném hiếm có và lọt vào trận chung kết giải tỉnh Hokkaido tranh vé dự [[Đại hội Vô địch Bóng chày Trung học phổ thông toàn Nhật Bản|Koshien Mùa hè]] trong hai năm liên tiếp ([[1933]], [[1934]]), nhưng đều để thua sít sao do lỗi phòng ngự của đồng đội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1932, khi Starukhin được mời tham gia đội bóng chày [[trường Koyo Gakuin]], gia đình cậu chuyển đến [[Kobe]], [[Tỉnh Hyōgo|tỉnh Hyogo]], và điều hành một tiệm bánh để trang trải sinh hoạt với sự hỗ trợ tài chính từ nhà trường. Nhưng việc chuyển trường cho Starukhin sau đó thất bại do sự phản đối từ các trường khác trong tỉnh, và cả gia đình trở về Asahikawa.&lt;br /&gt;
[[Tập tin:Young20starffin.jpg|phải|nhỏ|231x231px| Starukhin khi còn theo học phổ thông]]&lt;br /&gt;
Khi Starukhin học năm nhất trung học, cha anh [[Sự giết người|đã sát hại]] một nhân viên tại [[Kissaten|quán cà phê]] &amp;#039;&amp;#039;Baikal&amp;#039;&amp;#039; do ông điều hành và bị kết án 8 năm tù. Dù chịu tiếng là &amp;quot;con trai một kẻ giết người&amp;quot;, và cuộc sống khó khăn khi thiếu vắng trụ cột gia đình, Starukhin vẫn nhận được nhiều sự cảm thông từ cộng đồng cũng như sự đóng góp của các bạn học để trang trải học phí và chi phí sinh hoạt.&amp;lt;ref name=&amp;quot;:1&amp;quot; /&amp;gt; Tuy nhiên, hoàn cảnh tài chính khó khăn vẫn khiến cho anh không thể xin nhập tịch [[Nhật Bản]], và khó có thể theo học [[Đại học Waseda]] như nguyện vọng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cùng thời điểm đó, ông trùm truyền thông [[Shoriki Matsutaro]], chủ tờ báo [[Yomiuri Shimbun]] đang tổ chức một chuỗi trận giao hữu với đội bóng các ngôi sao [[Major League Baseball]] du đấu tại Nhật Bản.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong các năm trước đó, đại diện Nhật Bản các trận giao hữu nói trên là tập hợp của các cầu thủ [[sinh viên]]. Tuy nhiên, do Bộ Giáo dục sau đó ban hành sắc lệnh cấm các cầu thủ bóng chày sinh viên thi đấu với các đội chuyên nghiệp, tờ Yomiuri Shimbun đã thành lập một đội tuyển chuyên nghiệp tên là &amp;quot;[[Yomiuri Giants|Câu lạc bộ bóng chày Đại Nhật Đông Kinh]]&amp;quot; để tiếp đón các ngôi sao từ [[Mĩ]]. Starukhin là một trong những tài năng được nhắm tới, và Shoriki đã phái [[tuyển trạch viên]] tới Asahikawa, lợi dụng thông tin bất lợi về án tù của cha và tình hình tài chính để thuyết phục ông bỏ học và gia nhập đội. Mặc dù cư dân Asahikawa và nhà trường phản đối từ bỏ ngôi sao có thể đưa họ tới [[Koshien Mùa hè]],&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích sách|title=ロシアから来たエース (Át chủ bài từ nước Nga)|last=Starukhin|first=Natasha|publisher=PHP文庫}}&amp;lt;/ref&amp;gt; thủ đoạn trên đã khiến Starukhin lo sợ Shoriki, một nhân vật có ảnh hưởng trong lực lượng [[cảnh sát]], sẽ vận động để gia đình anh bị trục xuất về [[Liên Xô]] và bị [[NKVD]] bắt giữ vì lí do chính trị nếu bị từ chối.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích sách|url=https://archive.org/details/takingingamehist0000reav|title=Taking in a game : a history of baseball in Asia|last=Reaves|first=Joseph A.|date=2002|publisher=Lincoln : University of Nebraska Press|others=Internet Archive|isbn=978-0-8032-3943-2}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Trong tình thế gần như bị ép buộc, anh chấp nhận gia nhập Đại Nhật Đông Kinh và thôi học tại trường Asahikawa. Người ta kể lại rằng, Starukhin vội vã chuyển đến [[Tokyo]] cùng mẹ trong một chuyến tàu đêm, sau khi không thông báo quyết định cho những người xung quanh. Sau này, ông kể với vợ rằng &amp;quot;tiếng còi hơi nước đêm đó nghe như tiếng bạn học hét lên kêu tôi đừng đi vậy&amp;quot;.&amp;lt;ref name=&amp;quot;:1&amp;quot;&amp;gt;NHK, 「こだわり人物伝」&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Starukhin ra mắt từ ghế dự bị vào ngày 29 tháng 11 năm 1934, trong lượt trận thứ 17 của tour giao hữu, và có 1 hiệp không để mất điểm. Tuy nhiên, trận đấu đã an bài ở thời điểm đó, và đội Mĩ không muốn đối đầu tiếp với Starukhin do vấn đề về kiểm soát cú ném, nên anh bị thay ra sau 2 hiệp.&amp;lt;ref&amp;gt;{{Chú thích sách|title=日本プロ野球偉人伝vol1 スタルヒン (Những nhân vật vĩ đại của bóng chày chuyên nghiệp Nhật Bản - tập 1, &amp;quot;Starukhin&amp;quot;)|publisher=Tạp chí &amp;quot;Baseball&amp;quot;|year=2013}}&amp;lt;/ref&amp;gt; Năm 1935, khi cùng đội Đại Nhật Đông Kinh (sau đó đổi tên thành [[Yomiuri Giants|Tokyo Giants]]) sang [[Bắc Mỹ]] du đấu, Starukhin bị gây khó dễ khi xuất cảnh do ảnh hưởng của [[Toyama Mitsuru]] thuộc tổ chức [[chính trị]] [[cực hữu]] [[Genyosha]]. Khó khăn cũng xảy ra khi ông nhập cảnh vào [[Mĩ]], với việc không có [[hộ chiếu]] hay [[thị thực]], và phải nhờ tới sự vận động chính quyền của Shoriki và [[Lefty O&amp;#039;Doul]], Starukhin mới được phép xuất nhập cảnh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Sự nghiệp chuyên nghiệp ===&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Tokyo Giants ====&lt;br /&gt;
[[File:Starffin.jpg|200px|right|thumb|Starukhin trong màu áo Giants]]&lt;br /&gt;
Mùa thu năm 1936, Starukhin cùng Tokyo Giants thi đấu mùa giải đầu tiên của Giải bóng chày VĐQG Nhật Bản (nay là [[Nippon Professional Baseball]]). Vào ngày 3 tháng 7, anh đã ra quân từ ghế dự bị, ném ba hiệp không để mất điểm và bảo toàn chiến thắng trong trận đấu chính thức đầu tiên trong lịch sử Giants trước [[Shochiku Robins|Dai-Tokyo]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vấn đề kiểm soát cú ném kém từ giai đoạn trước tiếp tục đeo bám Starukhin và khiến ông [[Bóng chày#Thuật ngữ|đẩy đối phương lên chốt do bóng xấu &amp;#039;&amp;#039;(ball)&amp;#039;&amp;#039;]] rất nhiều. Vì vậy, những cầu thủ đàn anh đã nhiều lúc la ó như, &amp;quot;Đồ ngốc!&amp;quot;, và &amp;quot;Ném mà nhìn đi đâu thế!&amp;quot;, và Starukhin, người được cho khá nhạy cảm, đã cảm thấy tổn thương và chán nản, thậm chí đã vừa khóc vừa nói với HLV rằng, &amp;quot;Em sợ phải ném bóng nếu tình hình này tiếp diễn lắm&amp;quot;. Tuy nhiên, được nguyên HLV của Giants [[Fujimoto Sadayoshi]] khích lệ, Starukhin đã nỗ lực tập luyện để cải thiện khả năng kiểm soát cú ném của mình. Trong giải đấu mùa xuân năm sau năm 1937, anh đã ném thắng 13 trận, bao gồm trận [[Bóng chày#Thuật ngữ|no-hit no-run]] thứ hai trong lịch sử, trong trận đấu với Eagles vào ngày 3 tháng 7, và trong giải đấu mùa thu, anh đã giành danh hiệu dẫn đầu toàn giải với 15 trận ném thắng và trở thành tay ném át chủ bài của Giants thay thế [[Sawamura Eiji]] bấy giờ bị động viên vào [[Quân đội Đế quốc Nhật]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1938 , Starukhin cũng có nhiều trận thắng nhất vào mùa xuân với 14 trận, và vào mùa thu, ông đã thắng 19 trận, cùng chỉ số mất điểm (ERA) 1.05, 146 [[Bóng chày#Thuật ngữ|strike out]], tỷ lệ chiến thắng 0,905 và bảy trận không mất điểm, và đạt được năm danh hiệu ném bóng. Năm 1939, anh đã đạt được 20 trận ném thắng trong trận đấu thứ 41 trong mùa giải của Giants vào ngày 20 tháng 6, và kết thúc mùa giải với việc thắng 42 trận đã ném, 2/3 trong tổng số 66 chiến thắng của đội, và dành danh hiệu [[Cầu thủ xuất sắc nhất (Nippon Professional Baseball)|Cầu thủ xuất sắc nhất]] mùa.&amp;lt;ref&amp;gt;『プロ野球記録大鑑』, tr. 823&amp;lt;/ref&amp;gt; Cùng năm đó, anh trở thành cầu thủ đầu tiên trong lịch sử bóng chày chuyên nghiệp Nhật Bản đạt được 100 trận ném thắng. Đạt được cột mốc này trong trận đấu thứ 165 là kỷ lục nhanh nhất trong lịch sử và chưa bị phá vỡ. Anh cũng đã có bốn [[Bóng chày#Thuật ngữ|hit ấn định trận đấu]] &amp;#039;&amp;#039;(walk off hit)&amp;#039;&amp;#039; trong mùa giải đó, và là kỷ lục bóng chày chuyên nghiệp Nhật Bản cho đến khi bị [[Ōsugi Katsuo]] phá vỡ vào năm 1969. Năm 1940, Starukhin ném thắng 38 trận và giành giải Cầu thủ xuất sắc nhất và Tay ném giành nhiều chiến thắng nhất trong năm thứ hai liên tiếp, và chuỗi năm mùa giải liên tiếp có nhiều trận ném thắng nhất giải của ông cũng là dài nhất trong bóng chày chuyên nghiệp Nhật Bản.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên ,với việc quan hệ giữa [[Đế quốc Nhật Bản|Nhật Bản]] và [[Liên Xô]] xấu đi, đặc biệt sau khi [[Chiến dịch Khalkhin-Gol|trận Khalkhin-Gol]] nổ ra vào năm 1939, Starukhin bị nghi ngờ làm gián điệp. Ạnh bị triệu tập tới [[Hiến binh Nhật|hiến binh]] và chịu các hạn chế sau:&amp;lt;ref&amp;gt;プロ野球 騒動その舞台裏』tr. 296&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Không được cấp quốc tịch Nhật Bản.&lt;br /&gt;
* Bị cấm nhìn xuống sông Kanda khi trên đường từ ga Suidobashi đến [[Sân vận động Korakuen]] (vì quân nhu được vận chuyển trên sông Kanda).&lt;br /&gt;
* Bị cấm nhìn lên cờ trên khán đài sân vận động (do lo ngại hành vi xác định thông tin thời tiết như sức và hướng gió qua quan sát cờ bay để cung cấp cho tình báo Liên Xô).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau đó, theo sự thúc giục của đại diện CLB [[Nagoya Kinko|Nagoya Golden Eagles]] [[Akamine Masashi]], lo ngại nguy cơ một ngôi sao lớn như Starukhin bị hiến binh chèn ép, anh đã đổi tên thành &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Suda&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Hiroshi&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; vào năm 1940.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày 14 tháng 7 năm 1941, trong một trận đấu với [[Nankai Hawks|Nankai]], Starukhin đã lên ném và giành được chiến thắng thứ 15 mặc dù bị [[sốt]] cao hơn 40 độ, nhưng khi được đưa đến bệnh viện, ông được chẩn đoán mắc bệnh [[viêm màng phổi]] và buộc phải nghỉ thi đấu. Tình trạng của Starukhin đã có lúc suýt không giữ được tính mạng, và các bác sĩ cũng cảnh báo rằng nếu anh qua khỏi thì cũng sẽ rất khó có thể quay lại chơi bóng. Starukhin trở lại vào cuối tháng 4 năm 1942, và ném thắng 26 trận.&amp;lt;ref name=&amp;quot;:2&amp;quot;&amp;gt;Ueda, Tatsuya「戦火に消えた幻のエース 巨人軍 広瀬習一の生涯」(Hirose Shuichi - Tay ném huyền thoại biến mất vào hỏa ngục chiến tranh)&amp;lt;/ref&amp;gt; Vào năm 1943, anh đã giành sáu chiến thắng tính tới giữa tháng 5, nhưng bệnh viêm màng phổi tái phát đã khiến anh phải nghỉ thi đấu một lần nữa, và trở lại vào tháng 10 để kịp đạt trận ném thắng thứ 10.&amp;lt;ref name=&amp;quot;:2&amp;quot; /&amp;gt; Năm 1944, Starukhin đã có chuỗi sáu trận thắng liên tiếp từ đầu mùa giải cho đến tháng 6, nhưng đã bị cấm thi đấu từ tháng 7 trở đi do không có quốc tịch Nhật Bản.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hơn nữa, vào tháng 11, mặc dù không mang quốc tịch nước ngoài, Starukhin vẫn bị coi là &amp;quot;công dân nước ngoài&amp;quot; và bị đưa tới trại tập trung người nước ngoài tại [[Karuizawa]], [[tỉnh Nagano]]. Sự vắng mặt của anh tại giải chuyên nghiệp được công bố với lý do &amp;quot;[[Cách ly (chăm sóc y tế)|cách ly]] do bệnh tật&amp;quot;. Người ta nói rằng anh kiếm sống bằng nghề sửa giày trong thời gian ở Karuizawa.&amp;lt;ref name=&amp;quot;:3&amp;quot;&amp;gt;『プロ野球を創った名選手・異色選手400人』tr.16&amp;lt;/ref&amp;gt; Nghiêm trọng hơn, vào ngày 9 tháng 8 năm 1945, Liên Xô bắt đầu xâm lược Nhật Bản, và Starukhin bị trục xuất trong một thời gian ngắn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== CLB Thái Bình Dương ====&lt;br /&gt;
Sau khi [[Chiến tranh thế giới thứ hai|chiến tranh]] kết thúc vào năm 1946, sau một thời gian làm phiên dịch cho [[Chiếm đóng Nhật Bản|lực lượng chiếm đóng]], Starukhin đã từ chối lời đề nghị trở lại Giants và cùng thầy cũ là [[Fujimoto Sadayoshi]] gia nhập [[Shochiku Robins|CLB Thái Bình Dương]].&amp;lt;ref name=&amp;quot;:3&amp;quot; /&amp;gt; Tuy nhiên, sau thời gian xa rời bóng chày, Starukhin đã [[tăng cân]] và không đảm bảo thể trạng để thi đấu, và đã mất một thời gian tập luyện phục hồi. Anh ra sân lần đầu tiên sau chiến tranh vào ngày 13 tháng 10 cùng năm trong trận đấu với Gold Stars.&amp;lt;ref&amp;gt;『球団消滅―幻の優勝チーム・ロビンスと田村駒治郎』(Đội bóng đi vào Hư không - Tamura Komajiro và Shochiku Robin huyền thoại), tr. 115&amp;lt;/ref&amp;gt; Ngày 20 tháng 10, với việc ném thắng trọn trận đấu trước Gold Stars, Starukhin trở thành cầu thủ đầu tiên trong lịch sử bóng chày chuyên nghiệp Nhật Bản đạt được 200 trận thắng trong sự nghiệp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Kinsei Stars ====&lt;br /&gt;
Starukhin theo chân Fujimoto tới [[Daiei Stars|Kinsei Stars]], cùng cộng sự của ông [[Isegawa Masumi]], khi ông chuyển tới làm HLV vào năm 1948. Năm 1949, anh đã ném thắng 27 trận, giành danh hiệu dẫn đầu số trận ném thắng lần đầu tiên sau chín năm. Tuy nhiên, anh không còn sự dẻo dai như trước chiến tranh nữa, và phong cách ném bóng cũng thay đổi từ ném bóng uy lực sang kiểu ném bóng già dơ hơn, chủ yếu sử dụng bóng cong và thế ném phóng khoáng hơn để gây rối trí [[Đánh bóng (bóng chày)|đối thủ đánh bóng]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong thời gian này, trong một trận đấu với [[Chiba Lotte Marines|Mainichi Orions]] vào ngày 15 tháng 6 năm 1952 , ông đã đánh được hai cú [[Home run|home]] [[Home run|run]] và ném trọn trận, nhưng ông không được hỗ trợ trên mặt trận tấn công và cuối cùng đã thua trận với tỷ số 2-3.&amp;lt;ref&amp;gt;『プロ野球記録大鑑』, tr. 486&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==== Takahashi/Tombow Unions ====&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
=== Giải nghệ và từ trần ===&lt;br /&gt;
Sau khi giải nghệ, Starukhin đã cố gắng nhưng không thể tìm được một công việc nào liên quan đến bóng chày, kể cả nhỏ nhặt như chân nhặt bóng. Vì vậy, ông quay về phụ vợ Tanya tại [[Thẩm mỹ viện|tiệm làm đẹp]] do bà điều hành.&amp;lt;ref name=&amp;quot;:4&amp;quot;&amp;gt;『最弱球団 高橋ユニオンズ青春記』&amp;lt;/ref&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khoảng 10:40 tối ngày 12 tháng 1 năm 1957, ông lái chiếc xe [https://bringatrailer.com/listing/1940-chevrolet-special-deluxe/ Chevrolet Special Deluxe 2 cửa] của mình từ nhà ở Minami-Aoyama, [[Minato, Tokyo|Quận Minato]], dọc theo Quốc lộ 246 (Phố Tamagawa) ở Mishuku, [[Setagaya, Tokyo|Quận Setagaya]], Tokyo, để tham dự một buổi họp lớp trung học ở [[Tokyo]]. Tuy nhiên, gần [[ga Mitsuke]] trên [[tuyến Tokyu Tamagawa]], chiếc xe đã va chạm với một chuyến tàu hướng đến Futako Tamagawa-en khi đang vượt một chiếc xe phía trước.&amp;lt;ref&amp;gt;[https://www.sponichi.co.jp/baseball/yomimono/professional_bbd0801/kiji/K20110101Z00002990.html 【1月12日】1957年（昭32） 初の300勝投手スタルヒン、ナゾの交通事故] - [[スポニチ]]&amp;lt;/ref&amp;gt; Chiếc xe bị phá hủy hoàn toàn và Starukhin đã tử vong khi được đưa đến Bệnh viện Quốc gia Setagaya, hưởng dương 40 tuổi. Cảnh sát công bố nguyên nhân gây ra tai nạn là do lái xe khi [[Lái xe khi say rượu|say rượu]] và chạy quá tốc độ.&amp;lt;ref name=&amp;quot;:4&amp;quot; /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo [[lời khai]] của một người bạn, Starukhin đã lái xe theo hướng ngược lại với địa điểm tổ chức buổi họp lớp, và đã bắt các bạn học đi cùng ra khỏi xe và bảo họ đi tàu, khiến cái chết của ông được cho là có yếu tố [[tự sát]]. Ngay trước đó, ông đã tham dự lễ khai trương một [[Bowling|cơ sở bowling]] ở Aoyama do một người bạn điều hành, và đã uống rượu tại đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về hậu sự cho Starukhin, lần đầu tiên một &amp;quot;tang lễ bóng chày&amp;quot; đã được tổ chức vào ngày 20 tháng 1. Trong đó trước tang lễ, một cuộc [[thảo luận bàn tròn]] đã được tổ chức để ôn lại cuộc đời và sự nghiệp của Starukhin, chủ trì bởi chủ tịch ủy ban tang lễ Ichioka Tadao, một người bạn lâu năm của ông. Tham gia bàn trong có bao gồm: [[Fujimoto Sadayoshi]], người thầy đã gắn bó với Starukhin lâu năm trong sự nghiệp; [[Suzuki Sotaro]], [[Mizuhara Maruhiro]] và [[Kawakami Tetsuharu]] đại diện [[Tokyo Giants]]; [[Hamasaki Shinji]], cựu HLV CLB [[Takahashi Unions]] và [[phát thanh viên]] [[Konishi Tokuro]].&amp;lt;ref name=&amp;quot;:4&amp;quot; /&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Starukhin được chôn cất tại nghĩa trang dành cho người nước ngoài Tama, nơi ông đã cho xây dựng sau khi cha ông là Konstantin qua đời.&amp;lt;ref name=&amp;quot;tama&amp;quot;&amp;gt;[http://www6.plala.or.jp/guti/cemetery/PERSON/H/victor.html ヴィクトル・スタルヒン] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20200929053347/http://www6.plala.or.jp/guti/cemetery/PERSON/H/victor.html |date=2020-09-29 }} 歴史が眠る多磨霊園&amp;lt;/ref&amp;gt; Năm 1989, vào ngày giỗ thứ 33 của Starukhin, con gái lớn là Natasha đã gửi một ít tro cốt của ông đến Đền Sūnen-ji ở Omonogawa-cho, thành phố [[Yokote, Akita|Yokote,]] [[Yokote, Akita|tỉnh Akita]], nơi gửi vong và mộ phần của người vợ thứ hai của ông là Tanya (Takahashi Kunie, mất năm 1971).&amp;lt;ref&amp;gt;一般社団法人 横手市観光推進機構 [https://yokote-kankou.jp/contents/%e3%83%b4%e3%82%a3%e3%82%af%e3%83%88%e3%83%ab%e3%83%bb%e3%82%b9%e3%82%bf%e3%83%ab%e3%83%92%e3%83%b3%e3%81%ae%e5%a2%93/ 「ヴィクトル・スタルヒンの墓」]&amp;lt;/ref&amp;gt; Ông [[Không quốc tịch|không có quốc tịch]] trong suốt cuộc đời mình từ khi cùng gia đình lưu vong.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 1960, Starukhin được bầu ghi danh vào [[Đại sảnh Danh vọng Bóng chày Nhật Bản|Đại sảnh Danh vọng Bóng chày]] trong năm thứ hai tổ chức vinh danh.&amp;lt;ref&amp;gt;[https://www.sponichi.co.jp/baseball/news/2014/01/21/kiji/K20140121007428880.html 野茂氏と同じく殿堂“一発合格”スタルヒン氏の壮絶野球人生] - スポニチ&amp;lt;/ref&amp;gt; Starukhin là một huyền thoại đối với người dân [[Asahikawa]], và sau khi hoàn thành cải tạo vào năm 1984, Sân vận động bóng chày thành phố Asahikawa được đặt tên là &amp;quot; &amp;#039;&amp;#039;&amp;#039;Sân vận động bóng chày Starukhin &amp;quot;.&amp;#039;&amp;#039;&amp;#039; Một bức tượng đồng của Starukhin được đặt ở phía trước sân vận động này.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tham khảo==&lt;br /&gt;
{{tham khảo}}&lt;br /&gt;
{{Japanese Baseball Hall of Fame}}{{XẾP_MẶC_ĐỊNH:Starukhin Viktor }}&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Mất năm 1957]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Sinh năm 1916]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Tử vong vì tai nạn giao thông]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Người gốc Nga]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Cầu thủ Nippon Professional Baseball]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Cầu thủ bóng chày Nga]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Cầu thủ Yomiuri Giants]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Cầu thủ xuất sắc nhất Giải bóng chày Nhật Bản]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Pacific League All-Star]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Người được ghi danh tại Đại sảnh Danh vọng Bóng chày Nhật Bản]]&lt;br /&gt;
[[Thể loại:Cầu thủ giao bóng Nippon Professional Baseball]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>imported&gt;KKhuc92</name></author>
	</entry>
</feed>