Bước tới nội dung

Đế quốc Mogul

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Infobox”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Sidebar”. Đế quốc Mogul (Tiếng Ba Tư: شاهان مغول Shāhān-e Moġul; self-designation: گوركانى - Gūrkānī), thường được các sử liệu Anh ghi là đế quốc Mughal, Pháp ghi là đế quốc MogholViệt Nam gọi là đế quốc Mô-gôn, là một đế quốc Hồi giáo (chịu ảnh hưởng từ nền văn hoá Ba Tư) ở Tiểu lục địa Ấn Độ đã ra đời vào năm 1526, nắm quyền kiểm soát trên phần lớn tiểu lục địa trong các thế kỷ XVII và XVIII, và cáo chung vào giữa thế kỷ XIX.[1] Các vua nhà Mogul đều thuộc dòng dõi nhà Timur có dòng máu Đột Quyết, Mông Cổ, RajputBa Tư. Khi ở đỉnh cao quyền lực, vào khoảng năm 1700, đế quốc này trị vì trên phần lớn Tiểu lục địa - trải dài từ Bangladesh ở phía đông tới Balochistan ở phía tây, Kashmir ở phía bắc tới lòng chảo Kaveri ở phía nam. Trong thời gian này, đế quốc Mogul có lãnh thổ rộng đến 4.000.000 km² với dân số khoảng 110.000.000 - 130.000.000.[2] Sau năm 1725, đế quốc Mogul suy yếu. Các sử gia xem nguyên nhân của sự suy yếu này là:

Sau thất bại cuộc binh biến Ấn Độ năm 1857, vị vua cuối cùng là Bahadur Shah II bị thực dân Anh bắt sống và đày ải.

Thời cực thịnh của đế quốc Mogul được bắt đầu khi Jalaluddin Mohammad Akbar, được biết như Akbar Đại đế, lên ngôi năm 1556 và kết thúc khi vua Aurangzeb qua đời năm 1707, mặc dù đế quốc Mogul vẫn tiếp tục tồn tại trong 150 năm sau đó. Trong giai đoạn này, đất nước được trị vì bởi triều đình trung ương liên kết với các địa phương, thi hành chính sách tự do tôn giáo. Nhiều công trình kiến trúc nổi tiếng mà ngày nay thu hút rất nhiều khách du lịch, đều được xây dựng vào giai đoạn này.

Lịch sử

Babur và Humayun (1526–1556)

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”.

Ấn Độ bị phân mảnh năm 1525, trước sự trỗi dậy của Mogul

Đế quốc Mogul được thành lập bởi Babur (trị vì 1526–1530), một nhà cai trị vùng Trung Á. Về phía cha, ông là hậu duệ của nhà chinh phạt Timur (người sáng lập Đế quốc Timurid), còn về phía mẹ, ông là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn.[3] Xét theo dòng nội, Babur thuộc bộ tộc Barlas có nguồn gốc Mông Cổ nhưng đã bị Turk hóa.[4] Sau khi bị đánh bật khỏi lãnh địa của tổ tiên tại Trung Á, Babur chuyển hướng sang Ấn Độ để thực hiện tham vọng bành trướng của mình.[5] Ông củng cố thế lực tại Kabul rồi từ Afghanistan tiến dần về phía nam vào Ấn Độ thông qua đèo Khyber.[3] Quân đội của Babur đã đánh bại Ibrahim Lodi, Sultan của Delhi, trong Trận Panipat lần thứ nhất vào năm 1526. Nhờ sử dụng hỏa khí và đại bác, ông đã đập tan quân đội của Ibrahim bất chấp sự thua thiệt về quân số, qua đó mở rộng lãnh thổ riêng của mình đến giữa vùng đồng bằng Ấn-Hằng.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Sau trận chiến này, trung tâm quyền lực của Mogul chuyển về Agra. Trong trận quyết chiến Khanwa diễn ra gần Agra một năm sau đó, lực lượng Timurid của Babur đã đánh bại liên quân Rajput do Rana Sanga xứ Mewar chỉ huy, với sự hỗ trợ từ lực lượng kỵ binh bản địa sử dụng chiến thuật đánh tạt sườn truyền thống.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Tuy nhiên, việc sa đà vào các cuộc chiến tranh và chiến dịch quân sự triền miên khiến vị hoàng đế mới không thể củng cố vững chắc những thành quả đạt được tại Ấn Độ.[6] Sự bất ổn của đế quốc lộ rõ dưới thời con trai ông là Humayun (trị vì 1530–1556), người buộc phải sống lưu vong ở Ba Tư do sự trỗi dậy của thế lực nổi loạn do Sher Shah Suri (trị vì 1540–1545) lãnh đạo.[3] Thời gian lưu vong của Humayun tại Ba Tư đã thiết lập quan hệ ngoại giao giữa triều đình Safavid và Mogul, dẫn đến sự gia tăng ảnh hưởng của văn hóa Ba Tư trong Đế quốc Mogul được khôi phục sau này.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Cuộc trở về khải hoàn của Humayun từ Ba Tư năm 1555 đã tái thiết lập sự cai trị của Mogul tại một số vùng của Ấn Độ, nhưng ông đã qua đời vì một tai nạn chỉ ngay năm sau đó.

Akbar đến Auzengreb

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”.

Akbar triệu tập một hội đồng tôn giáo gồm các đức tin khác nhau tại Ibadat Khana ở Fatehpur Sikri

Akbar (trị vì 1556–1605), tên khai sinh là Jalal-ud-din Muhammad,[7] là con trai của HumayunHamida Banu Begum, một công chúa Ba Tư.[8] Akbar lên ngôi dưới quyền nhiếp chính của Bairam Khan.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Thông qua các cuộc chinh phạt, Akbar đã mở rộng bờ cõi đế quốc về mọi hướng và kiểm soát gần như toàn bộ tiểu lục địa Ấn Độ ở phía bắc sông Godavari.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ông đã kiến tạo một tầng lớp cai trị tinh hoa mới trung thành với mình, thiết lập một hệ thống hành chính hiện đại và khuyến khích các bước tiến về văn hóa. Ông cũng tăng cường giao thương với các công ty thương mại châu Âu.[3] Ấn Độ dưới triều đại của ông đã phát triển một nền kinh tế vững mạnh và ổn định, dẫn đến sự mở rộng giao thương và tăng trưởng kinh tế. Akbar cho phép tự do tôn giáo tại triều đình và nỗ lực giải quyết những khác biệt về văn hóa, chính trị - xã hội trong đế quốc bằng cách sáng lập một tôn giáo mới có tên là Din-i-Ilahi, mang đậm đặc điểm của tín ngưỡng sùng bái vua.[3] Ông để lại cho con trai một quốc gia ổn định về nội trị, đang ở giữa thời kỳ hoàng kim, nhưng chẳng bao lâu sau, những dấu hiệu suy yếu chính trị đã bắt đầu nảy sinh.[3]

Jahangir (tên khai sinh là Salim, trị vì 1605–1627) là con của Akbar và vợ ông là Mariam-uz-Zamani, một công chúa Ấn Độ.[9] Salim được đặt tên theo vị thánh Sufi Ấn Độ, Salim Chishti.[10][11] Ông bị mô tả là người "nghiện thuốc phiện, bỏ bê triều chính, và bị chi phối bởi các phe phái đối địch trong triều đình".[3] Jahangir chứng tỏ sự khác biệt so với Akbar bằng những nỗ lực đáng kể nhằm tranh thủ sự ủng hộ của giới chức sắc Hồi giáo. Một cách ông thực hiện điều này là ban tặng nhiều madad-i-ma'ash (khoản cấp phát tô thuế đất đai cá nhân miễn thuế dành cho những người uyên bác về tôn giáo hoặc có phẩm hạnh tâm linh) hơn hẳn so với thời Akbar.[12] Trái ngược với cha mình, Jahangir thường xuyên xung đột với các thủ lĩnh tôn giáo phi Hồi giáo, đáng chú ý là với đạo sư đạo Sikh Arjan; vụ hành quyết vị đạo sư này đã khơi mào cho hàng loạt xung đột sau này giữa Đế quốc Mogul và cộng đồng người Sikh.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.[13]

Bức chân dung tập thể các nhà cai trị Mogul, từ Babur đến Aurangzeb, với thủy tổ nhà Mogul là Timur ngồi ở trung tâm. Bên trái: Shah Jahan, Akbar và Babur, cùng với Abu Sa'id của Samarkand và con trai của Timur là Miran Shah. Bên phải: Aurangzeb, Jahangir và Humayun, cùng hai hậu duệ khác của Timur là Umar Shaykh và Muhammad Sultan. Tác phẩm ra đời khoảng năm 1707–12.

Shah Jahan (trị vì 1628–1658) là con của Jahangir và người vợ Jagat Gosain.[14] Triều đại của ông đã mở ra thời kỳ hoàng kim của kiến trúc Mogul.[15] Dưới thời Shah Jahan, sự xa hoa tráng lệ của triều đình Mogul đã đạt đến đỉnh cao, mà minh chứng tiêu biểu chính là lăng Taj Mahal.Tuy nhiên, chi phí duy trì triều đình bắt đầu vượt quá nguồn thu ngân sách.[3] Shah Jahan đã mở rộng Đế quốc Mogul xuống vùng cao nguyên Deccan bằng cách xóa sổ Vương quốc Hồi giáo Ahmadnagar và buộc các triều đại Adil Shahi cùng Qutb Shahi phải nộp cống.[16]

Con trai cả của Shah Jahan, một người có tư tưởng phóng khoáng là Dara Shikoh, đã trở thành nhiếp chính vào năm 1658 do Shah Jahan lâm bệnh.[17] Dara ủng hộ một nền văn hóa dung hợp giữa Ấn Độ giáoHồi giáo, noi theo cụ cố Akbar của mình.[3] Tuy nhiên, với sự hậu thuẫn của phái Hồi giáo chính thống, một người con trai khác của Shah Jahan là Aurangzeb (trị vì 1658–1707) đã chiếm lấy ngai vàng. Aurangzeb đánh bại Dara vào năm 1659 và ra lệnh hành quyết ông.[3] Mặc dù Shah Jahan đã hoàn toàn bình phục, Aurangzeb vẫn giam lỏng cha mình cho đến khi ông qua đời vào năm 1666.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Aurangzeb đã đưa lãnh thổ đế quốc Mogul đạt đến diện tích rộng lớn nhất,[18] đồng thời thúc đẩy quá trình gia tăng Hồi giáo hóa nhà nước Mogul. Ông khuyến khích người dân cải đạo sang Hồi giáo, tái áp đặt thuế jizya đối với những người không theo đạo Hồi, và biên soạn Fatawa 'Alamgiri, một bộ luật Hồi giáo. Aurangzeb cũng ra lệnh hành quyết đạo sư đạo Sikh là Tegh Bahadu.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.[13] Từ góc độ đế quốc, việc cải sang Hồi giáo là cách để đưa giới tinh hoa địa phương vào tầm nhìn của nhà vua về một mạng lưới có chung bản sắc, nhằm liên kết các nhóm cư dân rời rạc trong đế quốc thành một khối thống nhất phục tùng Hoàng đế Mogul.[19]

Từ năm 1682, ông trực tiếp chỉ huy các chiến dịch quân sự tại Deccan và giành thắng lợi,[20] qua đó sáp nhập các thế lực Hồi giáo còn lại ở đây là Bijapur và Golconda.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.[20] Tuy nhiên, việc sa lầy vào một cuộc xung đột kéo dài tại khu vực này đã gây ra những hậu quả tai hại cho đế quốc.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.[21] Các chiến dịch này đã làm cạn kiệt ngân khố của Mogul, việc Aurangzeb vắng mặt đã gây ra sự khủng hoảng nghiêm trọng trong bộ máy cai trị, làm cho trật tự và sản lượng kinh tế tại vùng Deccan thuộc Mogul suy sụp nặng nề.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.[21]

Aurangzeb được xem là vị hoàng đế gây nhiều tranh cãi nhất của triều đại Mogul,Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”., một số nhà sử học lập luận rằng lập trường bảo thủ về tôn giáo và thái độ thiếu khoan dung của ông đã làm lung lay sự ổn định của xã hội Mogul.[3] Tuy nhiên, các nhà sử học khác lại đặt nghi vấn về quan điểm này; họ chỉ ra rằng ông đã tài trợ hoặc bảo trợ cho việc xây dựng các cơ sở phi Hồi giáo,[22] trọng dụng số lượng người theo đạo Hindu trong bộ máy quan lại triều đình nhiều hơn đáng kể so với những người tiền nhiệm, Aurangzeb cũng phản đối sự kỳ thị nhắm vào người theo đạo Hindu và người Hồi giáo dòng Shia.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Suy tàn (1707-1857)

Con trai của Aurangzeb là Bahadur Shah I đã bãi bỏ các chính sách tôn giáo hà khắc của cha mình và nỗ lực cải cách nền hành chính. Tuy nhiên, sau khi ông băng hà vào năm 1712, triều đại Mogul bắt đầu chìm trong hỗn loạn và những cuộc tranh giành quyền lực đẫm máu. Chỉ riêng trong năm 1719, bốn vị hoàng đế đã lần lượt lên ngôi,[3] tất cả họ đều đóng vai trò như những con rối dưới quyền một nhóm quý tộc thuộc tầng lớp Hồi giáo Ấn Độ được gọi là Sadaat-e-Bara; những người lãnh đạo nhóm này là anh em nhà Sayyid, đã trở thành những kẻ nắm thực quyền của đế quốc.[23][24]

Dưới triều đại của Muhammad Shah (trị vì 1719–1748), đế quốc bắt đầu tan rã, và những vùng lãnh thổ rộng lớn ở miền Trung Ấn Độ của Mogul đã rơi vào tay người Maratha. Khi nhà Mogul cố gắng dập tắt nỗ lực giành độc lập của Nizam-ul-Mulk, Asaf Jah I tại vùng Deccan, ông ta đã xúi giục người Maratha xâm lược miền Trung và miền Bắc Ấn Độ.[25][26][27] Chiến dịch Ấn Độ của vua Ba Tư Nader Shah, người trước đó đã tái thiết lập quyền cai trị của Iran trên hầu hết Tây Á, vùng CaucasusTrung Á, đã lên đến đỉnh điểm với cuộc Cướp phá Delhi, làm tiêu tan những tàn dư quyền lực và uy danh của Mogul, đồng thời vơ vét toàn bộ kho báu tích lũy của triều đại này. Nhà Mogul không còn khả năng chu cấp cho những đội quân khổng lồ mà trước đây họ từng dùng để duy trì sự cai trị. Nhiều thành phần tinh hoa của đế quốc giờ đây tìm cách tự nắm quyền kiểm soát và ly khai để thành lập các vương quốc độc lập.[28] Tuy nhiên, sự tôn kính trên danh nghĩa vẫn tiếp tục được dành cho Hoàng đế Mogul như là biểu tượng cao nhất của quyền tối thượng. Không chỉ tầng lớp quý tộc Hồi giáo, mà ngay cả các thủ lĩnh người Maratha, Hindu và Sikh cũng đều tham gia vào các nghi thức thừa nhận hoàng đế là đấng cai trị của Ấn Độ.[29] Trong khi đó, một số chính quyền địa phương bên trong Đế quốc Mogul ngày càng phân rã đã bị cuốn vào các cuộc xung đột triền miên, kết cục chỉ chuốc lấy thất bại và mất mát lãnh thổ trong các cuộc chiến như Chiến tranh Carnatic hay Chiến tranh Bengal.

Hoàng đế Mogul Shah Alam II (1759–1806) đã nỗ lực trong vô vọng nhằm đảo ngược đà suy tàn của triều đại. Delhi bị người Afghan cướp phá; và khi Trận Panipat lần thứ ba nổ ra giữa Đế quốc Maratha và người Afghan (do Ahmad Shah Durrani chỉ huy) vào năm 1761 với phần thắng thuộc về người Afghan, hoàng đế đã phải lánh nạn trong tủi hổ dưới sự che chở tạm thời của người Anh ở phương đông. Năm 1771, người Maratha tái chiếm Delhi từ tay người Rohilla, và đến năm 1784, họ chính thức trở thành những người bảo hộ cho hoàng đế tại Delhi,[30] một cục diện kéo dài cho đến Chiến tranh Anh-Maratha lần thứ hai. Sau đó, Công ty Đông Ấn Anh đã thay thế vai trò bảo hộ cho triều đại Mogul tại Delhi.[29] Công ty Đông Ấn Anh giành quyền kiểm soát tỉnh cũ Bengal-Bihar của Mogul vào năm 1793 sau khi bãi bỏ quyền cai trị địa phương (Nizamat), sự kiện này đánh dấu sự khởi đầu kỷ nguyên thực dân Anh trên tiểu lục địa Ấn Độ. Đến năm 1857, một phần đáng kể lãnh thổ Ấn Độ thuộc Mogul trước đây đã nằm dưới sự kiểm soát của Công ty Đông Ấn. Sau thất bại thảm hại trong cuộc Khởi nghĩa Ấn Độ năm 1857 mà ông lãnh đạo trên danh nghĩa, vị hoàng đế Mogul cuối cùng, Bahadur Shah Zafar, đã bị Công ty Đông Ấn Anh phế truất và lưu đày sang Rangoon, Miến Điện vào năm 1858.[31]

Nguyên nhân suy tàn

Các nhà sử học đã đưa ra nhiều luận giải về các yếu tố dẫn đến sự sụp đổ nhanh chóng của Đế quốc Mogul trong giai đoạn từ năm 1707 đến 1720, ngay sau một thế kỷ phát triển và hưng thịnh. Một chuỗi nối tiếp những kẻ cai trị yếu kém, bất tài với thời gian trị vì ngắn ngủi, cùng các cuộc nội chiến tranh giành vương vị đã gây ra tình trạng bất ổn chính trị tại trung ương. Người Mogul dường như vững như bàn thạch trong suốt thế kỷ 17, nhưng một khi thời hoàng kim qua đi, sự dàn trải lực lượng quá mức của đế quốc đã bộc lộ rõ, và tình thế trở nên không thể cứu vãn. Các công ty thương mại châu Âu tưởng chừng vô hại, như Công ty Đông Ấn Anh, thực tế không đóng vai trò gì trong giai đoạn suy thoái ban đầu; lúc bấy giờ họ vẫn đang phải đua nhau xin phép các vua chúa Mogul để được thiết lập thương mại và mở các thương điếm tại Ấn Độ.[32]

Về mặt tài khóa, triều đình thất thu các nguồn ngân sách cần thiết để chi trả cho các đại thần, các tiểu vương (giới quý tộc) và đoàn tùy tùng của họ. Hoàng đế đánh mất uy quyền khi các quan chức đế quốc trấn nhậm ở những nơi xa xôi mất niềm tin vào chính quyền trung ương và tự ý thỏa hiệp với các hào cường địa phương. Quân đội đế quốc sa lầy vào những cuộc chiến dai dẳng và vô vọng chống lại người Maratha hiếu chiến hơn, dẫn đến việc đánh mất nhuệ khí. Sau cùng là hàng loạt các cuộc tranh chấp chính trị đẫm máu nhằm giành quyền kiểm soát ngai vàng. Sau vụ hành quyết Hoàng đế Farrukhsiyar vào năm 1719, các nhà nước kế thừa của Mogul tại các địa phương đã lần lượt nắm quyền kiểm soát tại hết vùng này đến vùng khác.

Hành chính và nhà nước

Đế quốc Mogul sở hữu một chính quyền quan liêu, tập quyền cao độ; phần lớn cơ cấu này được thiết lập dưới thời trị vì của vị hoàng đế Mogul thứ ba là Akbar.[33][34] Chính quyền trung ương do Hoàng đế Mogul đứng đầu; ngay dưới quyền ông là bốn bộ.

Bộ tài chính/ngân khố, được đứng đầu bởi một quan chức gọi là diwan, chịu trách nhiệm kiểm soát nguồn thu từ các lãnh thổ của đế quốc, tính toán doanh thu thuế, và sử dụng thông tin này để phân bổ các khoản cấp phát. Bộ quân sự (quân đội/tình báo) do một quan chức có tước hiệu mir bakhshi đứng đầu, người này phụ trách tổ chức quân đội, hệ thống trạm tin liên lạc, cũng như chế độ mansabdari. Bộ phụ trách luật pháp và bảo trợ tôn giáo thuộc trách nhiệm của sadr as-sudr, là người bổ nhiệm các thẩm phán cũng như quản lý các hoạt động từ thiện và các khoản trợ cấp. Một bộ khác chuyên trách về nội vụ hoàng gia và các công trình công cộng, do mir saman đứng đầu. Trong số các vị thượng thư này, diwan nắm giữ vai trò quan trọng nhất và thường kiêm nhiệm chức vụ wazir (Tể tướng) của đế quốc.[31][33][35]

Đơn vị hành chính

Các subah Ấn Độ vào năm 1605, sau cái chết của Akbar

Đế quốc được chia thành các Subah (tỉnh), đứng đầu mỗi tỉnh là một thống đốc được gọi là subahdar. Cơ cấu của chính quyền trung ương được phản chiếu tại cấp tỉnh; mỗi subah đều có bakhshi, sadr as-sudr, và quan phụ trách tài chính riêng; những người này báo cáo trực tiếp lên chính quyền trung ương thay vì chịu lệnh của subahdar. Các Subah lại được chia nhỏ thành những đơn vị hành chính gọi là sarkar, và các sarkar tiếp tục được chia thành những nhóm làng xã gọi là pargana. Chính quyền Mogul tại pargana bao gồm một thẩm phán Hồi giáo và một viên thu thuế địa phương.[31][33] Pargana đóng vai trò là đơn vị hành chính cơ sở của Đế quốc Mogul.[36]

Sự phân chia hành chính của Mogul không mang tính bất biến. Các vùng lãnh thổ thường xuyên được sắp xếp và tái cấu trúc để kiểm soát hành chính hiệu quả hơn, cũng như để mở rộng diện tích canh tác. Ví dụ, một sarkar có thể được nâng lên thành một subah, và các pargana thường được chuyển giao giữa các sarkar. Hệ thống phân cấp đôi khi khá mơ hồ, bởi một vùng lãnh thổ có thể chịu sự quản lý của nhiều thẩm quyền chồng chéo. Các đơn vị hành chính cũng không rõ ràng về mặt địa lý—nhà nước Mogul không có đủ nguồn lực hay thẩm quyền để thực hiện các cuộc đo đạc địa chính chi tiết, do đó ranh giới địa lý của các đơn vị này không được chính thức hóa và bản đồ cũng không được thiết lập. Thay vào đó, người Mogul ghi chép các số liệu thống kê chi tiết về từng đơn vị để đánh giá khả năng thu ngân sách của lãnh thổ.[37]

Kinh đô

Nhà Mogul có nhiều kinh đô được thiết lập trong suốt thời kỳ cai trị của họ, đó là các thành phố Agra, Delhi, LahoreFatehpur Sikri. Quyền lực thường xuyên dịch chuyển qua lại giữa các kinh đô này.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Đôi khi việc này xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết về chính trị và quân sự, nhưng cũng có lúc việc dời đô diễn ra vì lý do hệ tư tưởng (ví dụ như việc Akbar lập nên Fatehpur Sikri), hoặc đơn giản chỉ vì chi phí để thiết lập một kinh đô mới là không đáng kể.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Trong lịch sử Mogul, đã nhiều lần xuất hiện tình trạng hai kinh đô cùng tồn tại song song. Một số thành phố cũng đóng vai trò là kinh đô ngắn hạn hoặc thủ phủ cấp tỉnh, như trường hợp Aurangzeb chuyển đến Aurangabad ở vùng Deccan.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Kabul là kinh đô mùa hè của nhà Mogul từ năm 1526 đến 1681.[38]

Các doanh trại hoàng gia, vốn được sử dụng trong các cuộc viễn chinh quân sự và những chuyến tuần du, cũng đóng vai trò như một dạng kinh đô hành chính di động. Từ thời Akbar, các doanh trại Mogul có quy mô khổng lồ, tháp tùng bởi vô số nhân vật thuộc triều đình, cũng như binh lính và phu phen. Mọi hoạt động hành chính và cai trị đều được thực hiện ngay tại đây. Các Hoàng đế Mogul đã dành một phần đáng kể thời gian trị vì của mình bên trong những doanh trại này.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Sau thời Aurangzeb, kinh đô của Mogul chính thức cố định tại thành Shahjahanabad (Old Delhi).[39]

Luật pháp

Cảnh sát ở Delhi thời Bahadur Shah II, năm 1842

Hệ thống pháp luật của Đế quốc Mogul mang tính đặc thù theo bối cảnh và đã chuyển biến liên tục trong suốt thời kỳ cai trị của đế quốc. Là một nhà nước Hồi giáo, đế quốc áp dụng fiqh (luật học Hồi giáo), do đó các thiết chế cơ bản của luật Hồi giáo như qadi (thẩm phán), mufti (cố vấn luật pháp), và muhtasib (quan kiểm duyệt và giám sát thị trường) đã được thiết lập vững chắc trong Đế quốc Mogul. Tuy nhiên, việc thực thi công lý còn phụ thuộc vào các yếu tố khác, như các quy tắc hành chính, tập quán địa phương và những toan tính chính trị. Điều này bắt nguồn từ những ảnh hưởng của văn hóa Ba Tư lên hệ tư tưởng Mogul, cũng như thực tế rằng Đế quốc Mogul cai trị một cộng đồng dân cư đa số là người phi Hồi giáo.[40] Học giả Mouez Khalfaoui ghi nhận rằng các thiết chế pháp lý trong Đế quốc Mogul đã chịu tổn hại mang tính hệ thống do sự tham nhũng của các thẩm phán địa phương.[41]

Tư tưởng pháp lý

Đế quốc Mogul tuân theo trường phái luật học Hanafi của dòng Sunni. Trong những năm đầu, đế quốc dựa vào các tài liệu tham khảo pháp lý Hanafi được kế thừa từ triều đại tiền nhiệm là Vương quốc Hồi giáo Delhi. Các tài liệu này bao gồm al-Hidayah (Sự chỉ dẫn tốt nhất) và Fatawa al-Tatarkhaniyya (Các phán quyết tôn giáo của Tiểu vương Tatarkhan). Vào thời kỳ đỉnh cao của Đế quốc Mogul, bộ Fatawa 'Alamgiri đã được biên soạn theo lệnh của Hoàng đế Aurangzeb. Bộ tuyển tập luật Hanafi này được biên soạn nhằm trở thành tài liệu tham khảo trọng tâm cho nhà nước Mogul, giải quyết các vấn đề đặc thù trong bối cảnh Nam Á.[41]

Đế quốc Mogul cũng vận dụng các quan niệm của Ba Tư về vương quyền. Cụ thể, điều này đồng nghĩa với việc Hoàng đế Mogul được coi là thẩm quyền tối cao trong các vấn đề pháp lý.[40]

Kinh tế

Nền kinh tế Mogul có quy mô lớn và thịnh vượng.[42][43] Ấn Độ đóng góp 24,5% tổng sản lượng chế tạo của toàn thế giới vào năm 1750.[43][44] Nền kinh tế Ấn Độ thời Mogul được mô tả là một dạng kinh tế tiền công nghiệp hóa, tương tự như ở Tây Âu vào thế kỷ 18 trước Cách mạng Công nghiệp.[45]

Các nhà sử học và nghiên cứu hiện đại nhìn chung đồng thuận rằng đặc điểm trong chính sách kinh tế của Đế quốc Mogul có nét tương đồng với hệ thống tự do kinh doanh (laissez-faire) trong việc giao thương và quản lý các nguồn lợi tài chính nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.[46]Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Nhà Mogul đã có công xây dựng một hệ thống đường bộ rộng khắp và thiết lập một đơn vị tiền tệ thống nhất. Đế quốc sở hữu một mạng lưới giao thông quy mô, đóng vai trò thiết yếu đối với hạ tầng kinh tế. Mạng lưới này được xây dựng bởi một cơ quan công trình công cộng do nhà Mogul thành lập, chuyên trách việc thiết kế, thi công và bảo trì các con đường nối liền những thị trấn và thành phố trên khắp đế quốc, giúp việc giao thương trở nên thuận lợi hơn.[42]

Nền tảng chính tạo nên sự thịnh vượng chung của đế quốc là thuế nông nghiệp, được thiết lập bởi vị hoàng đế Mogul thứ ba, Akbar.[47][48] Các khoản thuế này, vốn chiếm tới hơn một nửa sản lượng của người nông dân,[49] được chi trả bằng loại tiền bạc đã được quy chuẩn hóa chặt chẽ,Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. qua đó thúc đẩy nông dân cũng như thợ thủ công tham gia vào các thị trường lớn hơn.[50] Vào khoảng năm 1595, các nhà sử học hiện đại ước tính doanh thu hàng năm của nhà nước Mogul đạt khoảng 99.000.000 rupee.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Tiền tệ

Đồng tiền của Aurangzeb, đúc tại Kabul, có niên đại 1691-2.

Nhà Mogul đã kế thừa và chuẩn hóa các đơn vị tiền tệ là rupee (bạc) và dam (đồng), vốn được Hoàng đế nhà Sur là Sher Shah Suri ban hành trong thời gian trị vì ngắn ngủi trước đó của ông.[51] Các đồng tiền dưới thời Mogul được đúc với độ tinh khiết rất cao, chưa bao giờ thấp dưới 96%, và hoàn toàn không xảy ra tình trạng giảm giá trị đồng tiền (do pha tạp) cho đến tận những năm 1720.[52]

Mặc dù Ấn Độ sở hữu trữ lượng vàngbạc tự nhiên dồi dào, nhưng người Mogul lại rất ít sử dụng nguồn vàng trong nước mà chủ yếu đúc tiền từ kim loại quý nhập khẩu. Điều này là hệ quả của một nền kinh tế định hướng xuất khẩu mạnh mẽ, khi nhu cầu to lớn của thế giới đối với các sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp Ấn Độ đã thu hút một dòng chảy kim loại quý liên tục đổ về đất nước này.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Lao động

Nhà sử học Shireen Moosvi ước tính rằng xét về tỷ trọng đóng góp cho nền kinh tế Mogul vào cuối thế kỷ 16 thì khu vực sơ cấp (nông nghiệp) chiếm 52%, khu vực thứ cấp (sản xuất) chiếm 18% và khu vực dịch vụ chiếm 29%; tỷ trọng của khu vực thứ cấp thời kỳ này cao hơn so với thời Ấn Độ thuộc Anh vào đầu thế kỷ 20.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Xét về sự phân bổ giữa thành thị và nông thôn, 18% lực lượng lao động của Ấn Độ thời Mogul tập trung ở thành thị và 82% ở nông thôn, với mức đóng góp vào nền kinh tế lần lượt là 52% và 48%.[53]

Theo Moosvi, thu nhập bình quân đầu người quy đổi theo lúa mì tại Ấn Độ thời Mogul vào cuối thế kỷ 16 cao hơn 1,24% so với Ấn Độ thuộc Anh vào đầu thế kỷ 20.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Tuy nhiên, mức thu nhập này sẽ phải điều chỉnh giảm xuống nếu tính thêm các loại hàng hóa sản xuất như quần áo. Dẫu vậy, so với chi phí lương thực bình quân đầu người, chi tiêu cho may mặc chiếm tỷ trọng nhỏ hơn rất nhiều, do đó mức thu nhập tương đối giữa giai đoạn 1595–1596 vẫn có thể so sánh tương đương với giai đoạn 1901–1910.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Tuy nhiên, trong một thể chế mà của cải bị giới tinh hoa thâu tóm, tiền công của lao động chân tay thường bị kìm hãm ở mức thấp.[54] Chế độ nô lệ ở Mogul dù có tồn tại nhưng phần lớn chỉ giới hạn trong phạm vi gia nô phục vụ việc nhà.[55]

Nông nghiệp

Sản lượng nông nghiệp của Ấn Độ đã gia tăng đang kể dưới thời Đế quốc Mogul.[42] Nhiều loại cây trồng đa dạng đã được canh tác, bao gồm các loại cây lương thực như lúa mì, lúa gạo, và đại mạch, cũng như các loại cây thương phẩm phi lương thực như bông, chàmthuốc phiện. Đến giữa thế kỷ 17, nông dân Ấn Độ bắt đầu canh tác rộng rãi hai loại cây trồng mới có nguồn gốc từ châu Mỹ là ngôthuốc lá.[42]

Chính quyền Mogul chú trọng vào công cuộc cải cách nông nghiệp vốn được khởi xướng dưới thời vị hoàng đế không thuộc dòng tộc Mogul là Sher Shah Suri; Akbar đã kế thừa và đẩy mạnh công cuộc này bằng nhiều biện pháp cải cách bổ sung. Nền hành chính dân sự được tổ chức theo hệ thống phân cấp dựa trên thực tài, với việc thăng thưởng dựa trên thành tích công tác.[56] Chính quyền Mogul đã cấp vốn xây dựng các hệ thống thủy lợi trên khắp đế quốc, giúp mang lại năng suất mùa màng cao hơn hẳn và gia tăng nguồn thu ngân sách ròng, từ đó thúc đẩy sản lượng nông nghiệp.[42]

Một cuộc cải cách quan trọng của nhà Mogul do Akbar ban hành là hệ thống thuế đất đai mới được gọi là zabt. Ông đã thay thế chế độ cống nạp, vốn phổ biến trước đó tại Ấn Độ và cũng được Mạc phủ Tokugawa của Nhật Bản áp dụng cùng thời kỳ, bằng một hệ thống thuế định ngạch bằng tiền dựa trên đơn vị tiền tệ thống nhất.[52] Hệ thống thuế này có cơ chế ưu đãi đối với các loại cây thương phẩm có giá trị cao hơn như bông, chàm, mía, cây thân gỗ và thuốc phiện; chính sách này tạo ra động lực từ phía nhà nước để khuyến khích trồng cây thương phẩm, bên cạnh yếu tố nhu cầu thị trường đang gia tăng.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Dưới hệ thống zabt, nhà Mogul cũng tiến hành các cuộc đo đạc địa chính quy mô lớn để đánh giá diện tích đất canh tác. Nhà nước khuyến khích mở rộng diện tích gieo trồng bằng cách miễn thuế trong một thời gian nhất định cho những ai khai khẩn đất hoang đưa vào canh tác.[52] Sự mở rộng nông nghiệp và diện tích canh tác tiếp tục diễn ra dưới thời các hoàng đế Mogul sau này, bao gồm cả Aurangzeb.[57]

Nông nghiệp thời Mogul ở một số phương diện còn tiên tiến hơn so với nông nghiệp châu Âu cùng thời, điển hình là việc nông dân Ấn Độ đã sử dụng phổ biến máy gieo hạt trước khi công cụ này được áp dụng tại châu Âu.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Các loại máy ép mía sử dụng bánh răng đã xuất hiện lần đầu tiên tại Ấn Độ thời Mogul vào thế kỷ 17, vận hành dựa trên nguyên lý con lăn kết hợp với cơ cấu trục vít.[58]

Sản xuất công nghiệp

Quý bà Hồi giáo đang nằm tựa hoặc Một thiếu nữ Ấn Độ bên bình tẩu Hookah, được vẽ tại Dacca, thế kỷ 18.

Nam Á dưới ách thống trị của nhà Mogul từng là mảnh đất màu mỡ cho các công nghệ chế tạo mà người châu Âu hằng khao khát trước khi Cách mạng Công nghiệp diễn ra.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Năm 1750, Ấn Độ đóng góp khoảng 25% tổng sản lượng công nghiệp của toàn thế giới.[59]

Hàng hóa chế tác và nông sản thương mại từ Đế quốc Mogul đã được tiêu thụ rộng rãi trên toàn cầu.[42] Sự phát triển của các ngành công nghiệp chế tạo tại tiểu lục địa Ấn Độ trong kỷ nguyên Mogul vào thế kỷ 17–18 đã được ví như một hình thức "tiền công nghiệp hóa", tương tự như Tây Âu thế kỷ 18 trước Cách mạng Công nghiệp.[45]

Tại châu Âu thời cận đại, nhu cầu đối với các sản phẩm từ Ấn Độ thuộc Mogul là rất lớn, đặc biệt là hàng dệt may cotton, cũng như các mặt hàng như gia vị, hồ tiêu, chàm, lụadiêm tiêu (dùng để chế tạo đạn dược).[42] Ngành thời trang châu Âu đương thời trở nên lệ thuộc nặng nề vào các sản phẩm lụa và dệt may từ Ấn Độ Mogul.[60]

Nhân khẩu

Dân số

Tốc độ tăng trưởng dân số của Ấn Độ đã gia tăng nhanh chóng dưới thời Đế quốc Mogul, với sự bùng nổ chưa từng thấy về kinh tế và nhân khẩu học.[61] Tốc độ tăng trưởng dân số Ấn Độ trong kỷ nguyên Mughal nhanh hơn bất kỳ giai đoạn nào từng được ghi nhận trong lịch sử Ấn Độ trước đó.[61][61] Đến thời trị vì của Aurangzeb, có tổng cộng 455.698 ngôi làng trong Đế quốc Mogul.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Bảng dưới đây cung cấp các số liệu ước tính về dân số của Đế quốc Mogul, so sánh với tổng dân số Nam Á (bao gồm các khu vực thuộc Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh hiện đại) cũng như dân số thế giới:

Năm Dân số đế chế Mogul Tổng dân số Ấn Độ Tỉ lệ trên tổng dân số Nam Á (%) Dân số thế giới Tỉ lệ trên tổng dân số thế giới (%)
1500 100.000.000[61] 425.000.000[62]
1600 115.000.000Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. 130.000.000[61] 89 579.000.000[62] 20
1700 158.400.000[63] 160.000.000[61] 99 679.000.000[62] 23

Kiều dân Do Thái có sự hiện diện đáng kể trong Đế quốc Mogul. Cộng đồng người Do Thái trong đế quốc thường tham gia vào hoạt động buôn bán trang sức và đá quý.[64]

Đô thị hóa

Theo Irfan Habib, các thành phố và thị trấn đã phát triển mạnh mẽ dưới thời Đế quốc Mogul; đế quốc này đạt mức độ đô thị hóa tương đối cao so với phần còn lại của thế giới thời điểm đó, với 15% dân số của đế quốc sinh sống tại các trung tâm đô thị.[65] Tỷ lệ này cao hơn tỷ lệ dân số đô thị tại châu Âu cùng thời và cao hơn cả Ấn Độ thuộc Anh vào thế kỷ 19;[65] mức độ đô thị hóa tại châu Âu đã không chạm ngưỡng 15% cho đến tận thế kỷ 19.[66]

Vào năm 1600 dưới thời Akbar, dân số đô thị của Đế quốc Mogul đạt 17 triệu người, chiếm 15% tổng dân số. Con số này thậm chí còn lớn hơn tổng dân số đô thị của toàn châu Âu đương thời. Ngay cả một thế kỷ sau (1700), tỷ lệ dân thành thị tại Anh, Scotlandxứ Wales vẫn không vượt quá 13%;Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. trong khi đó, tỷ lệ này tại Ấn Độ thuộc Anh chỉ ở mức dưới 13% vào năm 1800 và sụt xuống còn 9% vào năm 1881, đánh dấu một bước lùi so với kỷ nguyên Mogul trước đó.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Vào năm 1700, dân số đô thị của Ấn Độ thời Mogul đã đạt 23 triệu người, lớn hơn con số 22,3 triệu người của Ấn Độ thuộc Anh vào năm 1871.[67]

Những ước tính này đã bị Tim Dyson phản bác vì ông cho rằng chúng đã bị phóng đại. Theo Dyson, mức độ đô thị hóa của Đế quốc Mogul thực tế ở mức thấp hơn 9%.[68]

Nhà sử học Nizamuddin Ahmad (1551–1621) ghi nhận rằng dưới triều đại Akbar, có 120 thành phố lớn và 3.200 thị trấn.[65] Một số thành phố tại Ấn Độ có dân số dao động từ 250.000 đến 500.000 người;[65] trong đó các thành phố lớn nhất bao gồm Agra (thuộc Agra Subah) với dân số lên tới 800.000 người, Lahore (thuộc Lahore Subah) với 700.000 người,Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Dhaka (thuộc Bengal Subah) với hơn 1 triệu người,[69]Delhi (thuộc Delhi Subah) với hơn 600.000 người.[54]

Các thành phố đóng vai trò là thị trường tiêu thụ hàng hóa, đồng thời là nơi cư ngụ của đủ mọi tầng lớp từ thương nhân, lái buôn, chủ tiệm, nghệ nhân, người cho vay lãi, thợ dệt, thợ thủ công, cho đến quan lại và các chức sắc tôn giáo.[42] Tuy nhiên, cũng có một số thành phố chỉ thuần túy là trung tâm chính trị và quân sự.[70]

Văn hóa

Nhìn chung, các dòng sử học cổ điển thường mô tả nguồn gốc Đế quốc Mogul là một xã hội nông nghiệp định cư. Tuy nhiên, các nhà sử học hiện đại như André Wink, Jos J. L. Gommans, Anatoly Khazanov, Thomas J. Barfield cùng những người khác lại lập luận rằng văn hóa Mogul bắt nguồn từ văn hóa du mục.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Thay vào đó, Pius Malekandathil biện giải rằng tuy quả thực người Mughal có xuất phát điểm là một nền văn minh du mục, nhưng họ đã ngày càng trở nên "định cư hóa" theo thời gian, mà minh chứng điển hình chính là truyền thống quân sự của họ.[71]

Kiến trúc

Nhà thờ Hồi giáo Badshahi, Lahore, Punjab, Pakistan
Pháo đài Lalbagh tại Dhaka, Bangladesh nhìn từ trên cao

Vương triều Mogul đã để lại một di sản quan trọng cho tiểu lục địa Ấn Độ thông qua việc phát triển một phong cách kiến trúc đặc thù. Phong cách này là sự kế thừa và phát triển từ kiến trúc Hồi giáo - Ấn Độ, cũng như kiến trúc Iran và Trung Á (đặc biệt là kiến trúc Timurid), đồng thời dung hợp thêm những ảnh hưởng từ kiến trúc Hindu. Các đặc trưng nhận diện của kiến trúc Mogul bao gồm mái vòm dạng củ hành, vòm cuốn nhọn, mặt tiền được trau chuốt với bố cục chặt chẽ, cùng việc sử dụng sa thạch đỏđá cẩm thạch làm vật liệu xây dựng chủ đạo.

Kỷ nguyên Mogul chứng kiến sự ra đời của nhiều công trình kiến trúc dưới sự bảo trợ của các hoàng đế Hồi giáo, đặc biệt là thời Shah Jahan. Tiêu biểu nhất là Taj MahalDi sản Thế giới được UNESCO tôn vinh là "viên ngọc của nghệ thuật Hồi giáo tại Ấn Độ và là một trong những kiệt tác di sản được cả thế giới ngưỡng mộ", thu hút từ 7 đến 8 triệu lượt khách tham quan mỗi năm. Hệ thống cung điện, lăng tẩm, hoa viên và pháo đài do triều đại này xây dựng hiện vẫn hiện diện tại Agra, Aurangabad, Delhi, Dhaka, Fatehpur Sikri, Jaipur, Lahore, Kabul, Sheikhupura, cùng nhiều thành phố khác trên khắp Ấn Độ, Pakistan, AfghanistanBangladesh.

Quân sự

Chiến tranh thuốc súng

Súng hỏa mai Mogul, thế kỷ 16.

Đế quốc Mogul tại Ấn Độ là một trong ba "Đế chế thuốc súng" của thế giới Hồi giáo, cùng với Đế quốc OttomanĐế quốc Safavid (Ba Tư).Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.[72] Vào thời điểm nhận lời mời từ Daulat Khan – Thống đốc nhà Lodi tại Lahore – để hỗ trợ cuộc nổi dậy chống lại Sultan Ibrahim Khan, Babur đã am tường về hỏa khí sử dụng thuốc súng, pháo dã chiến cũng như các phương thức triển khai chúng trên chiến trường. Babur đã trọng dụng Ustad Ali Quli, một chuyên gia quân sự người Ottoman. Chính Ali Quli là người đã hướng dẫn cho Babur về đội hình tác chiến tiêu chuẩn của quân đội Ottoman: bố trí pháo binh và bộ binh trang bị hỏa khí ở trung quân, được che chắn bởi các toa xe, trong khi lực lượng kỵ xạ trấn giữ ở hai bên cánh. Babur đã áp dụng đội hình này trong Trận Panipat lần thứ nhất vào năm 1526. Kết quả là liên quân Afghan và Rajput trung thành với Hồi quốc Delhi, tuy chiếm ưu thế áp đảo về quân số nhưng do thiếu hụt hỏa khí, đã phải chịu thất bại nặng nề. Chiến thắng quyết định này của lực lượng Timurid là một trong những lý do khiến các đối thủ hiếm khi dám đối đầu trực diện với các hoàng tử Mogul trong các trận đánh quy ước suốt chiều dài lịch sử đế chế.

Tại Ấn Độ, các khẩu pháo làm bằng đồng có niên đại từ năm 1504 và 1533 đã được tìm thấy tại CalicutDiu.[73] Đáng chú ý, Fathullah Shirazi (khoảng năm 1582), một nhà thông thái và kỹ sư cơ khí người Ba Tư phục vụ dưới triều đại Akbar, đã phát triển một loại súng đa nòng sơ khai. Khác biệt với các loại máy bắn tên polybolos của Hy Lạp cổ đại hay nỏ liên châu của Trung Quốc, súng bắn nhanh của Shirazi sở hữu nhiều nòng súng, khai hỏa các ống phóng nạp thuốc súng (dạng súng cầm tay). Thiết kế này có thể được xem là một biến thể tiền thân của súng bắn loạt (volley gun).[74]

Hỏa tiễn và chất nổ

Vào thế kỷ 16, Akbar là người tiên phong triển khai và sử dụng các loại hỏa tiễn hình trụ vỏ kim loại, được gọi là bans, đặc biệt hữu hiệu trong việc khắc chế voi chiến tại trận Sanbal.[75][76] Đến năm 1657, quân đội Mogul tiếp tục vận dụng hỏa tiễn trong chiến dịch vây hãm thành Bidar.[77] Các lực lượng dưới quyền Hoàng tử Aurangzeb đã phóng hỏa tiễn và lựu đạn trong quá trình vượt tường công thành. Sidi Marjan, người chỉ huy quân phòng thủ, đã bị thương chí mạng khi một quả hỏa tiễn đánh trúng kho thuốc súng lớn của ông; sau 27 ngày giao tranh ác liệt, thành Bidar đã thất thủ về tay quân Mogul.

Trong tác phẩm A History of Greek Fire and Gunpowder (Lịch sử Lửa Hy Lạp và Thuốc súng), học giả James Riddick Partington đã mô tả các loại hỏa tiễn và địa lôi của Ấn Độ như sau:[73]

Các loại hỏa tiễn chiến tranh của Ấn Độ... là những vũ khí vô cùng lợi hại, xuất hiện trước cả khi loại vũ khí này được sử dụng tại châu Âu. Chúng có cấu tạo gồm các thanh tre dẫn hướng, phần thân hỏa tiễn được buộc chặt vào thanh tre và gắn đầu nhọn bằng sắt. Chúng được điều hướng vào mục tiêu và khai hỏa bằng cách châm ngòi; tuy nhiên, quỹ đạo bay của chúng khá thất thường. Việc sử dụng mìn và các biện pháp chống mìn bằng các khối thuốc nổ cũng đã được ghi nhận xuất hiện dưới thời Akbar và Jahangir."

Danh sách hoàng đế

STT. Chân dung Tôn hiệu Tên thật Ngày sinh và nơi sinh Triều đại Ngày mất và nơi mất
1 Babur

Bản mẫu:Uninastaliq

Zahir ud-Din Muhammad

Bản mẫu:Uninastaliq

14 tháng 2 1483

Andijan

21 tháng 4 1526 – 26 tháng 12 1530 26 tháng 12 1530 (hưởng thọ 47)

Agra

2 Humayun

Bản mẫu:Uninastaliq

Nasir ud-Din Muhammad

Bản mẫu:Uninastaliq

6 Tháng ba 1508

Kabul

26 tháng 12 1530 – 17 tháng 5 1540
22 tháng 2 1555 – 27 tháng 1 1556
27 tháng 1 1556 (hưởng thọ 47)

Delhi

3 Akbar I

Bản mẫu:Uninastaliq

Jalal ud-Din Muhammad

Bản mẫu:Uninastaliq

15 tháng 10 1542

Umerkot

11 tháng 2 1556 – 27 tháng 10 1605 27 tháng 10 1605 (hưởng thọ 63)

Agra

4 Jahangir

Bản mẫu:Uninastaliq

Nur ud-Din Muhammad

Bản mẫu:Uninastaliq

31 tháng 8 1569

Agra

3 tháng 11 1605 – 28 tháng 10 1627 28 tháng 10 1627 (hưởng thọ 58)

Bhimber[78]

5 Shah Jahan I

Bản mẫu:Uninastaliq

Shihab ud-Din Muhammad

Bản mẫu:Uninastaliq

5 tháng 1 1592

Lahore

19 tháng 1 1628 – 31 tháng 7 1658 22 tháng 1 1666 (hưởng thọ 74)

Agra

6 Aurangzeb

Bản mẫu:Uninastaliq


Alamgir I

Bản mẫu:Uninastaliq

Muhi al-Din Muhammad

Bản mẫu:Uninastaliq

3 tháng 11 1618

Dahod, Gujarat

31 tháng 7 1658 – 3 Tháng ba 1707 3 Tháng ba 1707 (hưởng thọ 88)

Ahmednagar

7 Azam Shah

Bản mẫu:Uninastaliq

Qutb ud-Din Muhammad

Bản mẫu:Uninastaliq

28 tháng 6 1653

Burhanpur

14 Tháng ba – 20 tháng 6 1707 20 tháng 6 1707 (hưởng thọ 53)

Agra

8 Bahadur Shah I

Bản mẫu:Uninastaliq


Shah Alam I

Bản mẫu:Uninastaliq

Mirza Muhammad Mu'azzam

Bản mẫu:Uninastaliq

14 tháng 10 1643

Burhanpur

19 tháng 6 1707 – 27 tháng 2 1712 27 tháng 2 1712 (hưởng thọ 68)

Lahore

9 Jahandar Shah

Bản mẫu:Uninastaliq

Muiz ud-Din Muhammad

Bản mẫu:Uninastaliq Hoàng đế bù nhìn đầu tiên

9 tháng 5 1661

Deccan

27 tháng 2 1712 – 11 tháng 2 1713 12 tháng 2 1713 (hưởng thọ 51)

Delhi

10 Farrukhsiyar

Bản mẫu:Uninastaliq

Muin al-Din Muhammad

Bản mẫu:Uninastaliq Hoàng đế bù nhìn

20 tháng 8 1685

Aurangabad

11 tháng 1 1713 – 28 tháng 2 1719 19 tháng 4 1719 (hưởng thọ 33)

Delhi

11 Rafi ud-Darajat

Bản mẫu:Uninastaliq

Shams al-Din Muhammad

Bản mẫu:Uninastaliq Hoàng đế bù nhìn

1 tháng 12 1699 28 tháng 2 1719 – 6 tháng 6 1719 6 tháng 6 1719 (hưởng thọ 19)

Agra

12 Shah Jahan II

Bản mẫu:Uninastaliq

Rafi al-Din Muhammad

Bản mẫu:Uninastaliq Hoàng đế bù nhìn

5 tháng 1 1696 6 tháng 6 1719 – 17 tháng 9 1719 18 tháng 9 1719 (hưởng thọ 23)

Agra

13 Muhammad Shah

Bản mẫu:Uninastaliq

Nasir al-Din Muhammad

Bản mẫu:Uninastaliq Hoàng đế bù nhìn

7 tháng 8 1702

Ghazni

27 tháng 9 1719 – 26 tháng 4 1748 26 tháng 4 1748 (hưởng thọ 45)

Delhi

14 Ahmad Shah Bahadur

Bản mẫu:Uninastaliq

Mujahid al-Din Muhammad

Bản mẫu:Uninastaliq

23 tháng 12 1725

Delhi

29 tháng 4 1748 – 2 tháng 6 1754 1 tháng 1 1775 (hưởng thọ 49)

Delhi

15 Alamgir II

Bản mẫu:Uninastaliq

Aziz al-Din Muhammad

Bản mẫu:Uninastaliq

6 tháng 6 1699

Burhanpur

3 tháng 6 1754 – 29 tháng 11 1759 29 tháng 11 1759 (hưởng thọ 60)

Delhi

16 Tập tin:Shah Jahan III of India.jpg Shah Jahan III

Bản mẫu:Uninastaliq

Muhi al-Millat

Bản mẫu:Uninastaliq

1711 10 tháng 12 1759 – 10 tháng 10 1760 1772 (hưởng thọ 60–61)
17 Tập tin:Ali Gauhar of India.jpg Shah Alam II

Bản mẫu:Uninastaliq

Jalal al-Din Muhammad Ali Gauhar

Bản mẫu:Uninastaliq

25 tháng 6 1728

Delhi

10 tháng 10 1760 – 31 tháng 7 1788 19 tháng 11 1806 (hưởng thọ 78)

Delhi

18 Tập tin:Mughal Emperor Mahmud Shah Bahadur.jpg Shah Jahan IV

Bản mẫu:Uninastaliq

Bidar Bakht Mahmud Shah Bahadur Shah Jahan IV

Bản mẫu:Uninastaliq

1749

Delhi

31 tháng 7 1788 – 11 tháng 10 1788 1790 (hưởng thọ 40–41)

Delhi

17* Tập tin:Ali Gauhar of India.jpg Shah Alam II

Bản mẫu:Uninastaliq

Jalal al-Din Muhammad Ali Gauhar

Bản mẫu:Uninastaliq Hoàng đế bù nhìn

25 tháng 6 1728

Delhi

16 tháng 10 1788 – 19 tháng 11 1806 19 tháng 11 1806 (hưởng thọ 78)

Delhi

19 Tập tin:Akbar Shah II of India.jpg Akbar Shah II

Bản mẫu:Uninastaliq

Muin al-Din Muhammad

Bản mẫu:Uninastaliq Hoàng đế bù nhìn của Công ty Đông Ấn Anh

22 tháng 4 1760

Mukundpur

19 tháng 11 1806 – 28 tháng 9 1837 28 tháng 9 1837 (hưởng thọ 77)

Delhi

20 Tập tin:Bahadur Shah II of India.jpg Bahadur Shah II Zafar

Bản mẫu:Uninastaliq

Abu Zafar Siraj al-Din Muhammad

Bản mẫu:Uninastaliq

24 tháng 10 1775

Delhi

28 tháng 9 1837 – 21 tháng 9 1857 7 tháng 11 1862 (hưởng thọ 87)

Rangoon

Hình ảnh

Tập tin:Mughal Historical Map.png
Bản đồ phạm vi thống trị của đế quốc Mogul
Xu bạc: 1 Rupee của Đế quốc Mogul đúc dưới thời Hoàng đế Shah Alam II - 1792
Xu bạc: 1 Rupee của Đế quốc Mogul đúc dưới thời Hoàng đế Shah Alam II - 1792

Chú thích

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ "The Mughal Empire"
  2. ^ John F Richards, The Mughal Empire, Vol I.5 of the New Cambridge History of India, Cambridge University Press, 1996
  3. ^ a ă â b c d đ e ê g h i Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  4. ^ Gérard Chaliand, A Global History of War: From Assyria to the Twenty-First Century, University of California Press, California 2014, p. 151
  5. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  6. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  7. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “citation/CS1”.
  8. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  9. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  10. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  11. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  12. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  13. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  14. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  15. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  16. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  17. ^ Dara Shikoh Bản mẫu:Webarchive Medieval Islamic Civilization: An Encyclopedia, by Josef W. Meri, Jere L Bacharach. Routledge, 2005. ISBN 0-415-96690-6Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check isxn”.. pp. 195–196.
  18. ^ Bản mẫu:EI3
  19. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  20. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  21. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  22. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  23. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  24. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  25. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  26. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  27. ^ Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  28. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  29. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  30. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  31. ^ a ă â Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “citation/CS1”.
  32. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  33. ^ a ă â Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  34. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  35. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  36. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  37. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  38. ^ Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  39. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  40. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  41. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  42. ^ a ă â b c d đ e Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  43. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  44. ^ Jeffrey G. Williamson & David Clingingsmith, India's Deindustrialization in the 18th and 19th Centuries Bản mẫu:Webarchive, Global Economic History Network, London School of Economics
  45. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  46. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  47. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Stein2010-3
  48. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên AsherTalbot2006-1
  49. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Stein2010-4
  50. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên AsherTalbot2006-3
  51. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  52. ^ a ă â Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  53. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  54. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  55. ^ Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  56. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  57. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  58. ^ Irfan Habib (2011), Economic History of Medieval India, 1200–1500, p. 53 Bản mẫu:Webarchive, Pearson Education
  59. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  60. ^ Om Prakash, "Empire, Mughal Bản mẫu:Webarchive", History of World Trade Since 1450, edited by John J. McCusker, vol. 1, Macmillan Reference US, 2006, pp. 237–240, World History in Context. Retrieved 3 August 2017
  61. ^ a ă â b c d Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  62. ^ a ă â Jean-Noël Biraben, 1980, "An Essay Concerning Mankind's Evolution", Population, Selected Papers, Vol. 4, pp. 1–13
  63. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  64. ^ Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  65. ^ a ă â b Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  66. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  67. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  68. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  69. ^ Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  70. ^ Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  71. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  72. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  73. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  74. ^ Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  75. ^ Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  76. ^ Bản mẫu:Cite AV media
  77. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  78. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Nguồn

  • Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  • Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Navbox Bản mẫu:Navbox Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Authority control”.

-->