Bước tới nội dung

Cung điện Lateran

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cung điện Lateran
Quảng trường Thánh John ở Lateran với Cung điện Lateran (bên trái) và Vương cung thánh đường Thánh John Lateran (bên phải) và Đài tưởng niệm của Pharaoh Ai Cập Thutmosis III ở phía trước
Lỗi Lua trong Mô_đun:Infobox_mapframe tại dòng 185: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
Nhấp vào bản đồ để xem toàn màn hình. Lateran được đánh dấu ở giữa, và Vatican viền xám ở bên trái.
Thông tin chung
Địa điểmQuảng trường Thánh Gioan ở Lateran trên Đồi Caelian, Rome, Ý
Tọa độLỗi Lua trong Mô_đun:Coordinates tại dòng 674: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
Trang web
palazzolateranense.com

Cung điện Lateran (tiếng Latinh: Palatium Apostolicum Lateranense, tiếng Anh: Apostolic Palace of the Lateran), hay Lateran Palace (tiếng Latinh: Palatium Lateranense; tiếng Ý: Palazzo del Laterano), là một cung điện cổ của Đế chế La Mã và sau này là nơi ở chính của Giáo hoàng, toạ lạc ở Đông Nam Roma.

Nằm trên quảng trường St. John ở Lateran trên đồi Caelian, cung điện tiếp giáp với Tổng lãnh vương cung thánh đường Thánh Gioan Latêranô, nhà thờ chính tòa của Rome. Từ thế kỷ thứ tư, cung điện là nơi ở chính của các Giáo hoàng, và tiếp tục như vậy trong khoảng một nghìn năm cho đến khi Dinh thự của các Tông đồ cuối cùng được chuyển đến Thành Vatican. Cung điện hiện được sử dụng làm Bảo tàng Lịch sử Vatican,[1] nơi minh họa lịch sử của Lãnh địa Giáo hoàng. Cung điện cũng có các văn phòng Đại diện của Rome (Vicariate of Rome), cũng như các căn hộ dùng làm nơi lưu trú của Hồng y đại diện (Cardinal Vicar), người đại diện của Giáo hoàng cho việc điều hành hàng ngày của giáo phận. Cho đến năm 1970, cung điện còn là nơi trưng bày các bộ sưu tập quan trọng của Bảo tàng Lateran, hiện đã được phân tán giữa các phần khác trong Bảo tàng Vatican.

Theo Hiệp ước Lateran năm 1929, cung điện và vương cung thánh đường liền kề là Tài sản ngoài lãnh thổ của Tòa Thánh. [2]

Lịch sử

Trước thời Giáo hoàng

Khu vực Vương cung thánh đường San Giovanni ở Laterano từng được sử dụng vào thời kỳ đầu của Đế chế La Mã bởi domus của gia tộc Plautii Laterani. Gia tộc Laterani từng là quan quản lý cho một số hoàng đế; tổ tiên của họ Lucius Sextius Lateranus được cho là thường dân đầu tiên đạt đến cấp bậc quan chấp chính vào năm 366 TCN. Một người trong gia tộc Laterani, Quan chấp chính Plautius Lateranus trở nên nổi tiếng vì bị Nero cáo buộc âm mưu chống lại hoàng đế. Lời cáo buộc này dẫn đến việc tịch thu và phân lại tài sản của ông.[3]

Thời Constantine

"Domus Laterani" thuộc quyền sở hữu của hoàng đế khi Constantine I kết hôn với người vợ thứ hai Fausta, em gái của Maxentius. Khoảng năm 312, Constantine đã san bằng doanh trại của đội kỵ binh hoàng gia nằm cạnh cung điện, lúc này gọi là "Domus Faustae" hay "Nhà Fausta"; equites singulares Augusti đã ủng hộ Maxentius chống lại Constantine. Ông đã ra lệnh xây dựng Tổng lãnh vương cung thánh đường Thánh Gioan Latêranô trên địa điểm này.[4]

Domus Laterani cuối cùng đã được Constantine I trao cho Giám mục Rome.[5] Người ta tin rằng điều này đã xảy ra dưới thời kỳ trị vì của Giáo hoàng Miltiades,[6], ngài đã kịp thời triệu tập hội đồng giám mục năm 313 để thách thức Chủ nghĩa Donat.[3]

Cung điện thời trung cổ

Bản đồ cung điện nhà thờ Lateran trước sự can thiệp của Giáo hoàng Sixtus V vào những năm 1580
Bản sao của bức tranh khảm Byzantine từng có ở hậu cung của Leonian Triclinium, một trong những sảnh chính của cung điện Lateran cổ đại

Khi Byzantium ngày càng yếu thế trong việc ngăn chặn các cuộc xâm lược của người Lombard, giáo hoàng ngày càng tách rờik khỏi Đế chế. Trước đầu thế kỷ thứ tám, dinh thự của các giám mục Rome không gọi là cung điện, mà là "Tòa Thượng phụ Latêranô" (patriarchium).[7] Động lực để tân trang lại Tòa Thượng phụ Latêranô thành một cung điện thực sự là tạo ra một dinh thự hoàng gia, nơi giáo hoàng có thể thực thi không chỉ quyền lực tinh thần mà còn cả quyền lực thế tục.[8]

Cung điện của Giáo hoàng tại Lateran ở Rome đã được Giáo hoàng Hadrian I (772–95) và Giáo hoàng Leo III (795–816) sửa đổi đáng kể vào cuối thế kỷ thứ tám. Giáo hoàng Hadrian I đã tái cấu trúc cổng vòm gần cầu thang dẫn vào (cổng vòm Zaccaria) và dựng thêm một tòa tháp bên cạnh, dùng làm nơi ở.[9] Cổng vòm này dùng để phân phát của bố thí và cũng là nơi đặt bức tượng Capitoline Wolf và các bảng Lex de imperio Vespasiani.[9]

Giáo hoàng Leo III đã cho xây dựng hai triclinia (cái đầu tiên gọi đơn giản là Triclinium hoặc triclinium maius, trong khi cái thứ hai gọi là Aula Concilii) vào khoảng năm 800 để làm trung tâm nghi lễ của giáo hoàng. Về mặt kiến ​​trúc, chúng gợi nhớ đến các tòa nhà hoàng gia Byzantine ở Constantinople.[8][10] Cả hai phòng triclinia đều trang trí công phu với tranh khảm và đài phun nước, và là nơi diễn ra các nghi lễ, tiệc chiêu đãi và hội họp của Giáo hoàng. Các đồ trang trí mang chủ đề chính trị, và chúng được coi là biểu tượng của quyền lực và thẩm quyền của Giáo hoàng.[11]

Bức tường cuối còn lại của Leonian Triclinium (bên phải) nằm chung tòa nhà với Santa Scala (lối vào bên trái), hiện nằm đối diện quảng trường với cung điện Phục hưng chính

"Leonian Triclinium" hay "triclinium maius" là một trong những sảnh nổi tiếng nhất của cung điện cổ đại và là sảnh tiệc, ốp bằng tranh ghép. Đây là một công trình hai tầng, dài 50 mét từ đầu đến cuối. Tầng trên bao gồm một phòng chính rộng lớn dài 26 mét với một gian cung chính ở cuối và một gian cung ở mỗi bên, cùng một tiền sảnh hình chữ nhật, có thể từng có một mái hiên.[12][11] Các bức bích họa phủ kín hai gian cung thánh nhô ra khỏi phòng chính và hai gian cung thánh ở tiền sảnh, trong khi gian cung thánh chính được khảm và là nơi đặt ngai vàng của Giáo hoàng.[11] Dù không còn gì sót lại, nhưng vào năm 1743, các bản sao khảm đã được tạo ra từ bản vẽ và đặt trong một công trình xây dựng đặc biệt đối diện cung điện. Công trình hiện tại không phải là nguyên mẫu, nhưng một bản sao khảm nguyên bản được bảo tồn trong một bức tranh khảm ba phần: Ở giữa, Chúa Kitô trao sứ mệnh cho Các Tông Đồ; bên trái, ngài trao chìa khóa cho Thánh Peter và Labarum cho Constantine; trong khi bên phải, Thánh Phêrô trao dây stola cho Leo III và trao cờ hiệu cho Charlemagne, một hình ảnh tượng trưng cho nghĩa vụ bảo vệ Nhà thờ của vua Frank.[8]

"Phòng tiệc thứ hai" do Leo III xây dựng, còn gọi là "Aula Concilii" ("Hội trường Cộng đồng" hoặc Sala del Concilio trong tiếng Ý), nằm cạnh Vương cung thánh đường và vuông góc với nó.[12] Đó là một hội trường hình chữ nhật tráng lệ (dài 53 m, rộng 13 m) với mười một gian cung thánh, gian cung thánh chính ở một đầu và năm gian cung thánh ở mỗi bên.[12][11] Các gian cung thánh bên có đường kính 6,7 mét và cách nhau 2,34 mét, trong khi các gian cung thánh cuối cách tường chính và tường cuối 4,47 mét.[13] Một đài phun nước Porphyry lớn đặt trước gian cung thánh chính, phun ra những tia nước từ các đường ống chịu áp lực của Aqua Claudia được phục chế, một kỳ quan kỹ thuật nhằm gây ấn tượng với du khách.[12] Mỗi gian cung thánh bên trong số 10 gian cung thánh bên đều có accubita để tổ chức tiệc, theo mô hình sảnh tiếp tân của 19 accubita trong Đại cung điện Constantinople.[12][11] Gian cung thánh chính được trang trí bằng một bức tranh khảm thể hiện Chúa KitôĐức mẹ Maria với các Thánh Phêrô, Phaolô cùng ba nhân vật khác, trong khi mỗi gian cung thánh bên trong số mười gian cung thánh bên đều được trang trí bằng các bức bích họa mô tả một sứ đồ đang thuyết giảng cho dân ngoại đạo.[14][15] Bên trái của cung thánh chính là một cầu thang dẫn đến vương cung thánh đường.[15][16] Sảnh trang trí bằng các cột, trụ tường, sàn nhà theo phong cách opus sectile.[15] Một bản vẽ của Pompeo Ugonio (BAV, Cod. Barb. lat. 2160, fol.157v) vẫn còn tồn tại như bằng chứng về cấu trúc và đồ trang trí của nó.[17][15]

Leo III và Giáo hoàng kế nhiệm Paschal I (817–24) đã trang trí Sancta Sanctorum (“Nơi Chí Thánh”, nhà nguyện riêng của giáo hoàng) bằng những hộp nạm đá quý và một chiếc rương đựng thánh tích mô phỏng theo Hòm Bia Giao Ước, nơi lưu giữ một số thánh tích quý giá nhất của Rome.[11] Vào khoảng những năm 820, Liber Pontificalis bắt đầu gọi khu phức hợp này là một cung điện, palatium. [11]

Các căn hộ riêng của giáo hoàng trong cung điện này nằm giữa triclinium và tường thành. Sau này, nó gọi là Aula Concilii ("Hội trường Hội đồng") do vai trò là nơi họp hành.[12]

Bệ đài tưởng niệm với lời trích dẫn của Hoàng đế Constantine I

Vào thế kỷ thứ mười, Giáo hoàng Sergius III đã trùng tu cung điện sau một trận hỏa hoạn thảm khốc, và sau đó được Giáo hoàng Innocent III tôn tạo rất nhiều. Đây là thời kỳ huy hoàng nhất, khi Dante nói về nó như một công trình vượt xa mọi thành tựu của con người. Vào thời điểm này, trung tâm của quảng trường là cung điện và tháp của gia tộc Annibaldi.

Sau Đại ly giáo năm 1054, cung điện Lateran là nơi diễn ra công đồng đại kết đầu tiên tổ chức tại Tây Âu năm 1123. Bốn công đồng chung khác (năm 1139, năm 1179, năm 1213 & năm 1512) cũng tổ chức tại địa điểm này.

Giữa cung điện này và Vương cung thánh đường Lateran là bức tượng cưỡi ngựa của Marcus Aurelius, vào thời điểm đó người ta nhầm tưởng là tượng trưng cho Hoàng đế Constantine của Kitô giáo (có lẽ chính sự liên hệ này đã giải thích cho việc bảo tồn bức tượng). Một bản sao của bức tượng cưỡi ngựa hiện đặt ở trung tâm Quảng trường Capitoline trong khi bản gốc được bảo quản an toàn để trưng bày tại Bảo tàng Capitoline.

Giáo hoàng Boniface VIII đã xây thêm Loggia delle Benedizioni ở phía bắc của Aula Concilii.[18]

Thay vào đó, cột tháp Lateran đã được dựng lên. Ban đầu xây theo lệnh của Pharaoh Thuthmosis III vương triều thứ 18, công trình hoàn thành bởi cháu trai của ông là Thuthmosis IV. Với chiều cao 32,18 m (45,70 m bao gồm cả phần đế), đây là cột tháp tại Rome cao nhất và là cột tháp Ai Cập cổ đại lớn nhất thế giới, nặng hơn 230 tấn. Sau khi Ai Cập sáp nhập vào Đế chế, nó được lấy từ đền thờ AmunKarnak[Notes 1]Constantius II mang đến Alexandria cùng với một cột tháp khác. Từ đó, nó được mang riêng đến Rome vào năm 357 để trang trí spina của Circus Maximus. Tuy nhiên, phần đế tượng trưng cho vinh quang của Constantine I, chứ không phải của con trai ông, người đã mang nó đến Rome.

Avignon Papacy

Nhà thờ Lateran thời trung cổ, từ một bản khắc thế kỷ 17 của Giovanni Giustino Ciampini
Nhà thờ Lateran sau khi được xây dựng lại, từ một bản khắc thế kỷ 18 của Giuseppe Vasi

Sự sụp đổ của cung điện khỏi vị thế huy hoàng này là kết quả của việc các giáo hoàng rời khỏi Rome trong thời kỳ Avignon Popecy.

Hai vụ hỏa hoạn vào năm 1307 và 1361 đã gây ra thiệt hại không thể khắc phục, và mặc dù Avignon đã gửi một khoản tiền lớn để tái thiết, cung điện không bao giờ đạt được vẻ huy hoàng như trước. Cung điện lúc này mang những nét kiến ​​trúc Gothic. Khi các giáo hoàng trở về Rome, đầu tiên cư trú tại Vương cung thánh đường Santa Maria ở Trastevere, sau đó là Vương cung thánh đường Santa Maria Maggiore, và cuối cùng định cư tại Vatican. Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, cũng do Constantine xây dựng, cho đến lúc đó chủ yếu sử dụng làm nhà thờ hành hương. Giáo hoàng Sixtus V quan tâm nhiều đến quy hoạch đô thị hợp lý hơn là bảo tồn các di tích cổ, nên đã phá hủy những gì còn sót lại của cung điện Lateran cổ vào năm 1586, chỉ bảo tồn Sancta Sanctorum, và xây dựng một công trình nhỏ hơn nhiều ngay tại vị trí đó, do kiến ​​trúc sư yêu thích của ông là Domenico Fontana thiết kế. [4]

Công trình thế kỷ 16

Kiến trúc sư mà ông thuê ngay sau khi đắc cử là Domenico Fontana, cũng đang tham gia vào việc cải tạo Vương cung thánh đường cùng lúc. Phong cách mạnh mẽ, tiết chế của Fontana chịu ảnh hưởng của Giacomo Vignola và mô phỏng theo Palazzo Farnese về mặt tiền chính đều đặn và hài hòa, dù có phần đơn điệu. Nền tảng kỹ thuật vững chắc của Fontana và khả năng phối hợp một chương trình kiến ​​trúc phức tạp trên một khu đất chật hẹp, được Sixtus thúc đẩy tiến triển với tốc độ tối đa, đã được coi là đáng chú ý.[19]

Một thông báo vào ngày 29 tháng 8 năm 1589 thông báo công trình đã hoàn thành: "Sixtus V đã hoàn thành một cung điện lớn ở Quảng trường Lateranese." [19] Fontana đã áp dụng lại các họa tiết của Cung điện Lateran vào phần Cung điện Vatican chứa các căn hộ hiện tại của Giáo hoàng, mà ông đảm nhận sau này, trong các phần mở rộng của ông cho Cung điện Quirinal. Mặt tiền phía đông hoàn thành dưới thời Giáo hoàng Clement XII, ông đã đặt huy hiệu lên trên nó vào năm 1735.

Từ những công trình kiến ​​trúc Lateran cũ, ba di tích còn sót lại, hai trong số đó nằm trong một tòa nhà do Domenico Fontana xây dựng vào năm 1589, đối diện Vương cung thánh đường Lateran. Những di tích này là Scala Sancta và Nhà nguyện Sancta Sanctorum.

Sử dụng hiện đại

Tập tin:03 Lateran Palace Interior.jpg
Bên trong cung điện Lateran

Điện Lateran vẫn nằm trong một khu vực ngoại ô, bao quanh bởi các khu vườn và vườn nho, cho đến khi Rome hiện đại phát triển vào cuối thế kỷ 19. Tuy nhiên, địa điểm này được coi là không lành mạnh khi đến mùa hè sốt rét của Rome. Vào cuối thế kỷ 17, Giáo hoàng Innocent XII đã cho xây dựng nhà tế bần dành cho trẻ mồ côi làm việc tại xưởng sản xuất lụa nhỏ tại một phần của điện Lateran. Vào thế kỷ 19, Giáo hoàng Gregory XVIPius IX thành lập một bảo tàng nghệ thuật tôn giáo và văn hóa ngoại giáo tại điện Lateran từ các phòng trưng bày của Vatican.

Năm 1925, Giáo hoàng Pius XI đã thành lập một bảo tàng dân tộc học dành riêng cho các hiện vật được các nhà truyền giáo gửi về. Vào ngày 11 tháng 2 năm 1929, Hiệp ước Lateran đã được ký kết tại đây, cuối cùng đã điều chỉnh mối quan hệ giữa Tòa thánh và Nhà nước Ý. Sắc lệnh này xác định rằng cả Vương cung thánh đường và Cung điện Lateran đều là tài sản ngoài lãnh thổ của Tòa thánh, hưởng các đặc quyền tương tự như các đại sứ quán nước ngoài trên đất Ý.[Notes 2]

Trong Thế chiến thứ hai, Lateran và các công trình liên quan đã trở thành nơi trú ẩn an toàn cho nhiều người Do Thái và những người tị nạn khác khỏi Đức Quốc xãPhát xít Ý. Trong số những người tìm được nơi trú ẩn có Alcide De Gasperi, Pietro Nenni, Ivanoe Bonomi và nhiều người khác. Các Nữ tu Bác ái Thánh Vincent de Paul và sáu mươi trẻ mồ côi tị nạn mà họ chăm sóc đã được lệnh rời khỏi tu viện trên đường Via Carlo Emanuele. Các Nữ Tu Maria Bambina, những người phụ trách nhà bếp tại Đại Chủng Viện Giáo Hoàng La Mã ở Lateran, đã hiến tặng một phần tu viện. Khuôn viên này cũng là nơi ở của những người lính Ý.[20]

Các cha Vincenzo FagioloPietro Palazzini, phó hiệu trưởng của chủng viện, đã được Yad Vashem ghi nhận vì những nỗ lực hỗ trợ người Do Thái.[21][22]

Trụ sở của Giáo phận Rôma

Giáo hoàng Gioan XXIII đã trả lại một số chức năng mục vụ cho cung điện bằng cách đặt trụ sở của Giáo phận Rôma và các văn phòng của Giáo phận Rôma tại đây. Ngài đã chuyển các bộ sưu tập của Bảo tàng Lateran về Vatican. Từ năm 1987, Cung điện Lateran là nơi đặt Bảo tàng Storico Vaticano, khai trương năm 1991 và minh họa lịch sử của Lãnh địa Giáo hoàng.

Vào ngày 27 tháng 7 năm 1993, một vụ nổ bom đã phá hủy mặt tiền của Giáo phận Rôma tại Vương cung thánh đường Thánh Gioan Latêranô. Vụ tấn công được cho là do Mafia Ý gây ra, một lời cảnh báo đối với những tuyên bố chống Mafia thường xuyên của Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Việc sửa chữa hoàn tất vào tháng 1 năm 1996.[4]

Cung điện là nơi đặt văn phòng của Giám quản Roma và nơi ở của Hồng y Đại diện.

Du khách có thể tham quan các căn hộ của Giáo hoàng, thường là vào buổi sáng.

Trong văn hóa đại chúng

Trong Assassin's Creed: Brotherhood (2010), Vương cung thánh đường của cung điện được mô tả như một công trình đổ nát, lưu giữ một cuộn giấy của Romulus.

Thư mục

Ghi chú

  1. ^ Vị trí địa lý: 25°43′7,46″B 32°39′26,64″Đ / 25,71667°B 32,65°Đ / 25.71667; 32.65000 (Lateranense_Karnak)
  2. ^ Vương cung thánh đường và cung điện, thuộc sở hữu của Tòa thánh (điều 13 của Hiệp ước Lateran), Lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2011 tại Wayback Machine "tạo thành một phần lãnh thổ của Nhà nước Ý (nhưng) được hưởng các quyền miễn trừ do Luật pháp quốc tế cấp cho trụ sở của các đại diện ngoại giao của các quốc gia nước ngoài" (điều 15 của Hiệp ước Lateran).

Tham khảo

  1. ^ Guida ai musei e alla Città del Vaticano. Ediz. inglese (bằng tiếng Ý). Edizioni Musei Vaticani. 1986. ISBN 978-88-86921-11-4. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013.
  2. ^ Constitution of Italy, article 7.
  3. ^ a b "Catholic Encyclopedia: Saint John Lateran". www.newadvent.org. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  4. ^ a b c Hager, June. "Churches of Rome: Christianity's First Cathedral", Inside the Vatican, February 1996
  5. ^ Kelly, John Norman Davidson (1986). The Oxford Dictionary of Popes (bằng tiếng Anh). Oxford University Press. tr. 26–27. ISBN 978-0-19-213964-1. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2023.
  6. ^ Kelly, John Norman Davidson (1986). The Oxford Dictionary of Popes (bằng tiếng Anh). Oxford University Press. tr. 26. ISBN 978-0-19-213964-1.
  7. ^ Peter Partner, Vùng đất Thánh Peter: Nhà nước Giáo hoàng thời Trung cổ và thời kỳ Phục hưng sớm (Nhà xuất bản Đại học California, 1972), trang 15.
  8. ^ a b c Thunø, Erik (2002). Image and Relic: Mediating the Sacred in Early Medieval Rome (bằng tiếng Anh). L'Erma di Bretschneider. ISBN 978-88-8265-217-3.
  9. ^ a b Gigliozzi, Maria Teresa (2011). I palazzi del papa : architettura e ideologia : il Duecento. Roma: Viella. tr. 64. ISBN 978-88-8334-588-3. OCLC 776986586.
  10. ^ Curzi, Gaetano (2016). "The Two Triclinia of Pope Leo III as 'Icons of Power'". IKON (bằng tiếng Anh). 9: 141–152. doi:10.1484/J.IKON.4.00012. ISSN 1846-8551.
  11. ^ a b c d e f g Dey, Hendrik (2021). The Making of Medieval Rome: A New Profile of the City, 400–1420 (bằng tiếng Anh). Cambridge University Press. ISBN 978-1-108-98569-7.
  12. ^ a b c d e f Gigliozzi, Maria Teresa (2011). I palazzi del papa : architettura e ideologia : il Duecento. Roma: Viella. tr. 65. ISBN 978-88-8334-588-3. OCLC 776986586.
  13. ^ MINNICH, Nelson H.; Pfeiffer, Heinrich W. (1981). "De Grassi's 'Conciliabulum' at Lateran V: The de Gargiis Woodcut of Lateran V Re-Examined". Archivum Historiae Pontificiae. 19: 147–172. ISSN 0066-6785. JSTOR 23563961.
  14. ^ Miller, Maureen C. (2000). The bishop's palace : architecture and authority in medieval Italy. Ithaca, NY: Cornell University Press. ISBN 978-1-5017-2820-4. OCLC 607470297.
  15. ^ a b c d Curzi, Gaetano (2016). "The Two Triclinia of Pope Leo III as 'Icons of Power'". IKON (bằng tiếng Anh). 9: 141–152. doi:10.1484/J.IKON.4.00012. ISSN 1846-8551.
  16. ^ Thunø, Erik (2015). The apse mosaic in early medieval Rome : time, network, and repetition. New York: Cambridge University Press. tr. 52. ISBN 978-1-316-32956-6. OCLC 908514994.
  17. ^ Horsch, Nadja (2020), Haynes, I. P.; Bosman, L.; Liverani, P. (biên tập), "The New Passion Relics at the Lateran, Fifteenth to Sixteenth Centuries: A Translocated Sacred Topography", The Basilica of Saint John Lateran to 1600, British School at Rome Studies, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 428–465, ISBN 978-1-108-83976-1, truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2022
  18. ^ Gigliozzi, Maria Teresa (2011). I palazzi del papa : architettura e ideologia : il Duecento. Roma: Viella. tr. 87. ISBN 978-88-8334-588-3. OCLC 776986586.
  19. ^ a b Ludwig von Pastor, Lịch sử các Giáo hoàng từ cuối thời Trung cổ, tập X, trang 616.
  20. ^ Marchione, Margherita (2001). Yours Is a Precious Witness: Memoirs of Jews and Catholics in Wartime Italy (bằng tiếng Anh). Paulist Press. ISBN 978-0-8091-4032-9.
  21. ^ "Palazzini". db.yadvashem.org. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  22. ^ "Yadvashem". Yadvashem. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.

Liên kết ngoài

Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).