Epinephelides armatus
| Epinephelides armatus | |
|---|---|
| Tập tin:Epinephelides armatus.jpg | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới: | Animalia |
| Ngành: | Chordata |
| Lớp: | Actinopterygii |
| Bộ: | Perciformes |
| Họ: | Anthiadidae |
| Chi: | Epinephelides Ogilby, 1899 |
| Loài: | E. armatus
|
| Danh pháp hai phần | |
| Epinephelides armatus (Castelnau, 1875) | |
| Các đồng nghĩa | |
| |
Epinephelides armatus là loài cá biển duy nhất thuộc chi Epinephelides trong họ Anthiadidae. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1875.
Từ nguyên
Tên gọi của chi được ghép bởi tên chi Epinephelus và hậu tố –oides (trong tiếng Latinh mang nghĩa là "tương tự"), hàm ý loài này có hình dạng như cá mú Epinephelus. Còn tính từ định danh armatus trong tiếng Latinh nghĩa là "mang vũ khí", hàm ý không được giải thích, nhưng có lẽ đề cập đến ngạnh cứng chắc ở góc sau của xương trước nắp mang loài cá này.[2]
Phân bố
E. armatus là loài đặc hữu của Tây Úc, từ quần đảo Recherche đến vịnh Shark. Loài này có thể được tìm thấy ở độ sâu đến ít nhất 100 m.[3]
Do có phạm vi phân bố tương đối nhỏ, trưởng thành chậm và bị đánh bắt bởi hoạt động câu cá giải trí nên E. armatus được xếp vào nhóm Loài sắp bị đe dọa (Sách đỏ IUCN năm 2004).
Mô tả
Chiều dài cơ thể lớn nhất được ghi nhận ở E. armatus là 56 cm.[4] Loài này có màu sắc rất đa dạng (vàng nâu, nâu lục, hoặc nâu xám) với một đốm đen đặc trưng quanh hậu môn.
Gai vây lưng: 10; Tia vây lưng: 20; Gai vây hậu môn: 3; Tia vây hậu môn: 7–8; Gai vây bụng: 1; Tia vây bụng: 5; Tia vây ngực: 15; Vảy đường bên: khoảng 70.[3]
Sinh thái
Không như như nhiều loài cá mú thực sự, E. armatus không thay đổi giới tính trong suốt cuộc đời của chúng. E. armatus thuần thục sinh dục khi được 4–5 năm và 6–7 năm, lần lượt tương ứng ở cá cái và cá đực. Thời kỳ sinh sản của E. armatus kéo dài khoảng 9 tháng.[5] Tuổi thọ cao nhất của loài này là khoảng 20 năm.[3]
Cá con (chiều dài < 10 cm) ẩn mình bằng cách bơi lộn ngược dưới trần hang hoặc gờ đá.[6]
Sử dụng
Đây là một loài quan trọng được nhắm đến trong hoạt động câu cá giải trí ở Tây Úc, đôi khi cũng xuất hiện trong hoạt động đánh bắt thương mại.[3]
Tham khảo
- ^ Cornish, A. (2004). "Epinephelides armatus". Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa. 2004: e.T44679A10923317. doi:10.2305/IUCN.UK.2004.RLTS.T44679A10923317.en. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
- ^ Christopher Scharpf (2026). "Order Perciformes (part 4)". The ETYFish Project.
- ^ a b c d Dianne J. Bray. "Breaksea Cod, Epinephelides armatus (Castelnau 1875)". Fishes of Australia. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
- ^ Ranier Froese và Daniel Pauly (chủ biên). Thông tin Epinephelides armatus trên FishBase. Phiên bản tháng 2 năm 2026.
- ^ Moore, S. E; Hesp, S. A.; Hall, N. G.; Potter, I. C. (2007). "Age and size compositions, growth and reproductive biology of the breaksea cod Epinephelides armatus, a gonochoristic serranid". Journal of Fish Biology. Quyển 71 số 5. tr. 1407–1429. doi:10.1111/j.1095-8649.2007.01614.x. ISSN 0022-1112.
- ^ Fairclough, D. V. (2016). "Similar cryptic behaviour during the early juvenile phase of two unrelated reef fishes: Epinephelides armatus and Bodianus frenchii". Marine and Freshwater Behaviour and Physiology. Quyển 49 số 2. tr. 109–117. doi:10.1080/10236244.2015.1125122. ISSN 1023-6244.
Lỗi Lua trong Mô_đun:Taxonbar tại dòng 141: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).