Bản mẫu:About Bản mẫu:Infobox settlement Ahmedabad (tiếng Gujarat: Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “IPA”., Amdāvād; phát âm tiếng Anh: Bản mẫu:IPAc-en[1]) là thành phố đông dân nhất tại bang Gujarat của Ấn Độ. Thành phố là trụ sở hành chính của huyện Ahmedabad và có trụ sở của Tòa án Cấp cao Gujarat. Dân số Ahmedabad đạt 5.570.585 người (2011), là thành phố đông dân thứ năm tại Ấn Độ,[2] dân số vùng kết tụ đô thị ước tính khoảng 6.357.693 người và đứng thứ bảy tại Ấn Độ. Ahmedabad nằm ven bờ sông Sabarmati,[3] nằm cách thủ phủ bang Gujarat là Gandhinagar chỉ Bản mẫu:Convert[4] hai thành phố do vậy được gọi là thành phố song sinh.[5]

Ahmedabad gần đây nổi lên thành một trung tâm kinh tế và công nghiệp quan trọng của Ấn Độ. Thành phố là nơi sản xuất bông lớn thứ hai tại Ấn Độ, được mệnh danh là 'Manchester của Ấn Độ'. Sân vận động Narendra Modi là sân vận động có sức chứa lớn nhất thế giới khi khánh thành vào năm 2020. Tác động từ việc tự do hóa nền kinh tế Ấn Độ giúp thành phố hướng tới các hoạt động như thương mại, truyền thông và xây dựng.[6] Dân số Ahmedabad ngày càng tăng khiến lĩnh vực xây dựng và nhà ở tăng trưởng, các tòa nhà chọc trời được xây dựng.[7]

Năm 2010, Ahmedabad được xếp hạng thứ ba trong danh sách các thành phố phát triển nhanh nhất thập niên của Forbes.[8] Năm 2020, Ahmedabad được xếp hạng là thành phố tốt thứ ba để sinh sống tại Ấn Độ.[9] Vào tháng 7 năm 2022, Tạp chí Time đưa Ahmedabad vào danh sách 50 địa điểm tuyệt vời nhất thế giới năm 2022.[10] Vào tháng 7 năm 2017, Thành phố lịch sử Ahmedabad được công nhận là thành phố di sản thế giới UNESCO.[11]

Từ nguyên

Dựa trên các di vật được tìm thấy tại một số nơi trong khu thành phố cổ và trong các văn bản của sử gia Ba Tư al-Biruni, có phỏng đoán rằng ban đầu khu vực có một khu định cư mang tên là Ashaval của nhóm bộ lạc Bhil.Bản mẫu:SfnBản mẫu:Sfn

Theo học giả Merutunga, Quốc vương Karna (trị vì 1064–1092) của Chaulukya (Solanki) có thủ đô tại Anhilvada (Patan) đã phát động một chiến dịch quân sự thành công chống lại Ashaval, và thành lập một thành phố gần đó mang tên là Karnavati.Bản mẫu:Sfn Không biết rõ ràng vị trí của Karnavati.Bản mẫu:Sfn Các tài liệu tham khảo từ thế kỷ 14 và 15 đề cập đến Ashaval nhưng không đề cập đến Karnavati.Bản mẫu:Sfn

Ahmad Shah I của Vương quốc Hồi giáo Gujarat chuyển thủ đô từ Anhilvada đến Ashaval vào năm 1411; thành phố sau đó được đổi tên thành Ahmedabad theo tên của vị sultan này.Bản mẫu:Sfn

Lịch sử

Lịch sử sơ khởi

Khu vực xung quanh Ahmedabad có một khu định cư từ thế kỷ 11 mang tên là Ashaval.[12] Quốc vương Karna của Chaulukya (Solanki) có thủ đô tại Anhilwara (Patan hiện nay) đã tiến hành một cuộc chiến thành công chống lại Quốc vương Bhil của Ashaval,[13] và thành lập một thành phố tên là Karnavati bên bờ sông Sabarmati.[14] Đến thế kỷ 13, Gujarat nằm dưới quyền kiểm soát của Vương triều Vaghela có thủ đô tại Dholka. Gujarat sau đó nằm dưới quyền kiểm soát của Vương quốc Hồi giáo Delhi vào thế kỷ 14. Tuy nhiên, đến đầu thế kỷ 15, thống đốc Hồi giáo địa phương là Zafar Khan Muzaffar độc lập khỏi Vương quốc Hồi giáo Delhi, và tự phong làm Sultan của Gujarat với hiệu là Muzaffar Shah I, sáng lập Vương triều Muzaffar.[15][16][17] Năm 1411, Sultan Ahmed Shah chọn khu vực có rừng ven bờ sông Sabarmati làm thủ đô mới. Ông đặt nền móng cho một thành phố mới có tường bao quanh nằm gần Karnavati, và đặt tên là Ahmedabad dựa theo tên ông.[18] Theo các phiên bản khác, ông đặt tên thành phố theo tên của bốn vị thánh Hồi giáo trong khu vực, tất cả đều có tên là Ahmed.[19] Ahmed Shah I đặt nền móng của thành phố vào ngày 26 tháng 2 năm 1411[20] (lúc 1.20 chiều, thứ 5, ngày thứ hai tháng Dhu al-Qi'dah, năm Hijri thứ 813[21]) tại Manek Burj. Manek Burj được đặt theo tên của vị thánh Ấn Độ giáo thế kỷ 15 là Maneknath, người này từng giúp Ahmed Shah I xây dựng Pháo đài Bhadra vào năm 1411.[18][22][23][24] Ahmed Shah I chọn nơi này làm thủ đô mới vào ngày 4 tháng 3 năm 1411.[25]

 
Tường thành Ahmedabad, 1866

Năm 1487, cháu nội của Ahmed Shah là Mahmud Begada cho xây dựng một bức tường bên ngoài có chu vi Bản mẫu:Convert để củng cố phòng thủ thành phố, bao gồm mười hai cổng, 189 góc đặt pháo và hơn 6.000 lỗ châu mai.[26] Năm 1535 Humayun chiếm đóng Ahmedabad một thời gian ngắn sau khi chiếm được Champaner, trong khi người cai trị Gujarat là Bahadur Shah phải chạy trốn đến Diu.[27] Vương triều Muzaffar sau đó tái chiếm Ahmedabad, nhưng Đế quốc Mughal chinh phục Gujarat vào năm 1573. Dưới thời Mughal, Ahmedabad trở thành một trong những trung tâm thương mại thịnh vượng của Đế quốc, chủ yếu là hàng dệt và mặt hàng này được xuất khẩu tới tận châu Âu. Hoàng đế Shah Jahan của Mughal dành phần lớn cuộc đời ông tại thành phố, từng tài trợ xây dựng cung điện Moti Shahi Mahal tại Shahibaug. Thành phố chịu ảnh hưởng từ nạn đói Deccan 1630–1632, cùng nạn đói năm 1650 và 1686.[28] Ahmedabad duy trì vị thế là thủ phủ cấp tỉnh của Mughal cho đến năm 1758, khi thành phố rơi vào tay Đế quốc Maratha.[29]

Lịch sử hiện đại

Trong thời Maratha, thành phố trở thành trung tâm trong cuộc xung đột giữa thế lực Peshwa từ Poona và thế lực Gaekwad từ Baroda.[30] Năm 1780, trong Chiến tranh Anh-Maratha lần thứ nhất, quân Anh dưới quyền James Hartley chiếm được Ahmedabad, nhưng trao lại thành phố cho Maratha vào cuối cuộc chiến. Công ty Đông Ấn Anh tiếp quản thành phố vào năm 1818 trong Chiến tranh Anh-Maratha lần thứ ba.[19] Người Anh thành lập doanh trại vào năm 1824 và chính quyền đô thị vào năm 1858.[19] Ahmedabad được hợp nhất vào tỉnh Bombay trong thời Anh cai trị, trở thành một trong những thành phố quan trọng nhất của vùng Gujarat. Năm 1864, Đường sắt Bombay, Baroda và Trung Ấn (BB&CI) cho xây dựng tuyến đường sắt nối giữa Ahmedabad và Mumbai (khi đó là Bombay), nhờ vậy giao thông và thương mại giữa miền bắcmiền nam Ấn Độ đi qua thành phố.[19] Theo thời gian, thành phố trở thành một trung tâm về ngành dệt may, nên có biệt danh là "Manchester của phương Đông".[31]

 
Ahmedabad và vùng phụ cận, khoảng năm 1914

Phong trào độc lập Ấn Độ bắt nguồn từ Ahmedabad khi Mahatma Gandhi thành lập hai ashram (ẩn thất) – Kochrab Ashram gần Paldi vào năm 1915 và Satyagraha Ashram (nay là Sabarmati Ashram) trên bờ sông Sabarmati vào năm 1917 –về sau chúng trở thành trung tâm của các hoạt động dân tộc chủ nghĩa.[19][32] Trong các cuộc biểu tình rầm rộ chống lại Đạo luật Rowlatt vào năm 1919, các công nhân dệt may tại Ahmedabad đốt cháy 51 tòa nhà chính phủ trên khắp thành phố để phản đối người Anh có ý định kéo dài các quy định thời chiến sau khi Thế giới thứ nhất kết thúc. Vào thập niên 1920, công nhân dệt may và giáo viên từng tiến hành đình công, đòi các quyền dân sự, cũng như mức lương và điều kiện làm việc tốt hơn. Năm 1930, Gandhi khởi xướng Tuần hành Muối từ Ahmedabad tại ashram của ông. Các thể chế quản lý và kinh tế của thành phố bị vô hiệu hoá vào đầu thập niên 1930 do nhiều người dân xuống đường biểu tình ôn hòa, và tình hình tái diễn vào năm 1942 trong Phong trào Rời khỏi Ấn Độ.

Hậu độc lập

Sau khi Ấn Độ độc lập và bị phân chia vào năm 1947, thành phố bị tàn phá do bạo lực giữa các cộng đồng Ấn Độ giáo và Hồi giáo. Một bộ phận người Ấn Độ giáo di cư từ Pakistan đến định cư tại Ahmedabad,[33] khiến dân số thành phố tăng lên gấp đôi, và họ cũng biến đổi nhân khẩu học và nền kinh tế địa phương.

Đến năm 1960, Ahmedabad trở thành một đô thị có gần nửa triệu dân, có các tòa nhà theo phong cách châu Âu cổ điển và thuộc địa nằm dọc các đại lộ.[34] Thành phố được chọn làm thủ phủ của bang Gujarat sau khi bang Bombay bị phân chia vào ngày 1 tháng 5 năm 1960.[35] Một số lượng lớn các cơ sở giáo dục và nghiên cứu được thành lập trong thành phố vào giai đoạn này, biến nơi đây thành một trung tâm giáo dục đại học, khoa học và công nghệ.[36] Nền tảng kinh tế của Ahmedabad trở nên đa dạng hơn do các ngành công nghiệp nặng và hóa chất được hình thành trong cùng thời kỳ. Nhiều quốc gia đã tìm cách mô phỏng chiến lược lập kế hoạch kinh tế của Ấn Độ, và Hàn Quốc đã sao chép "Kế hoạch 5 năm" thứ hai của Ahmedabad.[37] Ahmedabad có những phát triển lớn về sản xuất và cơ sở hạ tầng sau khi độc lập.[38][39]

 
Sabarmati Ashram do Mahatma Gandhi thành lập

Vào cuối thập niên 1970, thủ phủ bang Gujarat chuyển đến thành phố Gandhinagar mới được xây dựng. Sự kiện này khởi đầu một thời kỳ suy thoái kéo dài tại Ahmedabad, thành phố thiếu vắng các phát triển. Cuộc khích động Navnirman năm 1974 nhằm phản đối tăng tiền ăn trong một ký túc xá tại Ahmedabad, góp phần vào phong trào loại bỏ thủ hiến Chimanbhai Patel.[40] Vào thập niên 1980, chính sách dành riêng chỗ cho các nhóm lạc hậu được áp dụng tại Ấn Độ, dẫn đến các cuộc biểu tình vào năm 1981 và 1985. Trong các cuộc biểu tình này đã xảy ra đụng độ bạo lực giữa những người thuộc các đẳng cấp khác nhau.[41] Thành phố chịu nhiều ảnh hưởng trong động đất Gujarat 2001; hơn 50 tòa nhà cao tầng bị đổ sập, khiến 752 người thiệt mạng và gây nhiều thiệt hại.[42] Năm sau, bạo lực kéo dài ba ngày giữa tín đồ Ấn Độ giáo và Hồi giáo trong bang Gujarat lan đến Ahmedabad; có 69 người thiệt mạng ở phía đông Chamanpura trong vụ thảm sát Hiệp hội Gulbarg vào ngày 28 tháng 2 năm 2002.[43] Các trại tị nạn được dựng lên quanh thành phố, là nơi trú ẩn cho 50.000 người Hồi giáo.[44]

Một loạt 17 vụ nổ bom xảy ra tại Ahmedabad vào năm 2008, khiến nhiều người chết và bị thương.[45] Nhóm khủng bố Harkat-ul-Jihad nhận trách nhiệm về các vụ tấn công.[46]

Địa lý

 
Bản đồ Ahmedabad bằng vải sơn vào thế kỷ 19

Ahmedabad nằm tại Tây Ấn Độ, có độ cao 53 m (174 ft) trên mực nước biển, bên bờ sông Sabarmati thuộc phần bắc-trung của bang Gujarat. Thành phố có diện tích Bản mẫu:Convert.[47][48] Sông Sabarmati thường xuyên khô cạn vào mùa hè, bị thu nhỏ thành một dòng nước nhỏ, và thành phố nằm trong vùng đất cát và khô. Tuy nhiên, nhờ thực hiện Dự án và Kè bờ sông Sabarmati, nước từ sông Narmada được chuyển sang sông Sabarmati nhằm giữ cho sông này chảy quanh năm, nhờ đó loại bỏ các vấn đề về nước tại Ahmedabad. Đầm lầy mặn Rann xứ Kutch mở rộng đều đặn, gây nguy cơ làm tăng tình trạng hoang mạc hóa khu vực xung quanh thành phố và phần lớn bang. Tuy nhiên, mạng lưới kênh đào Narmada được kỳ vọng sẽ giảm bớt vấn đề này. Thành phố gần như bằng phẳng, ngoại trừ những ngọn đồi nhỏ thuộc Thaltej-Jodhpur Tekra. Ba hồ nằm trong địa giới của thành phố là Kankaria, Vastrapur và Chandola. Hồ Kankaria nằm tại khu phố Maninagar, là một hồ nhân tạo do Quốc vương Gujarat Qutb-ud-din cho xây dựng vào năm 1451.[49]

Theo Cục Tiêu chuẩn Ấn Độ, đô thị nằm trong vùng địa chấn 3, trong thang điểm từ 2 đến 5 (theo thứ tự tăng khả năng dễ bị tổn thương trước động đất).[50]

Sông Sabarmati chia Ahmedabad thành hai khu vực phía đông và phía tây riêng biệt. Bờ phía đông của sông có thành phố cổ, bao gồm khu trung tâm Bhadra. Phần này của Ahmedabad có đặc trưng là các khu chợ đông đúc, hệ thống pol gồm các cụm tòa nhà nằm sát nhau, và nhiều nơi thờ tự.[51] Pol là một cụm nhà ở bao gồm nhiều gia đình thuộc một nhóm cụ thể theo đẳng cấp, nghề nghiệp hoặc tôn giáo.[52][53] Tổng thư ký của Trung tâm EuroIndia trích dẫn rằng nếu 12.000 nhà phố tại Ahmedabad được khôi phục thì chúng có thể rất hữu ích trong việc thúc đẩy du lịch di sản và các hoạt động kinh doanh liên quan.[54] Khu Thành phố cổ còn có ga đường sắt chính, bưu điện chính, và một số tòa nhà từ thời Muzaffar và Anh. Thành phố được mở rộng về phía tây của sông Sabarmati trong thời kỳ thuộc địa, việc này được tạo thuận lợi nhờ xây dựng cầu Ellis vào năm 1875 (và sau đó là cầu Nehru). Phần phía tây của thành phố có các cơ sở giáo dục, tòa nhà hiện đại, khu dân cư, trung tâm mua sắm, khu phức hợp và khu kinh doanh mới tập trung quanh các con đường như Ashram, C. G. và Sarkhej-Gandhinagar.[55]

Khu bờ sông Sabarmati được phát triển dọc theo bờ sông Sabarmati tại Ahmedabad. Dự án được đề xuất vào thập niên 1960, việc xây dựng bắt đầu vào năm 2005 và khánh thành vào năm 2012.[56]

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Toàn cảnh”.

Khí hậu

Ahmedabad có khí hậu bán khô hạn nóng (phân loại khí hậu köppen: BSh), có lượng mưa ít hơn một chút so với mức của khí hậu xavan nhiệt đới. Có ba mùa chính: mùa hè, mùa gió mùa và mùa đông. Ngoài mùa gió mùa thì khí hậu cực kỳ khô. Thời tiết nóng kéo dài từ tháng 3 đến tháng 6; nhiệt độ tối đa trung bình trong mùa hè là Bản mẫu:Convert và mức tối thiểu trung bình là Bản mẫu:Convert. Từ tháng 11 đến tháng 2, nhiệt độ tối đa trung bình là Bản mẫu:Convert và nhiệt độ tối thiểu trung bình là Bản mẫu:Convert. Gió lạnh từ phía bắc khiến thời tiết hơi lạnh vào tháng 1. Gió mùa tây nam mang lại khí hậu ẩm ướt từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 9. Lượng mưa trung bình hàng năm vào khoảng Bản mẫu:Convert, nhưng các trận mưa lớn khiến các sông tại địa phương bị ngập lụt, và không hiếm trường hợp xảy ra hạn hán khi gió mùa không mở rộng về phía tây như thường lệ. Nhiệt độ cao nhất trong thành phố được ghi nhận lên tới Bản mẫu:Convert vào ngày 20 tháng 5 năm 2016.[57]

Bản mẫu:Center Sau một sóng nhiệt vào tháng 5 năm 2010, đạt tới Bản mẫu:Convert và khiến hàng trăm người thiệt mạng,[58] Hội đồng đô thị Ahmedabad (AMC) hợp tác với một liên minh quốc tế phát triển Kế hoạch hành động nắng nóng Ahmedabad.[59] Đây là kế hoạch hành động toàn diện đầu tiên tại châu Á nhằm giải quyết mối đe dọa từ nhiệt độ bất lợi đối với sức khỏe.[60]

Cảnh quan

Vào thời kỳ đầu trong lịch sử Ahmedabad, dưới thời Ahmed Shah, những người xây dựng đã kết hợp sự khéo léo của kiến trúc Ấn Độ giáo với kiến trúc Ba Tư, tạo ra phong cách Ấn-Saracen.[61] Nhiều thánh đường Hồi giáo trong thành phố được xây dựng theo kiểu cách này.[61] Thánh đường Hồi giáo Sidi Saiyyed được xây dựng vào năm cuối cùng của Vương quốc Hồi giáo Gujarat. Công trình có mười cửa sổ mắt cáo bằng đá (jali) ở các khung vòm bên và phía sau. Biệt thự tư nhân (haveli) từ thời đại này có các hình chạm khắc.[52] Pol là cụm nhà ở điển hình tại Ahmedabad cổ.

Sau khi Ấn Độ độc lập, các tòa nhà hiện đại xuất hiện tại Ahmedabad. Các kiến trúc sư được ủy nhiệm trong thành phố bao gồm: Louis Kahn thiết kế IIM-A; Le Corbusier thiết kế các villa Shodhan và Sarabhai, Sanskar Kendra và Tòa nhà Hiệp hội Chủ sở hữu Nhà máy; và Frank Lloyd Wright thiết kế tòa nhà điều hành của xưởng Calico và vòm Calico.[62][63] B. V. Doshi từ Paris đến thành phố để giám sát các công trình của Le Corbusier và sau đó thành lập Trường Kiến trúc (nay là CEPT). Các công trình của ông tại địa phương bao gồm Sangath, Amdavad ni Gufa, Nhà tưởng niệm Tagore và Trường Kiến trúc. Charles Correa trở thành đối tác của Doshi, ông thiết kế Gandhi Ashram. Achyut Kanvinde thiết kế khu phức hợp Hiệp hội Nghiên cứu Công nghiệp Dệt may Ahmedabad.[64][65][66] Công trình đầu tiên của Christopher Charles Benninger, Alliance Française nằm tại khu vực cầu Ellis.[67] Anant Raje thiết kế các công trình bổ sung cho khuôn viên IIM-A của Louis Kahn, cụ thể là Thính phòng Ravi Mathai và KLMD.[68]

Một số khu vườn được ghé thăm nhiều nhất trong thành phố là Law Garden, Victoria Garden và Bal Vatika. Law Garden được đặt theo Trường Luật nằm gần đó. Victoria Garden nằm ở rìa phía nam của Pháo đài Bhadra và có tượng Nữ vương Victoria. Bal Vatika là công viên dành cho trẻ em bên hồ Kankaria và có một công viên giải trí. Các khu vườn khác trong thành phố là Parimal Garden, Usmanpura Garden, Prahlad Nagar Garden và Lal Darwaja Garden.[69] Công viên Động vật học Kamla Nehru tại Ahmedabad có một số loài có nguy cơ tuyệt chủng như hồng hạc, linh miêu tai đen, sói lửachinkara.[70]

Hồ Kankaria là một trong những hồ lớn nhất tại Ahmedabad, được xây dựng vào năm 1451.[71] Ban đầu hồ có tên là Qutub Hoj hoặc Hauj-e-Kutub.[72] Hồ Lal Bahadur Shastri tại Bapunagar rộng gần 136.000 m². Năm 2010, 34 hồ khác đã được quy hoạch trong và xung quanh Ahmedabad, trong đó 5 hồ sẽ được AMC phát triển; 29 hồ còn lại sẽ do Cơ quan Phát triển Đô thị Ahmedabad (AUDA) phát triển.[73] Hồ Vastrapur là một hồ nhân tạo nhỏ nằm ở phía tây của Ahmedabad, được chính quyền cho chỉnh trang vào năm 2002, trở thành điểm giải trí nổi tiếng của người dân .[74] Hồ Chandola có diện tích 1.200 ha, là nơi sinh sống của chim cốc, cò sơnchim mỏ thìa.[75] Vào buổi tối, nhiều người ghé thăm địa điểm này để đi dạo.[76] Có một hồ được phát triển tại Naroda,[77] và còn có bộ sưu tập xe cổ lớn nhất thế giới tại Kathwada trong trang trại IB (Dastan Farm).[78] AMC cũng phát triển Khu bờ sông Sabarmati.[79]

Cảnh sát thành phố Ahmedabad lắp đặt máy lọc không khí ngoài trời tại các điểm giao thông để các nhân viên được triển khai có thể hít thở không khí trong lành.[80]

Nhân khẩu

Dân số

Bản mẫu:Historical populations Dân số thành phố tăng 23,43% từ 4.519.000 theo điều tra năm 2001 lên 5.577.940 (2.938.985 nam và 2.638.955 nữ, tỷ lệ giới tính là 898 nữ/1.000 nam) theo điều tra năm 2011. Theo kết quả này Ahmedabad trở thành thành phố đông dân thứ năm tại Ấn Độ.[81][82][83] Vùng kết tụ đô thị bao gồm Ahmedabad có dân số là 6.352.254 người, là vùng kết tụ đô thị đông dân thứ bảy tại Ấn Độ tính đến năm 2011.[82][84] Dân số trẻ em từ 0 đến 6 tuổi là 621.034 (336.063 nam và 284.971 nữ, tỷ số giới tính trẻ em là 848/1.000) vào năm 2011.[81] Thành phố có tỷ lệ biết chữ trung bình là 88,29%, tỷ lệ biết chữ ở nam giới là 92,30% và tỷ lệ biết chữ ở nữ giới là 83,85%.[81]

Theo ước tính vào năm 2023 thì dân số thành phố Ahmedabad là 7.692.000, còn dân số vùng kết tụ đô thị là 8.772.000.[81] Điều tra nhân khẩu Ấn Độ năm 2021 bị trì hoãn đến năm 2024-25.[85]

Nghèo khổ

Vào giữa thập niên 1970 và đầu thập niên 1980, các nhà máy dệt vốn dĩ là trụ cột của nền kinh tế thành phố phải đối mặt với cạnh tranh từ tự động hóa và các máy dệt đặc biệt trong nước. Một số nhà máy đóng cửa, khiến khoảng 40.000 đến 50.000 người mất nguồn thu nhập, và nhiều người chuyển đến các khu dân cư không có giấy tờ ở trung tâm thành phố. Hội đồng đô thị Ahmedabad (AMC) là cơ quan quản lý và hành chính của thành phố, tình trạng này khiến họ mất phần lớn nguồn thu thuế, nhưng nhu cầu dịch vụ ngày càng tăng. Trong thập niên 1990, các ngành công nghiệp mới nổi là dược phẩm, hóa chất và sản xuất ô tô đòi hỏi lao động có tay nghề cao, do vậy nhiều người nhập cư phải làm việc trong khu vực phi chính thức và định cư tại các khu ổ chuột.[86]

Ahmedabad có nhiều nỗ lực nhằm giảm nghèo và cải thiện điều kiện sống của các dân nghèo. Tỷ lệ nghèo thành thị giảm từ 28% trong giai đoạn 1993–1994 xuống còn 10% trong giai đoạn 2011–2012.[86] Điều này một phần là do việc củng cố AMC và quan hệ đối tác với một số tổ chức xã hội dân sự (CSO) đại diện cho dân nghèo. Thông qua các dự án và chương trình, AMC cung cấp các tiện ích và dịch vụ cơ bản cho các khu ổ chuột. Tuy nhiên, vẫn còn một số thách thức, và nhiều người dân chưa được tiếp cận với hệ thống vệ sinh, nước sạch và điện. Các vụ bạo loạn thường bắt nguồn từ căng thẳng tôn giáo, đe dọa sự ổn định của các khu dân cư, và gây ra sự phân chia về không gian giữa các tôn giáo và đẳng cấp.

Tính đến năm 2011, khoảng 66% dân số sống trong các nhà ở chính thức, 34% còn lại sống trong các khu ổ chuột hoặc chawl, là nơi ở dành cho công nhân công nghiệp. Ahmedabad có khoảng 700 khu dân cư ổ chuột, và 11% tổng số nhà ở là nhà ở công cộng. Dân số của Ahmedabad tăng lên trong khi nguồn cung nhà ở nhìn chung không đổi, điều này dẫn đến sự gia tăng mật độ dân số trong nhà ở chính thức và không chính thức, và khiến các khoảng không gian được sử dụng một các kinh tế hơn. Cuộc điều tra nhân khẩu Ấn Độ ước tính rằng dân số khu ổ chuột ở Ahmedabad chiếm 25,6% tổng dân số vào năm 1991, và giảm xuống còn 4,5% vào năm 2011, nhưng những con số này bị tranh chấp, và giới chức địa phương cho rằng cuộc điều tra dân số này đã đánh giá thấp dân số không chính thức. Có đồng thuận rằng tỷ lệ dân số sống trong các khu ổ chuột đã giảm, và điều kiện sống của cư dân khu ổ chuột cũng được cải thiện về tổng thể.[86]Bản mẫu:Update inline

Vào thập niên 1990, AMC phải đối mặt với tình trạng dân số khu ổ chuột ngày càng gia tăng. Họ phát hiện ra rằng người dân sẵn sàng và có khả năng trả tiền để kết nối hợp pháp với hệ thống nước sạch, nước thải và điện. Tuy nhiên, do các vấn đề về quyền sở hữu, họ phải trả giá cao hơn để có các kết nối không chính thức và chất lượng thấp. Nhằm giải quyết vấn đề này, bắt đầu từ năm 1995, AMC hợp tác với các tổ chức xã hội dân sự để thành lập Dự án Mạng lưới khu ổ chuột (SNP) nhằm cải thiện các dịch vụ cơ bản tại 60 khu ổ chuột, mang lại lợi ích cho khoảng 13.000 hộ gia đình.[86] Mục tiêu của chương trình là cung cấp cơ sở hạ tầng (bao gồm cấp nước, cống rãnh, nhà vệ sinh cá nhân, đường trải nhựa, thoát nước mưa và trồng cây) và phát triển cộng đồng (hình thành các hiệp hội cư dân, nhóm phụ nữ, can thiệp sức khỏe cộng đồng và đào tạo nghề).[87] Ngoài ra, các hộ tham gia còn được cấp quyền sử dụng đất trên thực tế tối thiểu là 10 năm. Dự án có tổng chi phí là 4,350 tỷ rupee, AMC chi trả phần lớn cho dự án.[87] Mỗi hộ gia đình trong khu ổ chuột chỉ phải chi trả không quá 12% chi phí nâng cấp nhà của họ.[86]

Dự án này nhìn chung được cho là thành công. Việc tiếp cận các dịch vụ cơ bản giúp làm tăng số giờ làm việc của người dân. Nó cũng làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, đặc biệt là bệnh do nước gây ra, và tăng tỷ lệ trẻ em đến trường.[88] SNP đã nhận được Giải thưởng Quốc tế Dubai UNHABITAT về Thực hiện tốt nhất để cải thiện môi trường sống vào năm 2006.[89] Tuy nhiên, vẫn còn những lo ngại về trách nhiệm và năng lực của cộng đồng trong việc bảo trì cơ sở hạ tầng mới. Ngoài ra, niềm tin bị suy yếu khi AMC phá bỏ hai khu ổ chuột đã được nâng cấp để tạo ra các công viên giải trí.[86]

Tôn giáo và dân tộc

Tôn giáo tại thành phố Ahmedabad (2011)[90]
Tôn giáo Tỷ lệ
Ấn Độ giáo
  
81.56%
Hồi giáo
  
13.51%
Đạo Jain
  
3.62%
Cơ đốc giáo
  
0.85%
Đạo Sikh
  
0.24%
Khác
  
0.24%

Theo điều tra nhân khẩu năm 2011, tín đồ Ấn Độ giáo là cộng đồng tôn giáo chiếm ưu thế trong thành phố khi chiếm 81,56% dân số, tiếp theo là Hồi giáo (13,51%), đạo Jain (3,62%), Cơ đốc giáo (0,85%) và đạo Sikh (0,24%).[90] Còn lại là Phật tử, những người theo tôn giáo khác và những người không theo tôn giáo nào.

Nhóm tôn giáo 1891[96]
Dân số Tỷ lệ
Ấn Độ giáo   102.619 Bản mẫu:Percentage
Hồi giáo   30.946 Bản mẫu:Percentage
Đạo Jain   12.747 Bản mẫu:Percentage
Cơ đốc giáo   1.031 Bản mẫu:Percentage
Hoả giáo   723 Bản mẫu:Percentage
Thuyết vật linh 156 Bản mẫu:Percentage
Do Thái giáo   153 Bản mẫu:Percentage
Khác 37 Bản mẫu:Percentage
Tổng dân số 148.412 Bản mẫu:Percentage

Hành chính

 
Tòa án Cấp cao Gujarat tại Ahmedabad

Ahmedabad là trụ sở hành chính của huyện Ahmedabad, và do Hội đồng đô thị Ahmedabad (Ahmedabad Municipal Corporation, AMC) quản lý. AMC được thành lập vào tháng 7 năm 1950 theo Đạo luật Hội đồng tỉnh Bombay năm 1949. Ủy viên (commissioner) AMC là một viên chức Dịch vụ hành chính Ấn Độ (IAS) do chính quyền bang bổ nhiệm, người này có quyền điều hành hành chính. Thị trưởng Ahmedabad đứng đầu hội đồng. Người dân thành phố bầu ra 192 ủy viên đô thị (municipal councillor) theo phiếu phổ thông, và các ủy viên đô thị này bầu chọn phó thị trưởng và thị trưởng thành phố.[97] Trách nhiệm hành chính của AMC là về cấp thoát nước, giáo dục tiểu học, dịch vụ y tế, dịch vụ cứu hỏa, giao thông công cộng và cơ sở hạ tầng của thành phố.[98] AMC được xếp hạng thứ 9 trong số 21 thành phố về "thực hành quản trị và hành chính tốt nhất tại Ấn Độ năm 2014. Họ đạt 3,4/10 điểm so với mức trung bình quốc gia là 3,3."[99] Ahmedabad ghi nhận hai vụ tai nạn mỗi giờ.[100]

Thành phố được chia thành 7 khu, gồm 48 phường (ward).[101][102] Cơ quan Phát triển Đô thị Ahmedabad (AUDA) quản lý các khu vực đô thị và ngoại ô của thành phố.

  • Thành phố có hai ghế đại biểu trong Lok Sabha (Hạ viện của Quốc hội Ấn Độ) và 21 ghế đại biểu tại Vidhan Sabha (hội đồng lập pháp bang Gujarat).
  • Tòa án Cấp cao Gujarat được đặt tại Ahmedabad, thành phố do vậy là thủ phủ tư pháp của bang Gujarat.[103]
  • Cảnh sát thành phố Ahmedabad duy trì việc thực thi pháp luật và an toàn công cộng, đứng đầu là Ủy viên cảnh sát (Police Commissioner), là một sĩ quan Cảnh sát Ấn Độ (IPS).[104]

Dịch vụ công

  • Bệnh viện dân sự Ahmedabad cung cấp phần lớn dịch vụ y tế trong thành phố, đây là bệnh viện dân sự lớn nhất châu Á.[105]
  • Torrent Power Limited sản xuất và phân phối điện năng, đây là công ty thuộc quyền sở hữu và vận hành của Công ty Điện lực Ahmedabad (từng là một công ty nhà nước).[106] Ahmedabad là một trong số ít thành phố tại Ấn Độ tiến hành tư nhân hoá ngành điện.[107]

Văn hoá

 
Lễ kỷ niệm Navaratri tại Ahmedabad

Ahmedabad có di sản kiến trúc phong phú, các thiết kế nhà ở truyền thống, mô hình khu dân cư định hướng cộng đồng, cấu trúc đô thị, cũng như các nghề thủ công độc đáo và văn hóa buôn bán.[108] Người dân Ahmedabad tổ chức nhiều lễ hội, Uttarayan là một lễ hội thu hoạch, có hoạt động thả diều vào ngày 14 và 15 tháng 1. Navratri được tổ chức trong chín đêm, mọi người biểu diễn điệu múa dân gian Garba nổi tiếng nhất của Gujarat tại các địa điểm trên toàn thành phố. Lễ rước Rath Yatra hàng năm diễn ra vào ngày Ashadh-sud-bij theo lịch Hindu tại đền Jagannath. Các lễ hội như Diwali, Holi, Giáng sinh và Muharram cũng được tổ chức.[109][110]

Ẩm thực

Một trong những món ăn phổ biến nhất tại Ahmedabad là thali kiểu Gujarat, Khách sạn Chandravilas phục vụ thương mại lần đầu tiên bữa ăn này vào năm 1900.[111] Bữa ăn bao gồm roti (chapati), dal, gạo, và Bản mẫu:Transliteration (rau nấu chín, đôi khi với cà ri), đi kèm với dưa chua và papad nướng. Các món ngọt bao gồm laddoo, xoàiBản mẫu:Transliteration. Dhokla, Bản mẫu:TransliterationBản mẫu:Transliteration là những món ăn khác được tiêu thụ nhiều tại Ahmedabad.[112] Các loại đồ uống bao gồm sữa bơ và trà. Uống rượu bị pháp luật cấm tại Ahmedabad vì Gujarat là một bang 'khô'.[113]

Có nhiều nhà hàng phục vụ các món ăn Ấn Độ và quốc tế trong thành phố. Hầu hết các cửa hàng thực phẩm chỉ phục vụ đồ ăn chay, vì thành phố có truyền thống ăn chay mạnh mẽ, được cộng đồng Jain và Hindu địa phương duy trì qua nhiều thế kỷ.[114] Nhà hàng Pizza Hut thuần chay đầu tiên trên thế giới được mở tại Ahmedabad.[115] KFC có đồng phục nhân viên riêng để phục vụ đồ chay, và chuẩn bị đồ chay tại bếp riêng,[116][117] giống như McDonald's.[118][119] Ahmedabad có một số nhà hàng phục vụ các món ăn không chay điển hình của ẩm thực Mughal tại các khu vực lâu đời như Bhatiyar Gali, KalupurJamalpur.[120] Manek Chowk là một quảng trường mở nằm gần trung tâm thành phố, là một chợ rau vào buổi sáng và là chợ trang sức vào buổi chiều. Tuy nhiên, địa điểm này được biết đến nhiều nhất vì có nhiều quầy hàng thực phẩm vào buổi tối, bán các loại thức ăn đường phố của địa phương. Quảng trường được đặt theo tên của vị thánh Ấn Độ giáo Baba Maneknath.[121]

Nghệ thuật và thủ công

Nhiều khu vực của Ahmedabad có nền nghệ thuật dân gian phát triển. Các nghệ nhân trong pol Rangeela làm ra các khăn bandhini nhuộm kiểu tie-dye, trong khi các cửa hàng giày tại Madhupura bán giày mojdi truyền thống (còn gọi là mojri). Các tượng của vị thần Ấn Độ giáo Ganesha và các biểu tượng tôn giáo khác được các nghệ nhân trong khu vực Gulbai Tekra sản xuất với số lượng lớn. Vào năm 2019, nhu cầu về các tượng thần thân thiện với môi trường tăng cao, do nhận thức ngày càng tăng về tác động khi các tượng thần bằng thạch cao truyền thống bị vứt xuống sông Sabarmati.[122] Các cửa hàng tại Law Garden bán đồ gương kính thủ công mỹ nghệ.[69]

 
Đền Swaminarayan, Ahmedabad

Ba tổ chức văn học lớn được thành lập tại Ahmedabad để quảng bá văn học tiếng Gujarat: Gujarat Vidhya Sabha, Gujarati Sahitya Parishad và Gujarat Sahitya Sabha. Lễ hội Trường Âm nhạc Saptak được tổ chức vào tuần đầu tiên của năm mới, từng do Ravi Shankar biểu diễn khai mạc.[123][124]

Sanskar Kendra là một trong nhiều tòa nhà do Le Corbusier thiết kế tại Ahmedabad, đây là bảo tàng trưng bày về lịch sử, nghệ thuật, văn hóa và kiến trúc của thành phố. Gandhi Smarak Sangrahalaya và Công trình tưởng niệm quốc gia Sardar Vallabhbhai Patel trưng bày các bức ảnh, tài liệu và các hiện vật khác liên quan đến các nhà lãnh đạo phong trào độc lập Ấn Độ sinh ra tại Gujarat là Mahatma GandhiSardar Vallabhbhai Patel. Bảo tàng Dệt may Calico có một bộ sưu tập lớn về các loại vải, hàng may mặc và hàng dệt của Ấn Độ và quốc tế.[125] Thư viện Hazrat Pir Mohammad Shah có một bộ sưu tập các bản thảo gốc quý hiếm bằng tiếng Ả Rập, tiếng Ba Tư, tiếng Urdu, tiếng Sindhtiếng Thổ Nhĩ Kỳ.[126] Bảo tàng Dụng cụ Vechaar trưng bày các dụng cụ bằng thép không gỉ, thủy tinh, đồng, kẽm và bạc Đức.[127][128] Bảo tàng Conflictorium là một không gian sắp đặt có tính tương tác nhằm khám phá xung đột trong xã hội thông qua nghệ thuật.

Quỹ Shreyas có bốn bảo tàng trong khuôn viên của họ. Bảo tàng Dân gian Shreyas (Bảo tàng Lokayatan) có các loại hình và đồ tạo tác nghệ thuật đến từ nhiều cộng đồng khác nhau trong bang Gujarat. Bảo tàng trẻ em Kalpana Mangaldas có bộ sưu tập đồ chơi, con rối, trang phục múa và kịch, tiền xu, và kho lưu trữ bản ghi âm nhạc của các chương trình truyền thống từ khắp thế giới. Kahani lưu giữ các bức ảnh về hội chợ và lễ hội của bang Gujarat. Sangeeta Vadyakhand là phòng trưng bày các nhạc cụ của Ấn Độ và các nước khác.[129][130][131]

Viện Ấn Độ học LD lưu giữ 76.000 bản thảo viết tay của đạo Jain, cùng với 500 bản minh họa và 45.000 cuốn sách in, trở thành bộ sưu tập lớn nhất về văn bản Jain, tác phẩm điêu khắc Ấn Độ, tượng đất nung, tranh tiểu hoạ, tranh vải, tranh cuộn, đồ đồng, đồ gỗ, tiền xu Ấn Độ, hàng dệt và nghệ thuật trang trí, tranh vẽ Rabindranath Tagore, và nghệ thuật của Nepal và Tây Tạng.[132] Phòng trưng bày tiểu hoạ N. C. Mehta có một bộ sưu tập các bức tiểu hoạ và bản thảo được trang trí công phu từ khắp Ấn Độ.[133]

Năm 1949, nhà khoa học Dr. Vikram Sarabhai và vợ là vũ công Bharat Natyam Mrinalini Sarabhai thành lập Học viện biểu diễn nghệ thuật Darpana. Ảnh hưởng của học viện giúp Ahmedabad trở thành trung tâm về vũ đạo cổ điển Ấn Độ.[134]

Giáo dục

 
Đại học Gujarat tại Ahmedabad

Các trường học tại Ahmedabad thuộc quyền điều hành của AMC hoặc của các tổ chức, quỹ tín thác và tập đoàn tư nhân. Phần lớn các trường liên kết với Hội đồng Giáo dục THCS và THPT Gujarat, nhưng có một số trường liên kết với Hội đồng Trung ương về Giáo dục THCS, Hội đồng Khảo thí Chứng chỉ Trường học Ấn Độ, Tú tài Quốc tế và Viện Trường học Mở Quốc gia.

Ahmedabad có một số tổ chức giáo dục bậc đại học tập trung vào kỹ thuật, quản lý và thiết kế.[135] Trong số các trường đại học tại Ahmedabad, Đại học Gujarat là một đại học kiểu học viện được thành lập vào năm 1949[136] và có 286 trường trực thuộc, 22 tổ chức được công nhận và 36 khoa sau đại học.[137] Đại học Mở Quốc gia Indira Gandhi (IGNOU) là một trường đại học công lập tại Ấn Độ và có một trung tâm cấp khu vực hoạt động tích cực tại Ahmedabad, cung cấp 290 chương trình ODL và hơn 40 chương trình trực tuyến cho sinh viên sống trong thành phố.[138] Các trường đại học cấp bang khác trong thành phố bao gồm Đại học Mở Dr. Babasaheb Ambedkar,[139] Đại học Công nghệ Gujarat,[140] và Đại học Kỹ năng Kaushalya.[141] Gujarat Vidyapith được Mahatma Gandhi thành lập vào năm 1920 và trở thành cơ sở tương đương đại học vào năm 1963.[142]

 
Học viện Quản lý Ấn Độ Ahmedabad

Các trường đại học tư thục nằm trong thành phố bao gồm Đại học Ahmedabad,[143] Đại học CEPT (trước là Trung tâm Quy hoạch và Công nghệ Môi trường),[144] Đại học Indus,[145] Đại học Nirma,[146] Đại học GLS,[147] và Đại học Silver Oak.[148] Hai học viện quan trọng quốc gia nằm trong thành phố—Học viện Quản lý Ấn Độ Ahmedabad[149] và Học viện Thiết kế Quốc gia, Ahmedabad.[150]

Các tổ chức khác nằm trong thành phố bao gồm Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Vật lý do nhà vật lý và thiên văn học Vikram Sarabhai thành lập vào năm 1947.[151] Đây là một viện nghiên cứu tự quản thuộc Bộ Vũ trụ Ấn Độ, tập trung vào nghiên cứu về thiên văn học, vật lý thực nghiệm và lý thuyếtkhoa học trái đất.[151] Hiệp hội Nghiên cứu ngành dệt may Ahmedabad (ATIRA) được đăng ký vào năm 1947, là một hiệp hội tự quản, phi lợi nhuận tham gia nghiên cứu về hoạt động và ứng dụng trong ngành dệt may.[152]

Truyền thông

 
Tháp phát sóng của Doordarshan Ahmedabad

Ahmedabad có các nhật báo tiếng Anh như The Times of India, Indian Express, DNA, The Economic Times, The Financial Express, Ahmedabad MirrorMetro.[153] Báo chí bằng các ngôn ngữ khác bao gồm Divya Bhaskar, Gujarat Samachar, Sandesh, Rajasthan Patrika, SambhaavAankhodekhi.[153] Thành phố có Nhà xuất bản Navajivan có tính lịch sử, do Mahatma Gandhi thành lập vào năm 1919.[154]

Đài phát thanh Toàn Ấn Ahmedabad thuộc sở hữu nhà nước được phát sóng trên cả dải sóng trung bình và băng tần FM (96,7 MHz) trong thành phố.[155] Thành phố còn có năm đài FM tư nhân địa phương: Radio City (91,1 MHz), Red FM (93,5 MHz), My FM (94,3 MHz), Radio One (95,0 MHz), Radio Mirchi (98,3 MHz) và Mirchi Love (104 MHz). Gyan Vani (104,5 MHz) là đài phát thanh FM giáo dục hoạt động theo mô hình hợp tác truyền thông.[156] Vào tháng 3 năm 2012, Đại học Gujarat bắt đầu cung cấp dịch vụ phát thanh trong khuôn viên trường trên tần số 90,8 MHz, đây là dịch vụ đầu tiên thuộc loại này trong bang và thứ năm tại Ấn Độ.[157]

Đài truyền hình thuộc sở hữu nhà nước Doordarshan cung cấp các kênh mặt đất miễn phí, còn ba nhà điều hành đa hệ thống—InCablenet, Siti Cable và GTPL—cung cấp các kênh tiếng Gujarat, tiếng Hindi, tiếng Anh, và các kênh khu vực khác thông qua cáp.[158] Các nhà khai thác điện thoại cố định và di động là Jio, BSNL Mobile, AirtelVodafone Idea.[159]

Kinh tế

 
Nhà máy nhiệt điện Torrent Power tại Sabarmati, Ahmedabad

RBI xếp hạng Ahmedabad là trung tâm tiền gửi lớn thứ bảy và trung tâm tín dụng lớn thứ bảy trên toàn quốc tính đến tháng 6 năm 2012.[160] Vào thế kỷ 19, ngành dệt may nhận được nguồn vốn đầu tư lớn. Vào ngày 30 tháng 5 năm 1861, Ranchhodlal Chhotalal thành lập nhà máy dệt đầu tiên của Ấn Độ là Công ty TNHH Dệt và Kéo sợi Ahmedabad,[161] một loạt nhà máy dệt được thành lập sau đó như xưởng Calico, xưởng Bagicha và xưởng Arvind. Đến năm 1905 có khoảng 33 nhà máy dệt trong thành phố.[162] Ngành dệt được mở rộng nhanh chóng trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và được hưởng lợi từ phong trào Swadeshi của Mahatma Gandhi, vì phong trào này thúc đẩy việc mua hàng hóa do Ấn Độ sản xuất.[163] Ahmedabad được mệnh danh là "Manchester của phương Đông" nhờ ngành dệt may tại địa phương.[32] Thành phố này là nguồn cung cấp vải denim lớn nhất, và là một trong những nguồn xuất khẩu đá quý và đồ trang sức lớn nhất tại Ấn Độ.[6] Ngành công nghiệp ô tô cũng rất quan trọng đối với thành phố; sau dự án Nano của Tata, Ford, SuzukiPeugeot cũng thành lập các nhà máy sản xuất động cơ và xe gần Ahmedabad.[164][165][166]

Sở giao dịch chứng khoán Ahmedabad nằm trong khu vực Ambavadi của thành phố, đây là sàn giao dịch chứng khoán lâu đời thứ hai của Ấn Độ, nhưng hiện không còn tồn tại.[167] Hai công ty dược phẩm lớn của Ấn Độ là Zydus LifesciencesTorrent Pharmaceuticals có trụ sở tại thành phố. Tập đoàn công nghiệp Nirma có trụ sở chính tại thành phố, điều hành các đơn vị công nghiệp hóa chất và chất tẩy rửa. Thành phố còn có trụ sở của Tập đoàn Adani, kinh doanh về phát triển cơ sở hạ tầng và thương mại đa quốc gia.[168] Dự án Sardar Sarovar gồm các con đập và kênh đào giúp cải thiện việc cung cấp điện và nước sạch cho thành phố.[169] Ngành công nghệ thông tin phát triển mạnh tại Ahmedabad, các công ty như Tata Consultancy Services mở văn phòng tại thành phố.[170] Các cơ sở giáo dục và công nghiệp trong thành phố đã thu hút sinh viên và lao động trẻ có tay nghề cao từ các nơi khác của Ấn Độ.[171] Các tập đoàn lớn khác của Ấn Độ có trụ sở tại Ahmedabad là Cadila Healthcare, Rasna, Wagh Bakri, Cadila Pharmaceuticals và Intas Biopharmologists. Ahmedabad là trung tâm dệt bông lớn thứ hai tại Ấn Độ sau Mumbai và lớn nhất tại Gujarat.[172] Nhiều đơn vị bông sợi hoạt động trong và xung quanh Ahmedabad.[173][174] Dệt may là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn của thành phố.[175] Công ty Phát triển Công nghiệp Gujarat đã mua đất tại taluka Sanand của Ahmedabad để thành lập ba khu công nghiệp.[176]

Cơ sở hạ tầng

 
Sân bay quốc tế Sardar Vallabhbhai Patel, Ahmedabad
 
Ga đường sắt Sabarmati
 
Ahmedabad Metro

Giao thông

Sân bay quốc tế Sardar Vallabhbhai Patel nằm tại Hansol và do Tập đoàn Adani điều hành, đây là sân bay chính của Ahmedabad.[177] Sân bay quốc tế Dholera nằm cách trung tâm Ahmedabad 110 km về phía tây nam, sân bay này dự kiến hoàn thành giai đoạn đầu tiên vào năm 2025.[178]

Phân khu đường sắt Ahmedabad có trụ sở chính tại thành phố, là một bộ phận của Khu vực đường sắt phía Tây thuộc Đường sắt Ấn Độ (Indian Railways).[179] Ga đường sắt Ahmedabad được người dân địa phương gọi là ga đường sắt Kalupur,[180] là trung tâm đường sắt bận rộn nhất của Ahmedabad và Gujarat.[181] Các ga đường sắt lớn khác phục vụ thành phố bao gồm Chandlodiya,[182] Gandhigram,[183] Maninagar,[184] và Sabarmati Junction.[185][186]

Hệ thống đường sắt đô thị Ahmedabad Metro được khánh thành vào tháng 3 năm 2019, với 40 km đường ray trên hai tuyến (Đông-Tây và Bắc-Nam), có lượng hành khách hàng ngày đạt 90.000.[187] Giai đoạn 2 của Ahmedabad Metro bắt đầu xây dựng vào tháng 2 năm 2021, kết nối sân vận động Motera về phía bắc đến Mahatma Mandir thuộc Gandhinagar, dự kiến hoàn thành vào năm 2026.[188] Ahmedabad BRTS, còn được gọi là Janmarg (đường dân sinh), là một hệ thống xe buýt nhanh được khánh thành vào tháng 10 năm 2009, với tổng số 325 xe buýt trên 19 các tuyến đường, có lượng hành khách hàng ngày là 190.000.[189] Dịch vụ vận tải đô thị Ahmedabad (AMTS) cũng vận hành một hệ thống xe buýt khác với 700 xe trên 149 tuyến đường.[189] Ahmedabad BRTS và AMTS đều do Hội đồng đô thị Ahmedabad giám sát.[190][191]

Hội đồng đô thị Ahmedabad khai trương hệ thống chia sẻ xe đạp công cộng "AmdaBike" vào tháng 12 năm 2019, nhằm cải thiện kết nối chặng di chuyển cuối.[192] MYBYK là nhà cung cấp dịch vụ chính cho AmdaBike, với 300 trạm và 4.000 xe đạp.[192]

Đường bộ

Quốc lộ 48 đi qua Ahmedabad, kết nối thành phố với New DelhiMumbai. Quốc lộ 147 nối Ahmedabad với Gandhinagar. Thành phố được kết nối với Vadodara thông qua Đường cao tốc quốc gia 1 dài Bản mẫu:Convert. Đường cao tốc này là một phần của dự án Tứ giác vàng.[193]

Năm 2001, Uỷ ban Kiểm soát ô nhiễm Trung ương xếp hạng Ahmedabad là thành phố ô nhiễm nhất trong số 85 thành phố tại Ấn Độ. Uỷ ban Kiểm soát ô nhiễm Gujarat cấp cho những người lái xe lam 10.000 rupee để chuyển đổi tất cả 37.733 xe lam tại Ahmedabad sang sử dụng khí nén để giảm ô nhiễm. Kết quả Ahmedabad được xếp hạng là thành phố ô nhiễm thứ 50 tại Ấn Độ vào năm 2008.[194]

Thể thao

 
EKA Arena là một sân vận động đa năng trong thành phố

Cricket là một trong những môn thể thao được ưa chuộng nhất trong thành phố.[195] Sân vận động Narendra Modi được xây dựng vào năm 1982, còn được gọi là sân vận động Motera, là nơi tổ chức các trận đấu cricket dạng quốc tế một ngày và dạng test. Đây là sân vận động lớn nhất thế giới theo sức chứa, với 132.000 khán giả.[196] Đây là nơi tổ chức Giải vô địch cricket thế giới năm 1987, 1996, 2011 và 2023.[197] Đây là sân nhà của đội cricket Gujarat, một đội hạng nhất thi đấu trong các giải đấu trong nước. Ahmedabad có sân vận động cricket thứ hai tại câu lạc bộ thể thao Gujarat của Hội đồng đô thị Ahmedabad.[198] Trận chung kết Giải vô địch cricket thế giới 2023 được tổ chức tại sân vận động Narendra Modi.[199] Ahmedabad cũng có đội cricket IPL Gujarat Titans, họ giành được danh hiệu đầu tiên vào năm 2022.[200]

Các môn thể thao được ưa chuộng khác bao gồm khúc côn cầu trên cỏ, cầu lông, quần vợt, bóng quầngolf. Ahmedabad có chín sân golf (2007).[201] Hội đồng đô thị Ahmedabad cho xây dựng Khu liên hợp thể thao đa năng Mithakhali để quảng bá các môn thể thao trong nhà.[202] Ahmedabad cũng từng tổ chức các trận đấu trượt patin và bóng bàn cấp quốc gia.[203] Đua xe Kart đang trở nên phổ biến trong thành phố, có đường đua dài 380 m dựa trên ý tưởng thiết kế đường đua công thức một.[204][205]

 
Những người tham gia marathon Sabarmati Marathon

Marathon Sabarmati được tổ chức hàng năm vào tháng 12-tháng 1 kể từ năm 2011; có các hạng mục như chạy marathon toàn phần và bán phần, chạy 5 km dành cho người khiếm thị và chạy xe lăn 5 km.[206] Năm 2007, Ahmedabad đăng cai tổ chức thi đấu bắn súng cấp quốc gia lần thứ 51.[207] Giải vô địch thế giới kabaddi 2016 được tổ chức tại The Arena by Transtadia (sân bóng đá Kankaria đã được cải tạo) của Ahmedabad. Geet Sethi lớn lên tại Ahmedabad từng năm lần chiến thắng Giải vô địch bi-a chuyên nghiệp thế giới, và từng nhận giải thưởng thể thao cao nhất của Ấn Độ là Rajiv Gandhi Khel Ratna.[208]

Adani Ahmedabad Marathon được Tập đoàn Adani tổ chức hàng năm kể từ năm 2017; cuộc thi thu hút 8.000 người tham gia trong lần đầu tiên, và cũng tổ chức cuộc chạy marathon ảo đầu tiên vào năm 2020 do Covid-19.[209] Ahmedabad là một trong các thành phố có tiềm năng đăng cai Thế vận hội Mùa hè 2036.[210]

Quan hệ quốc tế

Thành phố kết nghĩa Bản mẫu:Location map+

Ghi chú

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  2. ^ India's most populated citys https://worldpopulationreview.com/countries/cities/india Bản mẫu:Webarchive
  3. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  4. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  5. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  6. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  7. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  8. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  9. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  10. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  11. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  12. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  13. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  14. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  15. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  16. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  17. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  18. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  19. ^ a ă â b c Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  20. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  21. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  22. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  23. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  24. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  25. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  26. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  27. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  28. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  29. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  30. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  31. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  32. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  33. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  34. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  35. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  36. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  37. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  38. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  39. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  40. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  41. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  42. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  43. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  44. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  45. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  46. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  47. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  48. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  49. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  50. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  51. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  52. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  53. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  54. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  55. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  56. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  57. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  58. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  59. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  60. ^ Feature: Ahmedabad, India launches heat wave preparation and warning system Bản mẫu:Webarchive Climate & Development Knowledge Network. Retrieved 31 July 2013.
  61. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  62. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  63. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  64. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  65. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  66. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  67. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  68. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  69. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  70. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  71. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  72. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  73. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  74. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  75. ^ It's a Jungle Out tHere [sic]. The Indian Express, 18 August 2013
  76. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  77. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  78. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  79. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  80. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  81. ^ a ă â b Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  82. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  83. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  84. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  85. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  86. ^ a ă â b c d Bhatkal, Tanvi, William Avis, and Susan Nicolai. "A Cautionary Tale of Progress in Ahmedabad", n.d., 48.
  87. ^ a ă World Bank. 2007. The Slum Networking Project in Ahmedabad: partnering for change (English) Bản mẫu:Webarchive. Water and Sanitation Program case study. Washington, DC: World Bank. http://documents.worldbank.org/curated/en/353971468259772248/The-Slum-Networking-Project-in-Ahmedabad-partnering-for-change Bản mẫu:Webarchive
  88. ^ SEWA Academy (2002) Parivartan and its impact: A Partnership Programme of Infrastructure Development in Slums of Ahmedabad City. SEWA Monograph. Ahmedabad: Self Employed Women's Association.
  89. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  90. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  91. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”. GCatholic
  92. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  93. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  94. ^ "Jews of Ahmedabad, India, welcome Torah scroll". Bản mẫu:Webarchive Jewish Journal. 13 September 2012. 13 September 2012.
  95. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  96. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  97. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  98. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên AMC
  99. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  100. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  101. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  102. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  103. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  104. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  105. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  106. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  107. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  108. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  109. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  110. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  111. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  112. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  113. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  114. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  115. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  116. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  117. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  118. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  119. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  120. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  121. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  122. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  123. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  124. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  125. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  126. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  127. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  128. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  129. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  130. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  131. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  132. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  133. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  134. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  135. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  136. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  137. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  138. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  139. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  140. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  141. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  142. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  143. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  144. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  145. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  146. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  147. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  148. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  149. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  150. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  151. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  152. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  153. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  154. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  155. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  156. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  157. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  158. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  159. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  160. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  161. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  162. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  163. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  164. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  165. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  166. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  167. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  168. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  169. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  170. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  171. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  172. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  173. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  174. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  175. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  176. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  177. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  178. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  179. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  180. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  181. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  182. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  183. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  184. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  185. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  186. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  187. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  188. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  189. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  190. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  191. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  192. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  193. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  194. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  195. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  196. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  197. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  198. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  199. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  200. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  201. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  202. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  203. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  204. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  205. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  206. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  207. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  208. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  209. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  210. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  211. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  212. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  213. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  214. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Tham khảo

Đọc thêm

Bản mẫu:Refbegin

  • Muktirajsinhji Chauhan and Kamalika Bose. History of Interior Design in India Vol 1: Ahmedabad (2007) Bản mẫu:ISBN
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Bản mẫu:Refend

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Commonscat

Bản mẫu:Subject bar

Bản mẫu:Navbox Bản mẫu:Khu đô thị đông dân nhất thế giới Bản mẫu:Authority control