Đoan Tĩnh Quý phi
| Đoan Tĩnh Quý phi 端静貴妃 | |||||
|---|---|---|---|---|---|
| Minh Tuyên Tông Quý phi | |||||
| Quý phi Đại Minh (truy phong) | |||||
| Truy phong | 28 tháng 3 năm 1435 | ||||
| Thông tin chung | |||||
| Mất | 1435 Tử Cấm Thành, Bắc Kinh | ||||
| An táng | Minh Cảnh Lăng (明景陵), Minh Thập Tam lăng | ||||
| Phu quân | Minh Tuyên Tông Chu Chiêm Cơ | ||||
| |||||
| Tước hiệu | Huệ phi (惠妃) Quý phi (賢妃) (truy phong) | ||||
| Hoàng tộc | Nhà Minh | ||||
| Thân phụ | Hà Công[1] | ||||
Đoan Tĩnh Quý phi Hà thị (chữ Hán: 端静贵妃何氏; ? - 1435), cũng được gọi là Hà Quý phi (何贵妃) hay Tuyên Tông Huệ phi (宣宗惠妃). Là một phi tần của Minh Tuyên Tông Chu Chiêm Cơ trong lịch sử Trung Quốc.
Tiểu sử
Nhập cung
Đoan Tĩnh Quý phi xuất thân Hà thị (何氏), không rõ ngày tháng năm sinh và cha mẹ của Hà thị, hiện tài vẫn cần được khảo chứng thêm. Vào ngày mùng 8 tháng 7 năm Hồng Hi nguyên niên (1425), Hoàng thái tử Chu Chiêm Cơ vừa lên ngôi đã bổ nhiệm Thái tử Thái bảo kiêm Dương Vũ hầu Tiết Lục (薛祿) làm Chính sứ, Thái tử Thái bảo kiêm Lễ bộ Thượng thư Lữ Chấn (呂震) làm Phó sứ, mang theo cờ tiết để sắc phong Hà thị làm Huệ phi (惠妃), sách văn giống với sách văn của Thục phi Lưu thị[2].
Sách văn viết:
| “ |
「朕惟政教之施,由內以達外;王化之被,自家以及邦。茲肇建於中宮,宜敘升於賢德。爾何氏,端一靖茌,肅雍柔惠,詩書圖史,佩明訓以周旋,琚瑀珩璜,謹容儀於動履。選自名族,嬪予春宮,遂關雎樂得之心,有鷄鳴儆戒之益。爰加禕翟,俾貳軒龍,特封爾為惠妃。於戲!朕惟篤君道,爾尚謹於相成;后以表母儀,爾尚謹於輔佐。惟順以裕德,惟善以榮身,誠敬以相禋祀,謙厚以睦宗族。永光寵祿,益懋徽音,欽哉。」 . "Trẫm nghĩ chính giáo ban bố, từ trong mà đạt ra ngoài; vương hóa che chở, từ nhà mà đến quốc gia. Nay bắt đầu thiết lập nơi Trung cung, nên xếp thứ bậc theo hiền đức. Nàng Hà thị, đoan một tĩnh chí, túc ung nhu huệ, thi thư đồ sử, bội minh huấn để chu toàn, cư vũ hành hoàng, cẩn dung nghi tại động lý. Tuyển từ danh tộc, làm tần nơi Xuân cung, thỏa lòng vui được người hiền của quẻ Quan Thư, có cái ích răn đe của tiếng gà gáy. Nay ban y phục Huy Địch, xếp hàng thứ hai nơi hiên long, đặc phong nàng làm Huệ phi. Ôi! Trẫm chú trọng đạo làm vua, nàng hãy cẩn trọng để cùng thành toàn; Hoàng hậu để biểu thị mẫu nghi, nàng hãy cẩn trọng để phò tá. Hãy thuận để rộng đức, hãy thiện để rạng thân, thành kính để cùng lo tế tự, khiêm hậu để hòa mục tông tộc. Mãi hưởng sủng lộc, ngày càng tiến bộ tiếng thơm, khâm thử." |
” |
| — Sách văn Huệ phi Hà thị | ||
Từ chiếu thư sắc phong có thể biết Hà thị đã bắt đầu hầu hạ Minh Tuyên Tông từ khi ông còn là Thái tử, phẩm hạnh đoan chính chuyên nhất, tính tình ôn hòa nhân huệ, hơn nữa còn thông thuộc thi thư đồ sử, tuân theo minh huấn để xử sự chu toàn, cử chỉ thận trọng hợp lễ, do đó được sắc phong làm Huệ phi.
Tuẫn táng
Vào ngày mùng 3 tháng Giêng năm Tuyên Đức thứ 10 (1435), Minh Tuyên Tông băng hà. Ngày 28 tháng 3 cùng năm, Minh Anh Tông Chu Kỳ Trấn vừa lên ngôi đã truy tặng các hoàng thứ mẫu bao gồm: Huệ phi Hà thị làm Quý phi, Triệu thị làm Hiền phi, Ngô thị làm Huệ phi, Tiêu thị làm Thục phi, Tào thị làm Kính phi, Từ thị làm Thuận phi, Viên thị làm Lệ phi, Chư thị làm Cung phi, Lý thị làm Sung phi, Hà thị làm Thành phi. Sách thụy viết rằng: "Tư ủy thân nhi đạp nghĩa, tùy long ngự dĩ thượng tân, nghi tiến huy xưng, dụng chương tiết hành"[3]. Qua đó có thể biết, Hà Huệ phi sau khi tuẫn táng đã được Minh Anh Tông truy tặng làm Đoan Tĩnh Quý phi (端静贵妃)[4].
Cái chết
Nguyên nhân cái chết của Hà Quý phi không rõ ràng, nhưng có khả năng là bị thắt cổ chết. Theo ghi chép trong Triều Tiên Vương triều Thực lục, sau khi Minh Thành Tổ Chu Đệ băng hà, ban đầu triều đình ban thức ăn cho hơn ba mươi cung nhân tùy táng ở trong sân, sau đó đưa họ vào điện đường, để họ đứng trên những chiếc giường gỗ nhỏ, đưa đầu vào vòng thừng, rồi sau đó rút chiếc giường gỗ ra để họ thắt cổ chết[5].
Ngoài ra, cuốn Vạn Thự Tạp Ký (宛署雜記) có chép: "Vinh Tư Hiền phi Ngô thị táng tại Kim Sơn, Cảnh Lăng phi thất, dư câu tòng táng"[6]. Cuốn Thái Thường Tục Khảo (太常續考) do các quan thuộc Thái Thường tự biên soạn vào năm Sùng Trinh ghi lại: "Cảnh Lăng bát phi, Vinh Tư Hiền phi Ngô thị, nhị phi, tam phi, tứ phi, ngũ phi, lục phi, thất phi, bát phi, câu vô thụy hiệu, tính thị, thất vị tòng táng, nhất táng Kim Sơn"[7]. Tuy nhiên, số người tòng táng thực tế có mười vị phi[8].
Trong văn hoá đại chúng
| Năm | Phim ảnh | Diễn viên | Nhân vật |
| 2022 | Thượng thực | Khải Tuyền | Huệ phi Hà thị |
Tham khảo
- ^ Trong tiếng Trung "Công" là chỉ người đàn ông, thường dùng cho những người đàn ông không rõ tên
- ^ Minh Tuyên Tông Chương Hoàng Đế Thực Lục, quyển 3, mục ngày Ất Hợi, tháng 7 năm Hồng Hi thứ nhất. (Bằng tiếng Trung) 《明英宗睿皇帝实录》,卷三,宣德十年三月庚子条。
- ^ Minh Anh Tông Duệ Hoàng Đế Thực Lục, quyển 3, mục ngày Canh Tử, tháng 3 năm Tuyên Đức thứ mười. (Bằng tiếng Trung) 《明英宗睿皇帝实录》,卷三,宣德十年三月庚子条。
- ^ Hoàng Nãi Côn, Nghiên cứu hoàng thất nhà Minh, trang 97-98, Luận văn Thạc sĩ Triết học Đại học Hồng Kông, năm 1997. (Bằng tiếng Trung) 黄迺锟《明代皇室研究》,第97-98页,香港大学哲学硕士论文,1997年。
- ^ Triều Tiên Vương Triều Thực Lục · Thế Tông Thực Lục, quyển 26, mục ngày Mậu Ngọ, tháng 10 năm Thế Tông thứ sáu, bản Thái Bạch Sơn Sử Kho: "Đến khi Hoàng đế băng hà, cung nhân tuẫn táng hơn ba mươi người. Vào ngày phải chết, đều ban cho thức ăn ở trong sân. Ăn xong, tất cả đều được đưa lên điện đường, tiếng khóc vang động cả điện các. Trên điện đường đặt những chiếc giường gỗ nhỏ, bắt họ đứng lên trên đó, treo thòng lọng ở phía trên, đưa đầu vào trong vòng dây, rồi sau đó rút chiếc giường ra, tất cả đều thắt cổ mà chết". (Bằng tiếng Trung) 《朝鲜王朝实录·世宗实录》,卷二十六,世宗六年十月戊午条,太白山史库本:“及帝之崩,宫人殉葬者,三十馀人,当死之日,皆饷之于庭。饷辍,俱引升堂,哭声震殿阁。堂上置木小床,使立其上,挂绳围于其上,以头纳其中,遂去其床,皆雉经而死”。
- ^ Thẩm Bảng biên soạn, Vạn Thự Tạp Ký, quyển 18, bản khắc năm Vạn Lịch thời nhà Minh. (Bằng tiếng Trung) 沈榜纂《宛署杂记》,卷十八,明万历刻本。
- ^ Thái Thường Tục Khảo, quyển 4, bản Văn Uyển Các Tứ Khố Toàn Thư thời nhà Thanh. (Bằng tiếng Trung) 《太常续考》,卷四,清乾隆文渊阁四库全书本。
- ^ Thuận Thiên Phủ Chí, quyển 26 Địa lý chí tám, bản khắc năm Quang Tự thứ mười hai, in lại năm mươi lăm thời nhà Thanh. (Bằng tiếng Trung) 《顺天府志》,卷二十六地理志八,清光绪十二年刻十五年重印本。