Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Infobox”.Bản mẫu:Wikidata hình ảnhCù Thu Bạch (29 tháng 1 năm 1899 - 18 tháng 6 năm 1935) (tiếng Trung Quốc: 瞿秋白; bính âm: Qū Qiūbái; tiếng Anh: Qu Qiubai), là nhà hoạt động chính trị, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc từ 7/1927 đến 7/1928 và từ tháng 9/1930 đến 1/1931; là nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc thế kỷ XX. Cha ông tên là Cù Thế Duy, và mẹ ông tên là Cầm Tuyến. Ông sinh tại Thường Châu, Giang Tô, mất tại Trường Đinh, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc.
Năm 1919, Cù Thu Bạch tham gia Phong trào Ngũ Tứ. Năm 1920, ông sang Liên Xô và năm 1922, gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Cuối năm 1922, Cù Thu Bạch về nước và năm 1923, tại Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ III, ông được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng.
Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc
Tại Đại hội lần thứ V của Đảng Cộng sản Trung Quốc họp từ ngày 27 tháng 4 đến ngày 9 tháng 5 năm 1927, tại Hán Khẩu (nay là Vũ Hán). Trần Độc Tú được bầu làm Tổng Bí thư. Nhưng do đường lối hữu khuynh, Trần Độc Tú bị cách chức Tổng Bí thư vào tháng 7 năm 1927. Từ tháng 8 năm 1927 đến tháng 7 năm 1928, Cù Thu Bạch giữ chức Bí thư Trung ương Đảng, đứng đầu Ban chấp hành Trung ương lâm thời phụ trách Trung ương lâm thời.
Bị giết
Năm 1934, khi tình hình ở Thượng Hải quá nguy hiểm đối với những lãnh tụ Cộng sản, Cù Thu Bạch về căn cứ Xô viết ở Giang Tây. Khi xảy ra cuộc Vạn lý Trường chinh, Cù Thu Bạch đang bị lao phổi nặng nên phải ở lại căn cứ. Sau khi Hồng quân rút đi vài tuần, quân Quốc Dân Đảng tràn vào vùng Xô viết tàn sát Hồng quân, Cù Thu Bạch bị bắt vào ngày 23 tháng 2 năm 1935, bị tra tấn và dụ hàng nhưng ông vẫn giữ vững khí tiết, 4 tháng sau khi bị bắt, Quốc dân đảng hành quyết Cù Thu Bạch vào ngày 18/06/1935 khi ông mới 36 tuổi. Trong Cách mạng Văn hóa, ông bị chính quyền chỉ trích, mộ ông bị đập phá. Cho đến khi thời kỳ Đặng Tiểu Bình, lãnh đạo Đảng mới được đánh giá lại công lao của ông và khôi phục danh dự.
Tác phẩm
A di đà Phật: một bài thơ đẫm chất Thiền của họ Cù:
阿弥陀佛
不用论断,
不用操心;
无知的寻求,
愚昧的评论。
日间之伤,
请以梦治;
明日之日,
自然能至。...
A di đà phật (Người dịch: Lương Duy Thứ, Nam Trân)
Đừng suy đoán
Đừng bận tâm
Tìm chi cái không biết
Bàn chi cái tối tăm
Vết thương trong ngày
Lấy mộng ban đêm hàn gắn
Ngày của ngày mai
Tự nhiên sẽ đến...
Các tác phẩm chính của Cù Thu Bạch là Hành trình qua xứ đói, Hồng đô tâm sử. Ông cũng viết nhiều công trình lý luận phê bình, dịch và giới thiệu nhiều tác phẩm văn học, đặc biệt là những tác phẩm văn học Nga thế kỷ XIX và văn học Xô-viết. Cù Thu Bạch cũng là bạn thân của nhà văn Lỗ Tấn và có ảnh hưởng lớn lao đến con đường văn học của họ Lỗ.
Chuyện tình cảm động giữa những năm tháng chiến tranh loạn lạc của Cù Thu Bạch Dương Chi Hoa được dựng thành và bộ phim sử thi lãng mạn The Seal of Love, tên tiếng Trung là Thu Chi Bạch Hoa, nghĩa là "hoa trắng mùa thu".
Thông tin cá nhân
Ảnh gia đình Cù Thu Bạch chụp tại Moscow, năm 1929. Từ trái qua phải: Dương Chi Hoa, Cù Độc Y, Cù Thu BạchCha: Cù Thế Vĩ (瞿世瑋, 1875 - 1932), tự Nhã Bân (雅彬), hiệu Nhất Thiền (一禪), đạo hiệu Viên Sơ (園初).
Mẹ: Kim Toàn (金璇, 1875 - 1916), còn viết Kim Tuyền, tự Hành Ngọc (衡玉), người Giang Tô. Thông minh từ nhỏ, có tài văn chương, là người có ảnh hưởng sâu sắc đến Cù Thu Bạch. Năm 1916, bà tự sát bằng cách nuốt diêm do gia cảnh nợ nần.
Anh em:
Đại muội: Cù Dật Quần (瞿轶群, 1900 - 1982)
Nhị đệ: Cù Vân Bạch (瞿昀白, 1902 - 1958), tên thuở nhỏ là A Vân (阿耘), tốt nghiệp Đại học Thượng Hải, sau được đưa sang học tại Liên Xô, về sau được cử làm phiên dịch tiếng Nga tại Đại học Nhân dân Trung Quốc.
Tam đệ: Cù Mậu Hưng (瞿楙興, 1904 - 1911), chết non.
Tứ đệ: Cù Cảnh Bạch (瞿景白, 1906 - 1929), tên thuở nhỏ là Sâm (森). Năm 1925 gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc, về sau được đưa sang học tại Liên Xô. Năm 1929, Stalin phát động cuộc thanh trừng Đảng, Vương Minh lợi dụng cơ hội này đả kích anh em Cù Thu Bạch, cùng năm ông chết trong một hoàn cảnh không rõ ràng. Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, ông được phục hồi danh dự và truy tặng liệt sĩ cách mạng.
Ngũ đệ: Cù Nghiêu Bạch (瞿垚白, 1909 - ?), tên thuở nhỏ là A Nghiêu (阿尧).
Lục đệ: Cù Kiến Bạch (瞿坚白, 1913 - 1943), tên thuở nhỏ là A Cốc (阿谷). Thuở nhỏ sinh sống tại Hàng Châu, hy sinh trong chiến dịch truy kích gián điệp tại Hồ Bắc.
Vợ:
Nguyên phối: Vương Kiểm Hồng (王剑虹, ? - 1924), người Hồ Nam, tốt nghiệp Đại học Thượng Hải. Qua sự giới thiệu của Đinh Linh, bà quen biết Cù Thu Bạch và kết hôn với ông vào tháng 1 năm 1924. Tháng 7 cùng năm, bà qua đời vì bệnh phổi.
Kế phối: Dương Chi Hoa (杨之华, 1901 - 1973), người Chiết Giang, cũng tốt nghiệp Đại học Thượng Hải. Sau khi ly hôn với người chồng trước là Thẩm Kiếm Long (沈剑龙, con trai Thẩm Định Nhất - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc bấy giờ), bà tái hôn với Cù Thu Bạch vào tháng 11 năm 1924, nổi tiếng với thành ngữ "Thu chi bạch hoa" (秋之白华). Sau khi Cù Thu Bạch qua đời, bà được sắp xếp sang Liên Xô. Trong thời kỳ Cách mạng văn hóa, bà bị chỉ trích và giam cầm trong một thời gian dài, qua đời tại Bắc Kinh.
Con gái: Cù Độc Y (瞿独伊, 1921 - 2021), vốn là con gái Dương Chi Hoa với người chồng đầu Thẩm Kiếm Long. Thuở nhỏ được nuôi dưỡng tại Liên Xô, gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1946, là phóng viên của Tân Hoa xã, về sau được phân công làm việc tại Viện Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc. Năm 1978, Cù Độc Y quay trở lại Tân Hoa Xã, làm công tác biên tập và phiên dịch tại tổ tiếng Nga thuộc Bộ Quốc tế, nghỉ hưu năm 1982. Năm 2021, nhân dịp đại thọ 100 tuổi, bà được trao tặng Huân chương 1 tháng 7, do con gái Lý Hiểu Văn nhận thay.