Abdullah Ahmad Badawi
- Đây là một tên người Mã Lai. Theo tập quán Mã Lai, tên gọi hay được sử dụng hơn. Tên gọi của người này là Abdullah.
Abdullah Ahmad Badawi | |
|---|---|
| Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). | |
Abdullah Badawi năm 2006 | |
| Thủ tướng thứ năm của Malaysia | |
| Được vinh danh là Cha đẻ của phát triển nguồn nhân lực Bapa Pembangunan Modal Insan Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). | |
| Nhiệm kỳ 31 tháng 10 năm 2003 – 3 tháng 4 năm 2009 5 năm, 154 ngày | |
| Vua | Sirajuddin Mizan Zainal Abidin |
| Phó Thủ tướng | Najib Razak |
| Tiền nhiệm | Mahathir Mohamad |
| Kế nhiệm | Najib Razak |
| Phó Thủ tướng thứ 8 của Malaysia | |
| Nhiệm kỳ 29 tháng 1 năm 1999 – 31 tháng 10 năm 2003 4 năm, 275 ngày | |
| Thủ tướng | Mahathir Mohamad |
| Vua | Salahuddin Sirajuddin |
| Tiền nhiệm | Anwar Ibrahim |
| Kế nhiệm | Najib Razak |
| Tổng thư ký thứ 22 của Phong trào không liên kết | |
| Nhiệm kỳ 31 tháng 10 năm 2003 – 15 tháng 9 năm 2006 2 năm, 319 ngày | |
| Tiền nhiệm | Mahathir Mohamad |
| Kế nhiệm | Fidel Castro |
| Thông tin cá nhân | |
| Sinh | Abdullah bin Ahmad 26 tháng 11 năm 1939 Bayan Lepas, Penang, Thuộc địa Straits (nay là Malaysia) |
| Mất | 14 tháng 4 năm 2025 (85 tuổi) Titiwangsa, Kuala Lumpur, Malasyia |
| Nơi an nghỉ | Makam Pahlawan, Masjid Negara, Kuala Lumpur |
| Đảng chính trị | Tổ chức Dân tộc Mã Lai Thống nhất |
| Phối ngẫu | Endon Mahmood (1965–2005) Jeanne Abdullah (2007–nay) |
| Con cái | 4 (2 con riêng) |
| Alma mater | Đại học Malaya |
Tun Abdullah bin Haji Ahmad Badawi (Jawi: Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; sinh ngày 26 tháng 11 năm 1939 – 14 tháng 4 năm 2025) là một nhà chính trị người Mã Lai từng là Thủ tướng Malaysia giai đoạn 2003-2009. Ông cũng từng là Chủ tịch Tổ chức Dân tộc Mã Lai Thống nhất (UMNO) và thủ lĩnh của liên minh Mặt trận Dân tộc (BN) trong Quốc hội Malaysia.
Abdullah sinh ra trong một gia đình họ Badawi làm chính trị và hoạt động tôn giáo ở bang Penang. Ngay sau khi tốt nghiệp, ông gia nhập UMNO. Ông từng giữ cương vị Ngoại trưởng. Năm 1999, ông trở thành Phó Thủ tướng trong chính quyền của Thủ tướng Mahathir Mohamad. Abdullah trở thành Thủ tướng Malaysia sau khi Mahathir từ chức vào năm 2003. Năm sau, trong cuộc tổng tuyển cử, ông giành thắng lợi quyết định. Đến cuộc tổng tuyển cử năm 2008, BN chỉ còn giành 63% tổng số ghế trong Quốc hội, thấp nhất kể từ khi Malaysia độc lập. Chiến thắng không thuyết phục này dù vẫn khiến Abdullah tiếp tục làm Thủ tướng, nhưng trách nhiệm của ông đối với UMNO và BN bắt đầu trở thành đề tài nóng bỏng. Thêm vào đó, từ khoảng năm 2005, quan hệ của Abdullah với người tiền nhiệm Mahathir và người phó của mình là Najib Razak xấu dần đi. Đây là những nguyên nhân dẫn đến việc Abdullah quyết định rút lui. Ý định này được ông công bố từ năm 2008 và thực hiện vào tháng 4 năm 2009.
Ông được Quốc vương Malaysia phong tước Tun năm 2009.

Ông qua đời do Hội chứng rối loạn chức năng đa cơ quan vào ngày 14 tháng 4 năm 2025 ở tuổi 85.[1][2][3][4][5]
Tranh cãi & chỉ trích
Abdullah đã gây ra tranh cãi vào tháng 12 năm 2006 khi ông đến Úc để mở một nhà hàng trong trận lũ lụt.[6]
Tham khảo
- ^ "Malaysia's former Prime Minister Abdullah Ahmad Badawi dies, aged 85". CNA. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2025.
- ^ "Pak Lah to be laid to rest in Warriors' Mausoleum". Free Malaysia Today. ngày 14 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2025.
- ^ "Former PM Abdullah Ahmad Badawi passes away". The Star. ngày 14 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2025.
- ^ "Khairy: Pak Lah is suffering from dementia". New Straits Times. ngày 11 tháng 9 năm 2022.
- ^ "Former Malaysian leader Abdullah Ahmad Badawi, who extended political freedoms, dies at 85". AP News. ngày 14 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2025.
- ^ Yi, Beh Lih (ngày 10 tháng 1 năm 2007). "Premier treatment for Perth restaurant". Malaysiakini.