An tần
| Thanh Thánh Tổ An tần 清聖祖安嬪 | |
|---|---|
| Khang Hi Đế Tần | |
| Tập tin:Chân dung bán thân An tần Khang Hi.jpg | |
| Thông tin chung | |
| Phu quân | Thanh Thánh Tổ Khang Hi Hoàng đế |
| Tước hiệu | [An tần; 安嬪] |
| Thân phụ | Cương A Thái |
An tần Lý thị (chữ Hán: 安嬪李氏, ? - ?) là một trong những phi tần đầu tiên của của Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế.
Thân thế
An tần xuất thân từ dòng họ Lý thị tại Thiết Lĩnh, thuộc Hán quân Chính Lam kỳ. Thủy tổ nhập kỳ của gia tộc bà là Lý Vĩnh Phương (李永芳), một nhân vật lịch sử nổi tiếng với danh hiệu Phủ Tây Ngạch phò (抚西额驸). Ban đầu, Lý Vĩnh Phương là Du kích của triều Minh, sau đó quy thuận Nỗ Nhĩ Cáp Xích. Là quan chức quân sự cấp cao đầu tiên của nhà Minh đầu hàng nhà Thanh, ông được Thái Tổ hậu đãi đặc biệt, phong làm Tam đẳng Tử tước (三等子爵) và gả con gái cả của Hòa Thạc Nhiêu Dư Mẫn Thân vương A Ba Thái. Khi Hán quân Bát Kỳ được thành lập, gia tộc họ Lý được biên vào Chính Lam kỳ, sở hữu vài Thế quản Tá lĩnh và trở thành một thế gia huân cựu danh tiếng.[1]
Lý Vĩnh Phương sinh được 9 con trai và ít nhất 1 con gái, hầu hết đều nắm giữ các chức vụ rường cột trong triều đình như Thượng thư, Tổng đốc, Đề đốc hoặc kế thừa tước vị đại thần. Trong đó, người con trai thứ ba là Cương A Thái (刚阿岱) chính là cha đẻ của An tần. Thời Thuận Trị, Cương A Thái làm quan đến chức Tổng binh quan Tuyên Phủ (宣府总兵官), nhưng đến năm Thuận Trị thứ 11 (1654) thì bị cách chức vì lý do riêng và đã qua đời trước khi An tần nhập cung. Cương A Thái sinh được ít nhất 3 con trai là Lý Vinh Tông (李荣宗), Lý Diệu Tông (李耀宗) và Lý Hiển Tông (李显宗), hậu duệ tiếp tục kế thừa Thế quản Tá lĩnh.[1]
Nhập cung
Dựa theo Tấu tiêu đương (奏销档) của Nội vụ phủ triều Khang Hi, sau đại hôn lễ của Hiếu Thành Nhân Hoàng hậu, triều đình tổ chức tuyển chọn Tú nữ Ngoại Bát kỳ. Vào ngày 23 tháng 6 năm Khang Hi thứ 10 (1671), có 6 vị Cách cách thuộc Ngoại Bát kỳ được đưa vào cung qua lối Nội Tả môn và được sắp xếp cư trú tại Chung Túy cung.[2] Trong số này có con gái của quan lục phẩm Lý Hiển Tông (tức anh trai An tần), người sau này chính là An tần[3]. Khi mới nhập cung, các vị Cách cách này được hưởng đãi ngộ cấp Phúc tấn tương đương với Cách cách Trát Lỗ Đặc Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị ở Trữ Tú cung[4], địa vị cao hơn 4 vị Thứ phi cấp Tiểu Phúc tấn thời bấy giờ (bao gồm Huệ phi, Vinh phi và Đoan tần).[3]
Năm Khang Hi thứ 16 (1677), tháng 8, Khang Hi Đế đại phong hậu cung, sách lập Nữu Hỗ Lộc thị làm Hoàng hậu, Nạp Lạt thị, Quách Lạc La thị, Mã Giai thị, Lý thị, Chương Giai thị, Đổng thị, Hách Xá Lý thị đều phong Tần.[5] Ngày 24 tháng 8, cùng năm, chiếu phong Lý thị làm An tần (安嬪). Hành lễ sắc phong của Tần vị.
Sách văn viết:
| “ |
朕惟建壶职以备赞襄,协宫闱之制;简淑媛而申誉命,诞膺纶綍之荣。咨尔李氏,令族钟祥,内庭秉训,柔嘉赋质,克修四德以树仪;恪敬持躬,宜翼六宫而佐治。兹仰承太皇太后慈谕,册尔为安嫔,尔其式勤师俭,奉阃范而益著芳声;履顺守谦,荷宠光而永绥介福。钦哉。 . Trẫm duy kiến hồ chức dĩ bị tán tương, hiệp cung vi chi chế, giản thục viện năng thân dự mệnh, đản ưng luân phất chi vinh. Tư nhĩ Lý thị, lệnh thấu chung tường. Nội đình bỉnh huấn. Nhu gia phú chất. Khắc tu tứ đức dĩ thụ nghi. Khác kính trì cung. Nghi dực lục cung nhi tá trị. Tư ngưỡng thừa Thái hoàng thái hậu từ dụ, sách phong nhĩ vi An tần. Nhĩ cơ thức cần sư kiệm. Phụng khổn phạm nhi ích trứ phương thanh. |
” |
| — An tần Lý thị chiếu tấn sách văn | ||
Sau khi được phong An tần, Lý thị không còn xuất hiện trong ghi chép nữa. Số phận của bà vẫn là một bí ẩn, ngay cả thời gian qua đời cũng không được ghi chép rõ ràng. An tần Lý thị nhập cung nhiều năm, lại được phong Tần, địa vị thực không thấp, nên việc hành trạng không được ghi chép rõ là điều khá kỳ lạ.
Căn cứ theo ghi chép của Nội vụ phủ sau này, năm Khang Hi thứ 36 (1697), số lượng lương thực thực phẩm của cấp bậc Tần được cấp cho 4 người, trong đó đã xác định chính xác hai người là Đoan tần Đổng thị và Hy tần Hách Xá Lý thị, hai người còn lại có lẽ là Kính tần Chương Giai thị, và An tần Lý thị.[6] Ngoài ra trong một lần tế hiến, Khang Hi Đế cũng nhắc đến An tần.
Năm Khang Hi thứ 46 (1707), Thanh cung đương án cho thấy, Tần vị chỉ có 3 vị Đoan tần, Hòa tần và Lương tần, còn An tần và Kính tần không thấy nhắc đến.[7]
Việc An tần bị giáng vị rồi qua đời trong cung, hay rời khỏi cung đình vì lý do nào khác, hiện vẫn chưa có tư liệu làm rõ. Ngoài ra, bà cũng không được an táng trong Cảnh lăng Phi viên tẩm
Trong văn hóa đại chúng
| Năm | Phim | Diễn viên | Nhân vật |
Tham khảo
- ^ a b 此段李氏谱系,整理自《清代谱牒档案(缩微胶卷)》《八旗通志初集》《钦定八旗通志》《爱新觉罗宗谱》。
- ^ 《奏销绿头牌白本档案》,康熙十年六月十六日条,中国第一历史档案馆编:《内务府奏销档(缩微胶卷)》。
- ^ a b 《奏销绿头牌白本档案》,康熙十年六月二十三日条,中国第一历史档案馆编:《内务府奏销档(缩微胶卷)》。
- ^ 《奏销绿头牌白本档案》,康熙十年六月十二日条,中国第一历史档案馆编:《内务府奏销档(缩微胶卷)》。
- ^ 《清实录·清圣祖实录·卷之六十八》康熙十六年……八月……○丙寅。上御太和殿。遣大学士索额图、为正使。大学士李霨、为副使。持节授妃钮祜卢氏册宝。立为皇后……遣大学士觉罗勒德洪、持节授佟氏册宝。封为贵妃。遣尚书吴正治、侍郎额星格、杨正中、马喇、富鸿基、学士项景襄、李天馥等、持节授册封李氏为安嫔,王佳氏为敬嫔,董氏为端嫔,马佳氏为荣嫔,纳喇氏为惠嫔,郭罗洛氏为宜嫔,何舍里氏为僖嫔……
- ^ 《為皇太后皇子公主等預備豬鵝雞等數目清單》妃六人,豬肉各十二,各八斤,鵝各一隻,雞各二隻;嬪四人,豬肉各八,各六斤、鵝各半只、雞各一隻半;貴人四人,豬肉各六,各五斤八兩、鵝半只、雞各一隻;常在六人,豬肉各五,各四斤、雞各一隻.....
- ^ 《宮中檔》康熙四十六年乾清宮主位,貴妃,惠妃、宜妃、德妃、榮妃四位,端嬪、和嬪、良嬪三位,蘇貴人、仙貴人、尹貴人三位,布常在、牛常在、查常在、堯常在、新常在五位。大答應十人