Bước tới nội dung

Đinh Xuân Lưu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đinh Xuân Lưu
Chức vụ
Nhiệm kỳ2009 – 2012
Tiền nhiệm(Đại sứ đầu tiên)
Kế nhiệmTạ Duy Chính
Vị tríIsrael
Vụ trưởng Vụ Tây Á – châu Phi
Nhiệm kỳ2006 – 2009
Tiền nhiệmHà Huy Thông
Vị tríBộ Ngoại giao Việt Nam
Nhiệm kỳ2002 – 2006
Tiền nhiệmTạ Minh Châu
Kế nhiệmNguyễn Văn Xương
Vị tríBa Lan
Vụ trưởng Vụ Lễ tân
Vị tríBộ Ngoại giao Việt Nam
Thông tin cá nhân
Quốc tịch Việt Nam
Nghề nghiệpNhà ngoại giao
Đảng chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam
VợTrương Phương Hồng[1]
Quê quánNho Quan, Ninh Bình[2]

Đinh Xuân Lưu là nhà ngoại giao Việt Nam, ông từng là Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam tại Ba Lan, IsraelLiban.[3]

Tiểu sử

Đinh Xuân Lưu là một trong những cán bộ được cử đi du học lại Liên Xô.[4]

Đầu thập niên 2000, Đinh Xuân Lưu là Vụ trưởng Vụ Lễ tân, Bộ Ngoại giao Việt Nam.[5][4] Từ năm 2002 đến 2006, ông là Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam tại Ba Lan. Năm 2004, Đinh Xuân Lưu được nhận huy chương danh dự 10 năm thành lập Câu lạc bộ Doanh nghiệp Katowice, ông là đại sứ đầu tiên nhận được huy chương này của Câu lạc bộ.[6]

Sau khi hết nhiệm kỳ tại Ba Lan, ông về nước làm Vụ trưởng Vụ Tây Á – Phi Châu.[7][8] Từ năm 2009 đến 2012, ông chính thức làm Đại sứ đầu tiên của VIệt Nam tại nhà nước Israel.[9][10]

Tháng 4 năm 2013, ông được phong hàm Đại sứ.[11] Tháng 1 năm 2014, ông được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì.[12]

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ Golan, Silvia; Calderon, Bilha (ngày 3 tháng 9 năm 2012). "67th Anniversary of the Socialist Republic of Vietnam". The World of Diplome in Israel. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2025.
  2. ^ "Quá trình xây dựng và phát triển". Trường THPT Nho Quan B. ngày 8 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2025.
  3. ^ Nguyễn Xuân Nhung (ngày 29 tháng 12 năm 2020). "70 năm quan hệ ngoại giao giữa Ba Lan và Việt Nam cùng với các nhiệm kỳ Đại sứ Việt Nam tại Ba Lan". Quê Việt điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2025.
  4. ^ a b Nguyễn Kim Nga; Cù Thúy Lan; Hoàng Thu Quỳnh (2015). Bộ Ngoại giao: 70 năm xây dựng và phát triển (1945-2015). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. tr. 421, 431.
  5. ^ Phương Đăng (ngày 8 tháng 9 năm 2023). "Dấu ấn đặc biệt trong những chuyến thăm của các tổng thống Mỹ tới Việt Nam". Dân Việt. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2025.
  6. ^ T.V. Nguyên (ngày 11 tháng 2 năm 2004). "Đại sứ VN tại Ba Lan nhận huân chương danh dự Katowice". Tuổi Trẻ Online. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2025.
  7. ^ Cẩm Hà (ngày 30 tháng 4 năm 2007). "Bước vào thị trường Trung Đông, châu Phi". TUOI TRE ONLINE. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2025.
  8. ^ "Đoàn công tác Bộ Ngoại giao thăm và làm việc tại Phú Thọ". Báo và Phát thanh, Truyền hình Phú Thọ. ngày 15 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2025.
  9. ^ Thanh Bình (ngày 12 tháng 5 năm 2025). "Mối liên hệ đặc biệt giữa Bác Hồ và Thủ tướng đầu tiên của Israel Ben Gurion". Thông tấn xã Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2025.
  10. ^ Hiếu Thảo (ngày 8 tháng 7 năm 2013). "Bí kíp dạy con theo kiểu Do Thái". Báo điện tử Tiền Phong. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2025.
  11. ^ "Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao quyết định phong hàm Đại sứ cho 35 cán bộ ngoại giao". Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh. ngày 3 tháng 4 năm 2013.
  12. ^ Tuấn Anh (ngày 24 tháng 1 năm 2014). "Bộ Ngoại giao trao tặng Huân chương và gặp mặt Xuân 2014 các cán bộ hưu trí". Báo Thế giới và Việt Nam. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2026.