Garrick Ohlsson
Garrick Ohlsson năm 2010 | |
| Thông tin nghệ sĩ | |
| Sinh | 3 tháng 4, 1948 Bronxville, New York |
| Thể loại | Cổ điển |
| Nhạc cụ | Dương cầm |
| Website | garrickohlsson |
Garrick Olaf Ohlsson (sinh ngày 3 tháng 4 năm 1948) là một nghệ sĩ dương cầm cổ điển người Mỹ.[1] Năm 1970, Ohlsson trở thành người đầu tiên và cho đến nay là người duy nhất đến từ Hoa Kỳ giành được huy chương vàng tại Cuộc thi Piano Chopin Quốc tế lần thứ VIII.[2] Ông cũng đã giành giải nhất tại Cuộc thi piano quốc tế Ferrucino Busoni ở Bolzano, Ý,[3] và Cuộc thi Piano Montreal ở Canada. Ông được trao Giải thưởng Avery Fisher vào năm 1994[4] và Giải thưởng Nghệ sĩ xuất sắc của Hiệp hội Âm nhạc Đại học năm 1998 tại Ann Arbor, Michigan. Ohlsson cũng đã ba lần được đề cử cho giải Grammy và giành được một giải vào năm 2008.
Năm 2018, Ohlsson nhận được Huân chương Gloria Artis vì Công lao Văn hóa do Bộ Văn hóa và Di sản Quốc gia Ba Lan trao tặng tại Warszawa.[5]
Đầu đời
Garrick Ohlsson sinh ra tại Bronxville, New York và là con một của người cha gốc Thụy Điển Alvar Ohlsson, người di cư khỏi Thụy Điển sau Thế chiến thứ II, và người mẹ người Mỹ gốc Sicilia Paulyne (Rosta), sinh ra tại Thành phố New York. Ohlsson lớn lên ở White Plains, New York và bắt đầu học dương cầm chính thức tại Nhạc viện Westchester với Tom Lishman khi mới 8 tuổi.[6] Năm 13 tuổi, ông bắt đầu học với Sascha Gorodnitzki tại Trường Juilliard, và sau đó là với Rosina Lhévinne . Trong quá trình phát triển âm nhạc, ông đã chịu ảnh hưởng từ nhiều cách hoàn toàn khác nhau bởi một loạt các giáo viên lỗi lạc, đáng chú ý nhất là Claudio Arrau, Olga Barabini và Irma Wolpe.[7]
Mặc dù Ohlsson nổi tiếng với các màn trình diễn tác phẩm của Chopin, Mozart, Beethoven, Liszt và Schubert, nhưng phạm vi biểu diễn của ông rất đa dạng, trải dài từ Bach và Busoni cho đến Copland, Griffes, Debussy, Scriabin, Gershwin, Rachmaninoff và các nhà soạn nhạc đương đại mà đã viết các tác phẩm mới cho ông, chẳng hạn như Justin Dello Joio. Viết trên tờ The New York Times, nhà phê bình âm nhạc Allan Kozinn đã gọi vốn tiết mục của Ohlsson là "đồ sộ".[8] Tiết mục của ông bao gồm không dưới 80 bản hòa tấu. Ông cũng nổi tiếng với kích thước bàn tay lớn của mình (có thể chơi quáng 12 ở tay trái và quãng 11 ở tay phải).[9]
Sự nghiệp
Ohlsson đã biểu diễn ở Bắc Mỹ với các dàn nhạc giao hưởng của Atlanta, Charlotte, Cleveland, Philadelphia, Boston, St. Louis, Cincinnati, Minneapolis, Milwaukee, Indianapolis, Houston, Detroit, Baltimore, Pittsburgh, Los Angeles, Seattle, Denver, Washington, DC và Berkeley, cùng nhiều nơi khác, tại Trung tâm Nghệ thuật Quốc gia, với Dàn nhạc thính phòng St. Paul và với Dàn nhạc giao hưởng London tại Lincoln Center ở New York. Ông cũng đã đệm đàn cho nghệ sĩ vĩ cầm Hilary Hahn và giọng contralto Ewa Podles.[10]
Ohlsson là một nghệ sĩ nhạc thính phòng đã từng cộng tác với các nhóm tứ tấu đàn dây như Cleveland, Emerson, Takács và Tokyo, cùng nhiều nhóm khác. Trong những năm 2005–2006, ông đã lưu diễn cùng nhóm nhạc Tứ tấu Takács. Ngoài ra, ông cũng là thành viên sáng lập của nhóm tam tấu FOG Trio cùng với nghệ sĩ vĩ cầm Jorja Fleezanis và nghệ sĩ cello Michael Grebanier.[11]
Vào năm 2006–2007, ông đã biểu diễn buổi hòa nhạc khai mạc tại Lễ hội Mostly Mozart ở New York. Ngoài ra ông cũng đã biểu diễn tại BBC Proms cùng Dàn nhạc Budapest Festival .
Trong số các bản thu âm của mình, Ohlsson[12] đã thu âm toàn bộ tác phẩm âm nhạc của Chopin trên Hyperion Records – bao gồm toàn bộ bản nhạc dương cầm độc tấu, nhạc thính phòng, các tác phẩm dành cho dương cầm và dàn nhạc, cùng các bài hát . Năm 1989, ông đã thu âm bản Concerto cho dương cầm gồm năm chương của Busoni ở cung Đô trưởng, Op. 39 với Dàn nhạc Cleveland dưới sự chỉ huy của Christoph von Dohnányi.[13] Ông cũng đã thu âm toàn bộ 32 bản sonata cho dương cầm của Beethoven cho hãng Bridge Records.[14]
Sau khi đạt giải nhất của cuộc thi Chopin năm 1970, ông sớm xuất hiện với tư cách khách mời biểu diễn trong chương trình The Dick Cavett Show của đài truyền hình ABC vào ngày 25 tháng 2 năm 1971. Chương trình còn có sự tham gia của nam diễn viên/ca sĩ Sammy Davis Jr. và nữ diễn viên trẻ Anissa Jones trong bộ phim Family Affair.
Năm 2025, Ohlsson trở thành chủ tịch ban giám khảo của Cuộc thi Piano Quốc tế Chopin lần thứ XIX, trở thành người ngoài Ba Lan đầu tiên đảm nhiệm chức vụ này.[15]
Đời tư

Kể từ năm 1996, Garrick Ohlsson định cư ở San Francisco cùng chồng là nhà bảo tồn di tích lịch sử Robert Guter. Ông là thành viên của khoa Nhạc viện San Francisco.[16][17]
Giải thưởng
- Giải nhất, Cuộc thi Piano Quốc tế Ferruccio Busoni năm 1966, Bolzano
- Giải Nhất, Cuộc thi Piano Montreal năm 1968 [18]
- Giải Nhất, Cuộc thi Piano Quốc tế Chopin lần thứ VIII, Warsaw năm 1970
- Giải thưởng Avery Fisher, 1994
- Giải Grammy, 2008 [19]
- Giải thưởng Jean Gimbel Lane về biểu diễn piano, 2014, Đại học Northwestern
- Huy chương Gloria Artis vì Công lao đối với Văn hóa, 2018 [5]
- Giải thưởng Gramophone (với Takács Quartet), 2021 [20]
Danh sách đĩa nhạc
Ohlsson đã thu âm với các hãng sau:
- Arabesque Recordings
- RCA Red Seal
- Angel Records
- Bridge Records
- BMG
- Decca
- Delos International
- Hänssler Classic
- Hyperion Records – toàn bộ tác phẩm của Chopin
- Nonesuch Records
- Telarc
- EMI Classics
- Connoisseur Society
Tham khảo
- ^ "Garrick Ohlsson". Encyclopedia.com. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2014.
- ^ "VIII Competition — 1970". The International Chopin Competition. Bản gốc lưu trữ 15 tháng 3 2014. Truy cập 17 tháng 1 2014.
- ^ "List of Winners 1961-1970". International Busoni Competition. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2014.
- ^ "Winners". Avery Fisher Prize. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2014.
- ^ a b "Lista laureatów Medalu Zasłużony Kulturze Gloria Artis - Ministerstwo Kultury i Dziedzictwa Narodowego - Portal Gov.pl". Ministerstwo Kultury i Dziedzictwa Narodowego (bằng tiếng Ba Lan). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2024.
- ^ Stępień-Kutera, Kamila (2021). The Pianist, Conversations with Garrick Ohlsson (bằng tiếng Anh). Viện Fryderyk Chopin. tr. 16. ISBN 9788396120984.
- ^ Horowitz, Joseph (1992). Conversations with Arrau. Limelight Editions. tr. 333. ISBN 0879100133.
- ^ Kozinn, Allan (ngày 13 tháng 1 năm 2012). "Garrick Ohlsson, Chopin expert sets his sights on Liszt". The New York Times. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2014.
- ^ Dubal, David (1984). Reflections from the Keyboard. New York: Summit Books. tr. 253. ISBN 978-0-671-49240-3.
- ^ "Garrick Ohlsson- Bio, Albums, Pictures – Naxos Classical Music". Naxos.com. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2021.
- ^ "FOG Trio Artist Profile". St. Paul Sunday. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2014.
- ^ Jean-Pierre Thiollet, 88 notes pour piano solo, Neva Editions, 2015, « Solo nec plus ultra », p. 52. ISBN 978-2-3505-5192-0
- ^ "Garrick Ohlsson Discography". Allmusic. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2014.
- ^ "Marathon Men – Two Complete Beethoven Sonatas Projects to Achieve Completion during 2009 | Piano Street's Classical Piano News". Pianostreet.com. ngày 16 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2015.
- ^ Lech, Filip (ngày 5 tháng 9 năm 2025). "19th Chopin Competition, 2025: Meet the Jury". Culture.pl (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2025.
- ^ Oestreich, James R. (ngày 12 tháng 1 năm 2003). "MUSIC; Combining Brain and Brawn to Serve a Demanding Master". The New York Times.
- ^ "Artists on the Bench: This Week With Garrick Ohlsson". Sfcv.org. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2021.
- ^ Huot, Cécile. "Montreal International Music Competition/Concours international de musique de Montréal". Thecanadianencyclopedia.ca.
- ^ "Garrick Ohlsson". Grammy.com (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018.
- ^ "Gramophone Classical Music Awards 2021". Gramophone (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2024.
Liên kết ngoài
- Trang web chính thức của Garrick Ohlsson
- Garrick Ohlsson tại Opus3Artists
- David Dubal phỏng vấn Garrick Ohlsson trên YouTube , WNCN-FM, ngày 20 tháng 9 năm 1981
- W.F.E. Bach's Das Dreyblatt for 6 hands (performed hilariously by Alicia de Larrocha, Gina Bachauer and Ohlsson) trên YouTube
- Phỏng vấn Garrick Ohlsson, ngày 15 tháng 8 năm 1988