Bước tới nội dung

Các chính đảng ở Nhật Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bản mẫu:Chính trị Nhật Bản

Nhật Bản là quốc gia có hệ thống đa đảng. Những đảng phái chính trị lớn gồm có:

Ngoài ra còn có một số đảng đối lập trong Quốc hội như: CLB Cải Cách...

Các đảng phái hiện tại trong Quốc hội Nhật Bản

  • Tính đến ngày 2 tháng 11 năm 2025. Chữ in đậm chỉ đảng cầm quyền.
  • Con số này không khớp với số lượng đảng trong Quốc hội.
Đảng Logo Ngày thành lập Lãnh đạo đương nhiệm Số ghế trong Quốc hội
Chúng Nghị viện Tham Nghị viện Lưỡng viện
style="background-color:Bản mẫu:Liberal Democratic Party (Japan)/meta/color" |  自由民主党

Đảng Dân chủ Tự do

15 tháng 11 năm 1955 Chủ tịch

Takaichi Sanae

196 101 297
style="background-color:Bản mẫu:Constitutional Democratic Party of Japan/meta/color" |  立憲民主党

Đảng Dân chủ Lập hiến

15 tháng 9 năm 2020 Đại diện

Noda Yoshihiko

148 39 187
style="background-color:Bản mẫu:Nippon Ishin no Kai/meta/color" |  日本維新の会

Nhật Bản Duy tân hội (Đảng Đổi mới Nhật Bản)

Tập tin:Japan Innovation Party.svg 2 tháng 11 năm 2015

[1]

Tập tin:Hirofumi Yoshimura and Fujita Fumitake.png Đại diện

Yoshimura Hirofumi


Đồng Đại diện

Fujita Fumitake

34 19 53
style="background-color:Bản mẫu:Democratic Party for the People/meta/color" |  国民民主党

Đảng Dân chủ Quốc dân

Tập tin:Logo of Democratic Party For the People.svg 11 tháng 9 năm 2020 Tập tin:Yūichirō Tamaki 2025-05-05 (cropped).jpg Đại diện

Tamaki Yuichirō

27 23 50
style="background-color:Bản mẫu:New Komeito Party/meta/color" |  公明党

Đảng Công minh

Tập tin:Logo of Komeito.svg 17 tháng 11 năm 1964

[2]

Tập tin:Tetsuo Saito 20211004.jpg Đại diện

Saitō Tetsuo

24 21 45
style="background-color:Bản mẫu:Sanseito/meta/color" |  参政党

Đảng Tham chính

Tập tin:Sanseito logo.svg 17 tháng 3 năm 2020 Tập tin:神谷宗幣①(cropped).png Đại diện

Kamiya Sōhei

3 15 18
style="background-color:Bản mẫu:Reiwa Shinsengumi/meta/color" |  れいわ新選組

Reiwa Shinsengumi

Tập tin:Logo Reiwa.svg 1 tháng 4 năm 2019 Tập tin:Taro Yamamoto 2025-05-11.jpg Đại diện

Yamamoto Tarō

9 6 15
style="background-color:Bản mẫu:Japanese Communist Party/meta/color" |  日本共産党

Đảng Cộng sản Nhật Bản

Tập tin:Flag of the Japanese Communist Party.svg Tập tin:Nihon Kyōsantō Logo.svg 15 tháng 7 năm 1922

[3]

Tập tin:Tomoko Tamura 2024-10-26(4) (cropped).jpg Tổng Bí thư

Tamura Tomoko

8 7 15
style="background-color:Bản mẫu:Conservative Party of Japan/meta/color" |  日本保守党

Đảng Bảo thủ Nhật Bản

Tập tin:Conservative Party of Japan simple logo.svg 17 tháng 10 năm 2023 Tập tin:Naoki Hyakuta cropped 2 Naoki Hyakuta and Kiyoaki Kawanami 20171029.jpg Lãnh đạo

Hyakuta Naoki

1 2 3
style="background-color:Bản mẫu:Social Democratic Party of Japan/meta/color" |  社会民主党

Đảng Xã hội Dân chủ

Tập tin:Social Democratic Party Logo.svg 2 tháng 11 năm 1945

[4]

Tập tin:Mizuho Fukushima 20250328.jpg Lãnh đạo

Fukushima Mizuho

0 2 2
チームみらい

Team Mirai

Tập tin:Team Mirai logo.svg 8 tháng 5 năm 2025 Tập tin:安野貴博(2025年7月13日).png Lãnh đạo

Anno Takahiro

0 1 1
style="background-color:#Bản mẫu:Independent (politician)/meta/color" |  無所属 15 12 27
  欠員 0 0 0
Số lượng thành viên Quốc hội 465 248 713

Đảng Dân chủ Tự do (LDP 自由民主党)

Thành lập tháng 11 năm 1955, là đảng tư sản lớn nhất, hiện chiếm 296/480 ghế tại Hạ viện và 115/252 ghế tại Thượng viện. Đảng LDP cầm quyền liên tục 38 năm từ 1955 đến 1993. Do mâu thuẫn nội bộ và bị phân liệt, LDP đã thất bại lớn trong bầu cử Hạ viện tháng 7 năm 1993 và bị mất quyền lãnh đạo đất nước. Cuối tháng 6 năm 1994 LDP đã liên minh với Đảng Xã hội và Đảng Tiên phong để lập chính phủ, do Chủ tịch Đảng Xã hội Murayama làm Thủ tướng. Từ tháng 1 năm 1996 LDP lại đứng đầu một chính quyền liên hiệp 3 đảng LDP-Công Minh-Tự do, do Ruytaro Hashimoto làm Thủ tướng. Trong cuộc bầu cử Thượng viện tháng 7 năm 1998, LDP bị thất bại nặng nề, ông Hashimoto buộc phải từ chức Chủ tịch LDP và ngày 30 tháng 7 năm 1998, Quốc hội Nhật Bản đã bỏ phiếu bầu ông Keizo Obuchi làm Thủ tướng thay ông Hashimoto. Thủ tướng Yoshiro Mori, người kế nhiệm sau khi ông Obuchi mất cũng phải từ chức sau gần 1 năm cầm quyền do đã làm uy tín của LDP giảm sút nghiêm trọng.

Ông Koizumi Junichiro - một người có chủ trương cải cách LDP đã được bầu làm Chủ tịch đảng đồng thời là Thủ tướng Nhật với đa số áp đảo 298/482 phiếu tại Đại hội Đảng LDP trước nhiệm kỳ (24/4/2001) với tỷ lệ ủng hộ đạt kỷ lục 85%. Ngày 20 tháng 9 năm 2003, Thủ tướng Koizumi đã tái cử làm Chủ tịch Đảng LDP nhiệm kỳ 2 năm đồng thời tiếp tục ở cương vị Thủ tướng. Ngày 11 tháng 9 năm 2005 đảng LPD giành được đa số phiếu trong tổng tuyển cử với chủ trương tư nhân hóa công ty Bưu chính Nhật Bản. Ngày 20 tháng 9 năm 2006, ông Abe Shinzo được bầu làm Chủ tịch đảng và được Quốc hội bổ nhiệm Thủ tướng vào ngày 26 tháng 9 với 339/475 phiếu. Trong cuộc bầu cử thượng viện ngày 29 tháng 7 năm 2007, đảng Dân chủ Tự do bị thất bại nặng nề và không còn là đảng lớn nhất trong thượng viện.

Đảng Komei (Công minh) (NKP 公明党)

Được thành lập vào tháng 11 năm 1964. Năm 1998, các thế lực đảng Komei cũ trong Tân đảng Hoà bình ở Hạ viện và Komei ở Thượng viện hợp nhất thành lập Đảng Komei mới. Hiện nay, đảng này tham gia vào chính phủ liên hiệp của Thủ tướng Koizumi với 24 ghế tại Thượng viện và 34 ghế tại Hạ viện.

Đảng Xã hội Dân chủ (SDP 社会民主党)

Tiền thân là Đảng Xã hội (JSP) thành lập tháng 11 năm 1945, có cơ sở chủ yếu trong tầng lớp trí thức, có khuynh hướng xã hội dân chủ. Đến đầu 1990 là đảng đối lập lớn nhất trong Quốc hội. Do bị thất bại lớn trong bầu cử Hạ viện năm 1993, Đảng Xã hội Dân chủ buộc phải thay đổi hầu hết các chính sách cơ bản (về lực lượng tự vệ, Hiệp ước an ninh Nhật-Mỹ...) để liên minh với các đảng khác. Từ tháng 8 năm 1994 đến hết 1995, Đảng Xã hội Dân chủ liên minh với LDP và Shakigake để lập nội các do Chủ tịch Đảng Murayama làm Thủ tướng. Murayama là Thủ tướng đầu tiên của Nhật Bản đến thăm Việt Nam vào năm 1994 nối lại quan hệ Nhật - Việt từ sau 1945. Ngày nay nội bộ đảng ngày càng suy yếu, phân hóa nghiêm trọng. Do nhiều nghị sĩ đã bỏ đảng và gia nhập đảng Dân chủ (tháng 9 năm 1996), Đảng Xã hội Dân chủ hầu như bị tan rã và thất bại lớn trong bầu cử tháng 10 năm 1996, mất nửa số ghế. Hiện nay đảng này chiếm 7/480 ghế trong Hạ viện và 5 ghế trong Thượng viện.

Đảng Cộng sản Nhật Bản (JCP 日本共産党)

Được thành lập năm 1922, song chỉ sau Thế Chiến Thứ Hai mới được ra hoạt động công khai. Hiện nay giữ 9/480 ghế tại Hạ viện, 7/242 ghế trong Thượng viện. Đảng Cộng sản Nhật Bản có tổ chức chặt chẽ, kiên định đường lối; chủ trương xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở Nhật Bản thông qua cách mạng dân chủ và đấu tranh nghị trường; bảo vệ quyền lợi của người lao động, chống tư bản Nhật. Gần đây, Đảng Cộng sản đã thay đổi lập trường trên một số vấn đề như thừa nhận Nhật Hoàng, Hiệp ước an ninh Nhật-Mỹ..., tranh thủ lôi kéo các đảng đối lập để tiến tới lập chính quyền liên hiệp dân chủ.

Năm 1998, Đảng Cộng sản Nhật Bản đã bình thường hoá quan hệ với Đảng Cộng sản Trung Quốc sau 31 năm gián đoạn. Tháng 11 năm 2000, Đảng cộng sản đã tổ chức Đại hội Đảng lần thứ 22, lần đần tiên đưa ra đề án "Cải cách Nhật Bản" chủ trương thông qua việc tham gia chính quyền liên hiệp, chủ trương không đòi thủ tiêu ngay Cục phòng vệ mà tiến hành từng bước dần dần, theo từng giai đoạn. Do đường lối không đổi mới nên Đảng Cộng sản đã thất bại lớn trong bầu cử Hạ viện tháng 11 năm 2003 (mất 11 ghế).

Đặc biệt, tại Đại hội 23 năm 2004, Đảng Cộng sản đã sửa đổi cương lĩnh và đường lối trong đó từ bỏ đấu tranh cách mạng và chuyên chính vô sản, chủ trương ủng hộ Nhật Hoàng, lực lượng phòng vệ...

Liên kết ngoài

Dưới đây là một số trang thông tin liên quan đến Nhật Bản.

Tham khảo

  1. ^ 2016年8月23日に、おおさか維新の会から党名変更。
  2. ^ 1998年11月7日に再結成。
  3. ^ Được hợp pháp hóa vào tháng 12 năm 1945.
  4. ^ 1996年1月19日に、日本社会党から党名変更。

Bản mẫu:Sơ khai