Bước tới nội dung

Centropus toulou

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Centropus toulou
Ở Ankarafantsika, Madagascar
Phân loại khoa học edit
Giới: Animalia
Ngành: Chordata
Lớp: Aves
Bộ: Cuculiformes
Họ: Cuculidae
Chi: Centropus
Loài:
C. toulou
Danh pháp hai phần
Centropus toulou
(Müller, 1776)
Tập tin:Centropus toulou MHNT.zoo.2010.11.151.12.jpg
Trứng của Centropus toulou - MHNT

Centropus toulou (tiếng Anh: Malagasy coucal) là danh pháp của một loài chim thuộc họ cu cu. Chúng được tìm thấy ở Madagascar và ở Seychelles, xuất hiện trên đảo Aldabra và trước đây từng có trên đảo AssumptionCosmoledo. Môi trường sống của loài này là thảm thực vật dày đặc trong các khu rừng ẩm vùng đất thấp cận nhiệt đới hoặc nhiệt đới, rừng ngập mặn, đồng cỏ thưa, đầm lầy và bãi lau sậy.

Mô tả

C. toulou là một loài chim có kích cỡ trung bình với cá thể trưởng thành có chiều dài khoảng 40 đến 50 cm (16 đến 20 in). Con đực nhỏ hơn con cái, nặng khoảng 140 g (5 oz) và con cái nặng khoảng 190 g (7 oz), dù cả chim đực và chim cái đều sở hữu ngoại hình khá giống nhau. Trong mùa sinh sản, chúng có bộ lông màu đen bóng ánh xanh lục, ngoại trừ phần chóp cánh có màu nâu và phần lưng giữa và lưng dưới có màu nâu đỏ. Trong mùa không sinh sản màu lông ở phần đầu, cổ và cổ họng có màu nâu xen lẫn màu kem, cánh màu nâu đỏ, lông bao đuôi trên màu đen với một số vạch nhạt, đuôi màu nâu đen với các vạch mờ và bụng màu nâu đen. Mống mắt có màu đỏ, mỏ có màu nhạt trong mùa sinh sản và có màu nhạt trong mùa không sinh sản và chân có màu xám tới đen.[2] Tiếng kêu của chúng là một chuỗi các nốt nhạc trầm dần, nghe giống như tiếng nước rót ra từ chai và thường được hót song ca cùng với bạn đời.[2][3]

Phân bố và môi trường sống

C. toulou xuất hiện ở Madagascar và Aldabra thuộc Seychelles, có thể chúng đã lan rộng sang đó thông qua Comoros, mặc dù loài này không còn xuất hiện tại Seychelles trong thời gian gần đây. Chúng vẫn được tìm thấy trong nhiều loại môi trường sống khác nhau, bao gồm các tầng cây thấp trong cả rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh, bìa rừng, các khoảng rừng thưa, vườn cọ, các bãi sậy, đầm lầy, rừng ngập mặn, vùng đồng cỏ rậm rạp, ruộng lúa và các khu vườn ở độ cao lên đến 1.800 mét (5.900 ft).[3]

Loài này có hai phân loài:[4]

  • Centropus toulou toulou: Madagascar
  • Centropus toulou insularis: Aldabra

Hành vi

Chúng thường sinh sống tại những nơi có bụi rậm dày đặc. Đây là một loài chim săn mồi và thường tìm kiếm thức ăn ở tầng cây thấp và trên mặt đất bằng cách truy đuổi rồi vồ lấy con mồi. Chế độ ăn của chúng bao gồm các loài côn trùng lớn, nhện, động vật thân mềm và các loài động vật không xương sống khác, cũng như tắc kè, thằn lằn bóng, tắc kè hoađộng vật gặm nhấm, tất cả đều được chúng nuốt chửng toàn bộ. Loài này còn có tập tính cạy các lớp vỏ cây mục để tìm kiếm thằn lằn hoặc các con mồi khác đang ẩn nấp bên dưới. Ngoài ra, chúng cũng được ghi nhận là thường xuyên phá tổ chim để ăn trứng và chim non.[3]

Mùa sinh sản diễn ra từ tháng 9 đến tháng 3 và con đực đảm nhận phần lớn các hành vi làm tổ. Tổ là một cấu trúc lớn, hình vòm với lối vào ở một phía, được giấu kín trong thảm thực vật rậm rạp cách mặt đất vài mét. Nó được làm từ cỏ, lá, thân cây và tua cuốn và con cái có thể bắt đầu đẻ trứng trước khi tổ được làm xong. Mỗi ổ trứng gồm hai tới ba (đôi khi đến bốn hoặc năm) quả trứng màu trắng trơn được đẻ cách nhau vài ngày. Mỗi quả nở sau khoảng mười lăm ngày ấp trứng và việc này chủ yếu do chim đực thực hiện. Chim non lớn rất nhanh và rời tổ khoảng mười chín ngày kể từ ngày nở.[3]

Trạng thái

C. toulou có phạm vi phân bố rộng và khá phổ biến tại Madagascar đảo Aldabra. Chúng được cho rằng đã bị tuyệt chủng cục bộ trên đảo Assumption thuộc Seychelles, nơi chúng không còn được ghi nhận kể từ năm 1906. Ở các phần khu vực khác trong phạm vi phân bố, quần thể này dường như ổn định và mặc dù số lượng chính xác của những chúng chưa được biết, có khả năng là hơn 10,000 cá thể trưởng thành và do đó IUCN xếp loài này vào nhóm "ít quan tâm".[1]

Chú thích

  1. ^ a b BirdLife International (2018). "Centropus toulou". Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa. 2018 e.T22684243A130095083. doi:10.2305/IUCN.UK.2018-2.RLTS.T22684243A130095083.en. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2021.
  2. ^ a b Payne, Robert B. (2005). The Cuckoos (bằng tiếng Anh). Oxford: Oxford University Press. tr. 244–245. ISBN 978-0-19-850213-5.
  3. ^ a b c d Erritz, Johannes; Mann, Clive F.; Brammer, Frederik; Fuller, Richard A. (2012). Cuckoos of the World (bằng tiếng Anh). A C Black. tr. 186–187. ISBN 978-1-4081-4267-7.
  4. ^ "Malagasy Coucal- Centropus toulou". AviBase. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2014.

Tham khảo

Lỗi Lua trong Mô_đun:Taxonbar tại dòng 141: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).