Bản mẫu:Infobox royaltyĐà Lôi (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; k. 1191 – 1232) là con trai út của Thành Cát Tư Hãn và Bột Nhi Thiếp. Với tư cách là một trong những võ tướng nổi bật nhất tham gia các cuộc chinh phạt kỳ thủy của Mông Cổ, Đà Lôi là ứng cử viên triển vọng thừa kế ngai hãn sau cái chết của phụ thân vào năm 1227, rốt cuộc nắm quyền nhiếp chínhĐế quốc Mông Cổ cho tới khi Oa Khoát Đài đăng cơ hai năm sau. Ông kết hôn với Toa Lỗ Hòa Thiếp Ni và hạ sinh nhiều người con trai, trong đó có Mông Kha và Hốt Tất Liệt, lần lượt giữ ngai khả hãn thứ tư và thứ năm của Mông Cổ, và Húc Liệt Ngột, người sáng lập Hãn quốc Y Nhi.
Không có nhiều ghi chép về hoạt động của Đà Lôi trong quá trình Thành Cát Tư Hãn vươn lên nắm quyền bính như những hoàng huynh (Truật Xích, Sát Hợp Đài, Oa Khoát Đài); song một khi trưởng thành, ông trở thành võ tướng thiện chiến nhất của phụ hãn. Đà Lôi chỉ huy nhiều cánh quân xâm lược nhà Kim ở Hoa Bắc giai đoạn 1211–1215 và các chiến tích trên lãnh thổ Khwarazm càng khẳng định uy danh của ông. Theo sau sự sụp đổ của Transoxiana vào năm 1220, Thành Cát Tư cử Đà Lôi đi đánh chiếm và bình định Khorasan. Ông thực hiện mệnh lệnh của phụ hãn với hiệu quả vượt bậc, công hạ các thành lớn như Merv, Nishapur, Herat, và khuất phục vô số thị trấn khác. Sử gia Ba Tư đương thời ước đoán số người chết trong hai cuộc thảm sát tại Nishapur và Merv là vào khoảng ba triệu; tuy bị coi là thổi phồng thái quá theo giới sử học hiện đại, những con số này vẫn là bằng chứng cho thấy sự tàn khốc bất thường trong cung cách xử sự đối với kẻ bại trận dưới tay Đà Lôi.
Vì sản nghiệp của thân phụ được truyền lại cho người con trai út trong gia đình Mông Cổ truyền thống, Đà Lôi luôn là một trữ quân tiềm năng. Quyền kế vị của ông được củng cố khi cả Truật Xích và Sát Hợp Đài bị loại khỏi tước trữ quân, lần lượt vì sự ngoài giá thú và ngạo mạn thái quá của mỗi hoàng huynh; Thành Cát Tư Hãn rốt cuộc lựa chọn Oa Khoát Đài thay vì Đà Lôi. Từ năm 1225, Đà Lôi suất lĩnh quân đội phạt Hạ và chứng kiến cái chết của phụ hạn giữa năm 1227; với danh nghĩa là con trai út, ông trở thành quốc giám Mông Cổ, quán xuyến hậu sự cho phụ hãn và tạm thời nắm quyền cai trị đất nước. Rất có thể ông đã cố tình trì hoãn khai mạc hội nghị quý tộc kurultai trong hai năm kế tiếp để kéo bè lập mình lên ngôi khả hãn; song sau rốt, ông tuyên thệ trung thành với hoàng huynh Oa Khoát Đài, người đăng cơ năm 1229, đúng như ý nguyện của cha.
Tên gọi
Cái tên Latinh hóa "Tolui" (chữ Mông Cổ: Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value)., chữ Kirin: Толуй, Bản mẫu:Literally) cũng có thể được chuyển tự sang tiếng Anh là Toli hoặc Tuluy.Bản mẫu:Sfnm Sử gia Isenbike Togan suy đoán rằng Thành Cát Tư đã từng có ý định thay thế tước hiệu Bản mẫu:Transliteration, truyền thống được ban cho con trai út trong gia đình Mông Cổ thời tiền đế quốc, bằng tước hiệu "Tolui".[1]
Đà Lôi được coi là chiến binh giỏi nhất trong số những hoàng tử của Thiết Mộc Chân, người đã được suy tôn danh hiệu Thành Cát Tư Hãn tại đại nghị kurultai năm 1206.Bản mẫu:Sfnm Ông suất lĩnh nhiều đạo quân trong chiến dịch xâm lược nhà Kim của Mông Cổ; khi Thành Cát Tư bị trúng tên trọng thương trong cuộc vây hãm Tây Kinh (nay là Đại Đồng), Đà Lôi được giao phó quyền chỉ huy lực lượng đồn trú bên ngoài cho tới lúc thoái lui.Bản mẫu:Sfnm Cùng với anh rể Chigü, Đà Lôi leo lên tường thành Đức Hưng [zh] và giáp chiến với quân Kim vào mùa thu năm 1213, trong lúc đại quân Mông Cổ đang chuẩn bị tiến đánh ải Cư Dung.Bản mẫu:Sfnm
Cánh quân của Đà Lôi cấu thành 1/10 lực lượng xâm lược của Mông Cổ cộng thêm số lính Khwarazm bị sung quân; sử gia Carl Sverdrup ước tính quân số của cánh này rơi vào khoảng 7.000.Bản mẫu:Sfnm Đà Lôi khởi hành từ Balkh tới Murichaq, ngày nay nằm trên biên giới Afghanistan – Turkmenistan, rồi vượt sông Marghab và các phụ lưu của sông Kushk nhằm tiếp cận Merv từ phía nam. Ông mai phục và đánh tan một toán du kích người Turkmen trong đêm ngày 24 tháng 2 – những kẻ không bị bắt giết hoặc chết đuối đều chạy tản mác hết cả. Quân Mông đặt chân đến Merv vào ngày hôm sau.[8] Sau sáu ngày dò la, Đà Lôi cho rằng cuộc vây hãm tiếp theo sẽ không phải chuyện một sớm một chiều. Thực tế tuy nhiên lại khác xa; nếm trải đòn công kích vào ngày thứ bảy, thị dân của Merv nhụt chí đầu hàng và giao nộp thành trì cho quân thù, cầu mong được hưởng khoan hồng.Bản mẫu:Sfnm Đà Lôi thất hứa, lùa dân chúng ra ngoài đồng nội để giết chóc, chỉ hạ lệnh tha bổng cho một số thợ thủ công mỹ nghệ và con trẻ. Tương truyền mỗi lính Mông Cổ được giao nhiệm vụ giết từ 300–400 thị dân. Sử gia Ả Rập đương thời Ibn al-Athir ước đoán số người chết trong cuộc thảm sát là 700.000; trong khi sử gia Ba Tư Ata-Malik Juvayni, người chắp bút viết sử vài thập kỷ sau, kể rằng một giáo sĩ đã dành 13 ngày đếm xác chết và đưa ra con số 1.300.000.Bản mẫu:Sfnm
Đà Lôi tiến về phía tây nam tới Nishapur. Một năm trước, shahMuhammad II của Đế quốc Khwarazm đã nương náu ở đây vào ngày 18 tháng 4 năm 1220 trên đường trốn chạy khỏi cuộc tiến công Transoxiana của Mông Cổ. Ông rời ngôi thành vào trung tuần tháng 5 cùng năm, suýt soát thoát khỏi cuộc truy kích của Triết Biệt và Tốc Bất Đài một ngày.[9] Dân chúng trong thành đầu hàng hai viên tướng Mông Cổ; họ được yêu cầu hạ giải tường lũy và tiếp tế cho các cánh quân Mông đi qua, song thị dân trong thành không tuân chỉ mà sau còn nổi loạn, giết chết quan trấn thành Mông Cổ được cắt đặt tại đây là Toquchar.Bản mẫu:SfnmJalal al-Din, đích trưởng tử và bấy giờ là trữ quân của Muhammad II quá cố, ghé qua Nishapur vào ngày 10 tháng 2 năm 1221 trên đường di tản khỏi đế đô Gurganj vì cuộc vây hãm đang diễn ra tại đây, tuy nhiên ông chỉ nán lại vài ngày rồi lập tức xuất hành tới Zozan.[10]
Đà Lôi đặt chân đến Nishapur vào ngày 7 tháng 4. Choáng ngợp trước quân số của Mông Cổ, cư dân nơi đây lập tức tìm cách cầu hòa. Bởi việc giết con rể đại hãn bị coi là trọng tội, tất cả các điều khoản thỏa hiệp của thành phố bị bác bỏ; cuộc công thành bắt đầu vào chiều muộn ngày 7, tới ngày 9 tháng 4 thì ngã ngũ và thành phố thất thủ hoàn toàn vào ngày hôm sau.Bản mẫu:Sfnm Theo Juvayni, Đà Lôi ra lệnh làm cỏ dân chúng trong thành; góa bụa của Toquchar tham gia chỉ đạo cuộc lạm sát, chiếu cố tha mạng cho 400 thợ thủ công. Không như ở Merv, con trẻ tại Nishapur cũng bị đem ra giết; xác của 1.747.000 nạn nhân, gồm cả chó mèo, chất thành đống.Bản mẫu:Sfnm Nền đất sau đó bị cày xới để không gì có thể phục hồi.Bản mẫu:Sfnm Đà Lôi cũng sai các toán du quân đi khuất phục các thị trấn như Abiward, Nasa, Tus, và Jajarm.[11]
Tồn tại một chi tiết nhập nhằng xung quanh số phận của Herat, tòa thành lớn cuối cùng tại Khorasan: Sử gia thế kỷ thứ 20 Vasily Bartold dẫn nguồn dã sử địa phương những năm 1400, theo đó khẳng định rằng không một cư dân nào trong thành phố bị bách hại ngoại trừ binh lính đồn trú; sử gia Minhaj-i Siraj Juzjani, người từng đụng độ với quân Mông gần đó, thì khẳng định rằng sau cuộc bao vây kéo dài suốt 8 tháng, thành phố thất thủ và dân chúng bị thảm sát.[12] Giờ đây ta biết rằng, dựa trên một cuốn biên niên sử tìm được vào năm 1944, từng có hai trận vây hãm khác nhau diễn ra tại Herat. Trận thứ nhất khơi mào do sứ thần Mông Cổ cử đi bị giết; Đà Lôi phẫn nộ tấn công dồn dập ngôi thành trong 8 ngày trời, rốt cuộc bắt giết được Bản mẫu:Transliteration (tổng đốc) của thành phố. Đứng ở rìa hào, ông chiêu hàng dân chúng trong thành và hứa sẽ tỏ khoan hồng. Không như ở Merv, quân Mông tôn trọng lời hứa, chỉ đem 12.000 quân binh thủ thành ra tử hình. Sau khi cắt đặt quan giám hộ, Đà Lôi hội quân với phụ hãn tại Taliqan giữa năm 1221.[13] Thành này sau đó nổi dậy và bị tướng Mông Cổ là Dã Lí Trí Cát Đái [zh] đánh dẹp. Tương truyền ông ta đã cho binh lính bản bộ giết hại từ 1.600.000–2.400.000 người trong một cuộc thảm sát kéo dài 7 ngày vào năm 1222.[14]
Những con số nhắc đến bên trên thường bị coi là thổi phồng theo giới sử học hiện đại. Các cổ trấn như Merv, Nishapur và Herat chỉ có sức chứa hạn chế,Bản mẫu:Sfnm và các nguồn sử liệu ghi nhận dân số hồi sinh một cách thần kì sau mỗi cuộc thảm sát — ví dụ, con trai nuôi của Thành Cát Tư, Thất Cát Hốt Đồ Hốt [zh], được cho là đã thảm sát thêm 100.000 cư dân tại Merv vào tháng 11 năm 1221 sau khi thành này làm phản.[15] Những con số này tuy vậy vẫn phản ánh một thảm họa nhân khẩu đáng kể mà dân địa phương xem là ngoài sức tưởng tượng.Bản mẫu:Sfnm Sử gia Michal Biran bình rằng, sự truyền bá chiến sự kiểu Đông Á khốc liệt hơn vào thế giới Hồi giáo có thể được coi là một yếu tố gây ra sự choáng ngợp này.[16]
Các bộ lạc thảo nguyên Mông Cổ không tuân theo một hệ thống kế thừa cố định nào. Thường thì người con trai út sẽ tiếp nối thân phụ, bởi vì chúng có ít thời gian nhất trong số các anh em để chiêu mộ tùy thần và gây dựng cơ đồ.[18] Tuy nhiên, luật kế thừa kiểu này chỉ áp dụng cho tài sản, không phải tước hiệu.Bản mẫu:Sfnm Thông qua hệ thống thái ấp Mông Cổ, Thành Cát Tư cấp phong đất đai và thần dân cho thân tộc. Anh em của vị khả hãn gồm Cáp Tát Nhi, Cáp Xích Ôn, Thiếp Mộc Cách (Thiết Mộc Ca) và Biệt Lặc Cổ Đài được ban cho các mảnh đất ở mạn đông của dãy núi Đại Hưng An,[19] trong khi các hoàng tử được cấp đất bên mạn tây: Truật Xích tiếp quản các vùng đất xung quanh sông Irtysh trải dài tới Siberia và lãnh thổ của người Kipchak; Sát Hợp Đài tiếp quản đất Tây Liêu xung quanh Almaligh thuộc Turkestan; Oa Khoát Đài tiếp quản Dzungaria;[lower-alpha 1] còn Đà Lôi tiếp quản đất tổ quanh Dãy núi Altai.Bản mẫu:Sfnm
Hoàng huynh Oa Khoát Đài (trên) và con trai thứ ba của Đà Lôi là Hốt Tất Liệt (dưới), tranh bán thân thế kỷ thứ 13 thời nhà Nguyên (Bảo tàng Cố cung Quốc gia, Đài Bắc)
Dư đảng của nhà Kim tại Thiểm Tây tỏ ra hết sức ngoan cố dưới thời cai trị của Oa Khoát Đài: tướng quân cầm đầu của Kim đánh bại một đội quân Mông Cổ tại ải Đồng Quan vào năm 1230. Oa Khoát Đài khởi binh thân chinh vào mùa thu cùng năm; đồng hành với ông có Đà Lôi và con trai của hoàng đệ là Mông Kha, vốn được dưỡng dục bởi người vợ thứ ba không có con của Oa Khoát Đài là Angqui.[21] Dòng thời gian diễn tiến chiến dịch phạt Kim sau đó không rõ ràng, bị làm trầm trọng thêm bởi truyền thống cắt bỏ thông tin cấm kỵ trong các bộ chính sử. Sau đây là diễn giải của Christopher Atwood: bại vong tại ải Đông Quan có lẽ đã kéo theo hai chiến bại tiếp theo, có liên quan đến danh tướng Tốc Bất Đài; những đình đốn này đã đe dọa đến triều đại của Oa Khoát Đài và buộc ông cũng như thân tộc phải tự tay hành động.[22] Nhiều sử liệu thời Hốt Tất Liệt, một người con trai khác của Đà Lôi, cáo buộc sự lãnh đạo yếu kém của Oa Khoát Đài là lý do cho những thất bại triền miền của Mông Cổ, đồng thời tôn vinh Đà Lôi vì các chiến tích về sau cũng như những lời tham chính khôn ngoan của ông nhằm nguôi ngoai tính cách đay nghiến của hoàng huynh.[23]
Gia quyến
Thê thiếp
Tỏa Lỗ Hòa Thiếp Ni Khả đôn (唆鲁禾帖尼, Sorghaghtani Beki, 1190 - 1252), Khắc Liệt thị, cháu gái Thoát Lý, là người theo Công giáo phương Đông. Là mẹ của bốn vị Khả hãn Mông Cổ nên còn được gọi là "Tứ đế chi mẫu", sau khi Mông Kha lên ngôi tôn vị Hoàng thái hậu[24], sau khi qua đời ban đầu truy phong Trang Thánh Hoàng hậu (庄圣皇后), sau cải thành Hiển Ý Trang Thánh Hoàng hậu (显懿庄圣皇后). Sinh năm con trai và hai con gái.
Thoát Cổ Tư Khả đôn (脫古思可敦, Tuokusk, ? - 1265), em gái trong họ của Toa La Cốt Mục Ni Khả đôn. Vốn được hứa hôn cho Đà Lôi nhưng trước khi thành hôn thì Đà Lôi qua đời, cải giá với Húc Liệt Ngột.
Mukha (Mạt Ca), mẹ là Toa Lỗ Hắc Khả đôn, có công phò trợ Hốt Tất Liệt lên ngôi.
Jurikha (Tuế Ca Đô), mẹ không rõ.
Satukhtai (Tiết Biệt Đài), mẹ không rõ.
Con gái
Dumugan (Độc Mộc Can), mẹ là Toa La Cốt Mục Nhi Khả đôn. Phong Triệu Quốc công chúa (赵国公主), lấy Niếp Cổ Thai (聂古台) thuộc Hoằng Cát Lạt thị, thực ấp 1500 hộ thuộc Uông Cổ bộ.
Yesubuhoa (Dã Tốc Bất Hoa), mẹ là Toa La Cốt Mục Nhi Khả đôn. Phong Lỗ Quốc Đại Trưởng công chúa (鲁国大长公主), lấy Oát Trần (斡陳) thuộc Hoằng Cát Lạt thị, thực ấp ba vạn hộ thuộc huyện Tế Ninh.
Eltemur (Ngạch Lặc Thiếp Mộc Nhi), mẹ là Lĩnh Hốt Mộc Khả đôn. Lấy Ba Nhĩ Tư Bất Hoa (巴尔思不花), cháu ngoại Thành Cát Tư Hãn.
Trong truyện này, Đà Lôi kết nghĩa an đáp (kết nghĩa huynh đệ) với nhân vật chính Quách Tĩnh. Ông cũng là người đầu tiên đem quân tấn công thành Tương Dương nhưng do Thành Cát Tư Hãn đột nhiên ốm nặng nên đành rút quân về. Gần 20 năm sau, ông ốm nặng và qua đời, trao quyền lại cho con trai ông. Con trai của Đà Lôi liên tiếp tấn công Tương Dương nhưng đều thất bại dưới sự phòng thủ của Quách Tĩnh. Khi Quách Tĩnh đã già, cháu nội Đà Lôi đã đánh bại Tương Dương thành.
Broadbridge, Anne F. (2018). Women and the Making of the Mongol Empire [Phụ nữ và sự hình thành Đế quốc Mông Cổ]. Cambridge Studies in Islamic Civilization. Cambridge: Nhà xuất bản Đại học Cambridge. ISBN978-1-1086-3662-9.
Manz, Beatrice Forbes (2010). "The rule of the infidels: the Mongols and the Islamic world" [Sự cai trị của những kẻ ngoại đạo: Người Mông Cổ và thế giới Hồi giáo]. Trong Morgan, David; Reid, Anthony (biên tập). The New Cambridge History of Islam Volume 3: The Eastern Islamic World, Eleventh to Eighteenth Centuries [Tân lịch sử Cambridge về Hồi giáo, Tập 3: Thế giới Hồi giáo Đông phương, thế kỷ thứ 11 đến 18]. The New Cambridge History of Islam (ấn bản thứ 1). Cambridge: Nhà xuất bản Đại học Cambridge. ISBN978-0-5218-5031-5.
Sverdrup, Carl (2017). The Mongol Conquests: The Military Campaigns of Genghis Khan and Sübe'etei [Những cuộc chinh phạt của Mông Cổ: Những chiến dịch quân sự của Thành Cát Tư Hãn và Tốc Bất Đài]. Solihull: Helion & Company. ISBN978-1-9133-3605-9.
Togan, Isenbike (2016). "Otchigin's Place in the Transformation from Family to Dynasty" [Chỗ đứng của Otchigin trong sự chuyển biến từ gia tộc sang triều đại]. Trong Zimonyi, Istvan; Karatay, Osman (biên tập). Central Asia in the Middle Ages: Studies in Honour of Peter B. Golden [Trung Á thời Trung cổ: Các nghiên cứu tưởng niệm Peter B. Golden]. Turcologica. Quyển 104. Wiesbaden: Harrassowitz Verlag. tr. 407–423. ISBN978-3-4471-0664-1. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2024.